Vanvn- Nhà văn Lê Mậu Lâm sinh năm 1963, lớn lên và trưởng thành tại Khu Tập thể Đại học Tổng hợp phố Lò Đúc, Hà Nội. Ông tốt nghiệp cử nhân, cao cấp lý luận, là sĩ quan Chỉ huy tại Bộ Tham mưu Quân đoàn 2 (1984-1987), Sĩ quan Cao cấp Quân đội Nhân dân Việt Nam; từng là Phóng viên, Biên tập viên Cao cấp Báo Quân Đội Nhân Dân (1990-2005); Báo Nhân Dân (2005-2024 ); nguyên Phó vụ trưởng về Xây dựng Đảng; hiện đã nghỉ hưu, làm việc tại Hội Di sản Văn hóa Việt Nam ở Hà Nội.

Tác phẩm đã xuất bản: Lời ru đất Phù Cừ (Ký – NXB Lao Động 2002); Điểm tựa Thời Bình (NXB Lao Động 2004); Phố và quê (NXB Lao Động 2002); Tiếng vọng triền sông (NXB Văn học 2023); Giông bão mùa vàng (NXB Văn học 2025).
Giải thưởng: Giải C tại Cuộc vận động Sáng tác quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” năm 2011 do Ban Tuyên giáo T.Ư phát động; Giải A và B giải thưởng báo chí Quốc gia về Xây dựng Đảng mang tên “Búa Liềm Vàng” các năm 2021, 2022; cùng nhiều giải báo chí, văn học nghệ thuật của các tỉnh, thành phố và bộ, ngành từ năm 2011 đến năm 2024.
Quan niệm sáng tác: “Nhà văn luôn gắn mình, có trách nhiệm với thời đại. Văn học phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân”.
Nhà văn Lê Mậu Lâm được kết nạp Hội viên Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam 2025.
>> Truyện ngắn của hội viên mới Mạc Yên ở Cần Thơ
>> Thơ của hội viên mới Khương Thị Mến ở Hưng Yên
>> Thơ của hội viên mới Lê Sỹ Tùng ở Đồng Nai
>> Truyện ngắn hội viên mới Đoàn Thị Phương Nhung ở Hà Nội
>>Thơ của hội viên mới Vũ Tuấn ở Đồng Tháp
>> Thơ của hội viên mới Ngô Bá Hòa ở Lạng Sơn
>> Thơ của hội viên mới Vũ Mai Phong ở Hưng Yên
>> Thơ hội viên mới Phạm Phương Lan ở TP Hồ Chí Minh
>> Lý luận phê bình của hội viên mới Phạm Học ở Quảng Ninh
>> Truyện ngắn hội viên mới Phạm Phương Liên ở Hà Nội
>> Thơ của hội viên mới Phan Tùng Sơn ở TP Hồ Chí Minh
>> Truyện ngắn hội viên mới Sơn Trần ở Quảng Ngãi
>> Thơ hội viên mới Lê Việt Hùng ở Hải Phòng
>> Truyện ngắn hội viên mới Tiêu Đình ở Đà Nẵng
>> Truyện ngắn hội viên mới Nguyễn Kim Thanh ở Cần Thơ
>> Thơ hội viên mới Nguyễn Tiến Nên ở Quảng Trị
>> Truyện ngắn của hội viên mới Đặng Thùy Tiên ở Lai Châu
>> Thơ hội viên mới Phùng Trung Tập ở Hà Nội
>> Lý luận phê bình hội viên mới Đỗ Nguyên Thương ở Phú Thọ
>> Thơ hội viên mới Bùi Thúy ở TP Hồ Chí Minh
>> Thơ hội viên mới Trương Minh Hiếu ở Hải Phòng
>> Truyện ký hội viên mới Trương Thị Thương Huyền ở Hải Phòng
>> Thơ hội viên mới Đông Hà ở Huế
> Vanvn.vn giới thiệu tác giả tác phẩm hội viên mới 2025
Tổ quốc nơi đại dương
Vào tháng 4, Trường Sa biển lặng, sóng êm đềm bên mạn con tàu vượt biển lớn. Trên boong khách thả sức phóng tầm mắt về đường chân trời cảm nhận về sự bao la, kỳ vĩ của thềm lục địa, biển, đảo giàu tiềm năng của đất mẹ Việt Nam. Với ai một lần đến Trường Sa có niềm hạnh phúc được cảm nhận, có ý niệm rõ ràng về ‘Tố quốc trên đại dương”. Con tàu cập đảo, đoàn người cùng đứng lặng trước lá cờ Tổ quốc tung bay trong gió khơi xa, bồi hồi xúc động trước cột mốc chủ quyền và bài thơ “Nam quốc sơn hà…” khắc trên bệ đá lớn nơi đại dương.
Bản hùng ca bất diệt
Cuộc hành trình trên con tàu Hải quân ra tuyến đảo Trường Sa vào năm 2001 này là năm đầu tiên của thế kỷ 21, bắt đầu vào ngày đầu hạ . Chỉ huy Đoàn có Đại tá, Phó tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân Phạm Duy Tam. Ông là người Hải Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Từ thuở ấu thơ đến nay ồng vẫn gắn với biển. Tính cách của ông đâm chất biển cả, hồn hậu, hòa đồng cũng thật quyết đoán. Thờỉ đánh Mỹ ông là một thuyền trường của đoàn tàu không số huyền thoại.
Tháng 4-1975, Phạm Duy Tam người thuyền trưởng từng qua 7 lần được truy điệu sống, chỉ huy đoàn tàu cùng lực lượng đặc công giải phóng Trường Sa. Lúc này , đứng trên boong tàu ông chỉ cho anh em hướng quần đảo Hoàng Sa, đôi mắt đăm chiêu. Mọi người bên ông đều dâng trào cảm xúc riêng khó nói.
Trường Sa bộ đội ta đã xây dựng nên hệ thống hầm hào, nhà ở, kho trạm hoàn chình, khá bền vững. Trường Sa Lớn màu xanh bao phủ. Nhà ở khang ưang, có “đại lộ”, tạo cho đảo dáng dấp tiểu đô thị. Ở các đảo nổi, đảo chìm, hằng ngày bộ đội đều theo dõi chương trình đài Truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam.
Ra Trường Sa lớn, Đoàn chúng tôi được dự ngày hội lớn, kỷ niệm 26 năm ngày giải phóng quần đảo. Cảm nhận gì về người chiến sĩ Trường Sa hôm nay? Một anh bạn đồng nghiệp hỏi tôi? Xin thưa-Hơn hơn 1/4 thế kỷ qua đã có bao lớp cán bộ, chiến sĩ tình nguyện ra đảo, không chỉ trên báo đài, ở đây thêm một lần cảm nhận họ có chung niềm tin yêu Trường Sa thật mặn nồng.
Có văn công từ đất liền ra biểu diễn luôn là niềm khao khát, hân hoan của bộ đội Trường Sa. Tối ấy, tổ tuần tra của phân đội 2 là Tiến, Thuyên, Hải cùng trung úy Phạm Thế Nhưng quê Hải Hậu, thâm niên ở đảo, tình nguyên tuần tra để anh em chiến sĩ năm thứ nhất được xem văn công. Cùng họ trong đêm tuần tra, tiếng vỏ ốc, san hô vụn lạo xạo dưới bước chân người chiến sỹ. “Hai năm chung em đi dễ có 1000 vòng quanh đảo”-Tiến, quê thành phổ biển Hải Phòng tâm sự. Chúng tôi cùng ngồi nghỉ bên những cây gỗ lớn do sóng gió đưa trôi dạt chân cầu cảng. Anh em tâm sự: “Mới ra, mỗi buổi chiều thấy cô quạnh, nhớ nhà quay quắt. Không lâu thấy quen và yêu đảo. Ở đến hai năm khi sắp xuất ngũ anh em ước muốn khi về đất liền học một nghề gì đó, được trở lại Trường Sa, gắn bó với Trường Sa chinh phục và khai thác vùng biển khơi nơi đây.
Ở những đảo chìm, đảo nổi, nhà giàn, cán bộ, chiến sĩ thường có câu cửa miệng “Đảo là nhà, biển cả là quê. hương”, “còn người, còn đảo, còn nhà”. Có lẽ gian nan nhất là đời sống cùa cán bộ, chiến sĩ nhà giàn. Tại Ba Kè, cùng những con người tình nguyên làm nhiệm vụ, gắn bó với đảo xa có Trung úy Dương Văn Hoan. Năm 1998 anh chính là người sống sót trở về từ nhà giàn Phúc Nguyên. Anh kể về đồng đội mình ở nhà giàn Phúc Nguyên ngày ấy : “Tháng 12-1998, trong một đêm trăng sáng,” cơn’bão số 8 đổ về ngày càng mạnh. Sóng biển gầm thét dữ dội. Đến 4 giờ sáng tất cả giường tủ, rồi đến cả ngôi nhà bê tông sắt thép cao lớn cũng chao đảo. Tín hiệu cấp cứu liên tục được phát lên. Nhưng không nhanh bằng vận tốc gió. Cơn bão táp dữ dằn đã đánh bật tung, cuốn trôi cả ngôi nhà hàng trăm tấn.
Chính trong giờ phút hiểm hguy nhất, anh em đã được chứng kiến việc làm của chính trị viên Trần Hữu Quảng. Nhà bị sóng đánh bật tung rồi bị xô đẩy trong bão lớn. Vào khi tình huống nguy hiểm nhất anh đã nhường đồng đội chiếc phao cứu sinh cùng phong lương khô dự phòng cho chiến sĩ yếu nhất. Lê Đức Hồng, phụ trách đài thông tin, khi bị sóng quật vẫn kiên cường giữ vũng liên lạc với sở chỉ huy đến cùng. Trước lúc hy sinh còn thanh thản hô to “Em vinh việt các thủ trưởng”!… Sĩ quan trẻ Nguyễn Quáng Trung bám nhà giàn đến phút chót, để thụ thập tài liệu và cuốn lá cờ Tổ quốc vào lòng, rời nhà cuối cùng. Người liệt Sỹ này ra đi đề lại người vợ hiền và đứa con chưa kịp nhìn mặt bố… Hoan cùng 5 đồng đội khác lênh đênh 14 giờ đồng hồ liền trong đêm, mưa gió dập vùi, được đồng đôi đón trở về.
Trong câu chuyện ờ nhà giàn Ba Kè, hôm ấy anh em nói: “Nhờ các anh nhắn với đất liền, dù hiểm nguy đến mấy chúng tôi vẫn bám nhà, bám biển…”. Đến các đảọ Sinh Tồn, Song Tử Tây, Đá Nam, Trường Sa Lơn hay các nhà dàn DK1 luôn nghe được cầu nói binh dị: “ở đây, người còn thì biển, đảo con!’. Vâng, điều các anh nói là hiện thực. *Trường Sa với những câu chuyện đã và đang diễn ra. Trong bão táp, có người chỉ huy đã đầy chiếc phao cứu sinh duy nhất cho người đồng đội trẻ. Có người đảng viên Cuốn lá quốc kỳ quanh thân, vĩnh viễn hòa mình vào sóng biếc. Có nhũng người lính tự nguyện làm tấm bia, cột mốc sống bảo vệ chủ quyền biển,’đảo Tổ qụốc… Những người con đất Việt ở mỗi hòn đảo, nhà giàn, con tàu nơi đây đã và đang tạo liên lớp lớp lũy thép, củng cố và xây đắp chiều sâu phong thủ đất nước hướng ra biển. Trong mọi hoàn cảnh, biến cố quân đội ta luôn khẳng định ý chí, sức mạnh bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ vùng biển, vùng trời, thềm lục địa Tổ quốc.
Trường sa, ngàn xưa
Ở Trường Sa, mối hòn đảo, nhà giàn là một pháo đài, trạm cảnh giới vùng trời, vùng biền, thềm lục địa bao la của Tô quốc.
Nhiều đại biểu ra Trường Sa có chung câu hỏi: Liệu tổ tiên chúng ta có mặt nơi đây từ bao giờ? Trước ngày ra Trường Sa, tôi tìm gặp Viện trưởng Viện khảo cổ học Việt Nam giáo sư Hà Vẫn Tấn/chù nhiệm chương trình, dự án điều tra cơ bản khảo cổ học Trường Sa. Ông cho biết, với 10 năm điều tra khai quật, dự án đã đem lại thành công ngoài dự kiến. Những thành quả nghiên cứu của dự án được công bố, gây sự chú ý mạnh mẽ của giới khoa học, lịch sử và khảo cổ học trong nước và quốc tế. Xin khái lược một số kết quả điều tra từ báo cáo khoa học: Tại các điểm khai quật thuộc quần đảo Trường Sa, những hiện vật thu được hết sức đa dạng, phong, phú.
Trên đảo Nam Yết và Trường Sa Lớn, các nhà, khảo cổ đã phát hiện trong các hố khai quật dấu vết của bếp lửa và 331 hiên vật, trong đó có 24 mảnh gốm xám xốp. Hiện vật bằng đất nung chiếm tỉ lệ đáng kể, gây chú ý là các dạng đĩa, mũi ngói và con chì đá lớn. Với di tích, đồ sành sứ, các nhà khảo cổ đã thu được 60 hiện vật có nhiều kiểu dáng hoa văn trang trí trên các lon vại, bình, vò làm mịn chắc, màu đỏ hoặc xám đen với các họa tiết hoa văn sóng nước, khuông nhạc vặn thừng… Từ các đao Sơn Ca, Sinh Tôn, Song Tử, hiện vật thu được gồm đồ sành sứ, tô sứ hoa lam, sứ men màu như bát, cốc, chén, liễn, hũ với hàng trăm hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa… Đa số các hiện vật thu được đều rất gần gũi, đồng loạt với các di chỉ trong đất liền, vùng eo biển và các đảo, quần đảo, các khu vực xung quanh như Trà Kiệu, Xuân Giang (Hà Tĩnh), Đồng Nai, Biên Hòa, Gia Định. Thậm chí rất xa như các hiện vật gốm có cùng niên đại đồng loạt với gồm ở di chỉ Thạch Lăng (Vĩnh Phúc); Hợp Lễ (Hải Dương). Tất cả các hiện vật, di vật đó đã xác nhận chúng thuộc nền văn hóa viêt, thuộc về những tộc tổ tiên chúng ta đã và đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam hiện tại…
Đất nước vươn ra biển lớn
Một tín hiệu vui, gần đây các hoạt động thăm dò khai thác trên biển đông , vùng thềm lục địa Trường Sa trở nên “nhộn nhịp’’ hơn. Theo các anh ở Quân chủng Hải Quân, năm nay, mật độ tàu đánh cá xa bờ của ta ra Trường Sa gia tăng đáng kể. Tại đảo Thuyền Chài, một vựa cá, thuyền phó HQ960 Võ Tá Du, cho chúng tôi xem cuốn nhật ký tàu, ở chuyến thứ 23, mười ngày ưên biển, thủy thủ ta câu “chơi” cũng được hơn tấn cá, đủ loại, nhiều con nặng 50, 70kg đến hơn tạ. Đảo Đá Tây đang nhộn nhịp hoạt động của đội khảo sát củà Tổng công ty khai thác hải sản Biển Đông do kỹ sư Nguyễn Tiến Hiệp phụ trách. Ngày thứ 11 trên biển , các anh hoàn thành việc đo vẽ chi tiết vùng lòng hồ rộng 11km2. Ở Trường Sa có rất nhiều vùng hồ như thế, nhiều khu hồ rộng 30km tới 50km2 , bên các đảo chìm, đảo. nổi. Kỹ sư Hiệp bảo: Chúng tôi tin chắc không lâu nữa, Trường Sa sẽ phát triển nhũng khu hậu cần-dịch vụ nghề cá. Tất nhiên, còn phụ thuộc rất lớn vào sự đầu tư của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.
Trường Sa 2001, đã có thêm nhiều trạm nghiên cứu KHKT, khí tượng thủy văn, những cây đèn biển… Tâm sự với chúng tôi, các nhà khoa học, kinh tế biển ở Trường Sạ mơ có một sân bay, một “xa lộ” thông tin hỗ trợ cho công việc của họ.
Ngày con tàu chúng tôi đang ở vùng biển Trường Sa, một đêm trăng sáng, toàn tàu được thông tin: Ngày 7 -5 một công ty dầu Hàn Quổc đã thành công trong việc khoán thăm dò tại mỏ 15-1 ở ngoài khơi Vũng Tàu. Mỏ có trữ lượng 250 triệu thùng. Người phát ngôn của công ty cũng cho biết tiếp tục khoan khu vực xung quanh và có khả năng trữ lượng tối đa của mỏ này có thể lên tới 400 triệu thùng, dầu chất lượng cao, ít lưu huỳnh. Theo dự báo công bố của công ty từ năm 2003 đến 2005 sản lượng bình quân của mỏ này sẽ được tăng lên 100.000 thùng/ngày.
Công ty AAPG của Mỹ đánh giá mỏ có trữ lượng lớn vào hàng thứ 7 trong số các mỏ dầu đã phát hiện trong năm 2000 trên thế giới.
Cùng rất nhiều những thông tin mới nhất, cho người ta ngẫm ngợi về tiềm năng sự giàu có của hơn một triệu km2 thềm lục địa Tổ quốc, nghĩa là diện tích gấp khoảng ba lần đất liền. Thế ký 21 này nhân loại vươn ra đại dương. Từng quốc gia có thế mạnh tiềm năng biển và lục địa, một thế mạnh cạnh tranh quốc gia đã sớm hướng mạnh vào lợi thế này. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thành công đã đưa ra những quyết sách, chiến lược lớn đưa Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên mới. Việc, tiến mạnh ra biển, làm chủ vùng biển, thêm lục địa quốc gia là một mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế đất nước ở thế kỷ 21.
Hiện hữu ở Trường sá đang hứa hẹn tiềm năng lớn đa dạng trong khai thác chế biến hải sản ; phát triển ngành đóng tàu thuyền, vận tải; khai thác và chế biến dầu khí… Tuy nhiên các nhà chiến lược, khoa học, kinh tế biển cũng chỉ ra: Cần phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, hệ thống cảng biển để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩ các vùng khác. Họ có nhiều trăn trở và kỳ vọng, mog muốn đất nước sớm có những bước đi ngang tầm, đầu tư cho khoa học chuyên ngành với những viện nghiên cứu, có đội ngũ những nhà khoa học đủ mạnh về hải dương học, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liêu mới… nhằm nghiên cứu, sớm ứng dụng những thành tựu mới, để đất nước khai thác hiệu quả tiềm năng, Việt Nam trở thành Quốc gia mạnh về kinh tế biển ở thế kỷ 21.

Chữ tre phố cổ Hội An
Chữ tre người ta vẫn gọi nôm na như vậy, và càng chưa hề phân biệt đây chỉ là sản phẩm mỹ nghệ dành cho khách du lịch hay thú chơi của người phố cổ Hội An. Có điều chắc chắn tôi biết tre đất này vốn sẵn, nhưng để có những khúc tre làm mê say lòng người, phải tìm tre già, có dáng, lựa từng gióng, từng khúc, cạo lóp áo lụa, chùm rễ, tạo mắt, tạo vân lên bóng như sừng. Rồi người thợ lại dùng kỹ thuật ngâm tẩm trong vài tháng. Thế mới tạo nên những khúc, lũa tre làm cốt chữ bền đến cả trăm năm.
Đã có cốt chữ, đến lượt những nghệ nhân bằng con mắt, bàn tay lựa ra những lóng, những đốt tre thật tự nhiên, hoà hợp với khuôn chữ, hơn nữa là nghĩa chữ, hồn chữ. Việc khắc chữ, bắt đầu được viết trên giấy dó rồi mới can vào cốt tre để đục, khắc tạo chữ . Người tạo mẫu chữ trước hết phải là người viết chữ đẹp, rất khéo tay. Một trong những người làm việc này ở Hội An phải kể đến thầy Trữ ở phố Lê Lợi. Thầy thông thạo cả ba thứ tiếng Anh, Hoa, Pháp. Ôn hoà và lịch lãm, du khách vào hiệu còn thú vị khi được nghe thầy nói về ẩm thực xứ Quảng quê thầy. Chữ tre của thầy viết dạng thảo như có thần khí thổi, phả vào từng lóng tre, làm nên một nét văn hoá nơi phố cổ.
Điều bất ngờ người sáng tác ra chữ tre ở Hội An là một chàng trai trẻ của làng mộc cổ Kim Bồng. Anh là Lê Phước Tiến mới ngoài 30 tuổi. Anh đang làm chủ một xưởng tre, với 20 thợ và nghệ nhân ngày ngày làm việc. Từ ba cửa hiệu đầu tiên của Tiến, chữ tre phố cổ nay đã là nét phong lãm không thể thiếu của Hội An. Anh sáng tác ra chữ tre cũng bởi ham thư pháp, nhưng cũng nhờ đó mà người nghệ nhân này đã đại diện cho làng mộc cổ Kim Bồng, cho nghệ nhân đất Hội xứ Quảng biết thổi “Văn hoá Á Đông ” vào từng sản phẩm của mình, tạo sức sống mới cho làng nghề cổ.
Cần nói thêm rằng, người thợ trẻ tài hoa của phố cổ này được giao thiết kế và thi công chiếc cầu qua làng du lịch cẩm Thanh, Hội An. Đây là chiếc cầu độc đáo của dải đất miền Trung, làm hoàn toàn bằng gỗ kiền kiền và chò chỉ, dài 100 m, rộng 3,5m, ô tô du lịch có thể qua lại dễ dàng. Lê Phước Tiến cũng là chủ nhân của những bộ bàn ghế tre độc đáo ngắn dài các cỡ, mà không chỉ khách quốc tế mà du khách trong nước đặc biệt thích thú khi sử dụng nó. Phố ẩm thực của Hội An trong tương lai sẽ hoàn toàn chỉ dùng loại bàn ghế dung dị, mộc mạc mà hết sức tiện dụng này.
Tôi cùng anh bạn đồng nghiệp đã bỏ cả buổi, thậm chí nhiều buổi cắm rễ trong ngôi nhà cổ 53 phố Lê Lợi để xem làm chữ tre. Ở đây, chủ và khách lựa và chọn chơi chữ tre. Trên từng lóng tre, khúc tre chọn lựa kỹ càng người nghệ nhân khắc lên đó những ước nguyện, những điền căn cốt ở. đời cho mình, cho gia đình, bạn bè và con cháu. Cũng có khi là các chữ: Nhân, đức, hiếu, trung, tâm, phúc, lộc, thọ… cũng có khi là câu đối, là những áng thơ hay. Người chủ định chọn những chữ, câu mình tâm phúc.
Người chơi, cũng yên tâm chọn một khúc, một lóng chữ, có thể thầy chọn giúp để cầu phúc, để tâm niệm đem về gia đình tặng bạn bè. Đầu tiên chỉ là chữ sách thánh hiền, là thơ, là câu đối, nay chiều theo du khách, các nghệ nhân khắc tên người, khắc thơ, khắc biểu tượng lên cốt tre, gốc tre được chọn lựa, tạo dáng thật ẩn tình, sinh động, mang lại niềm hứng khởi cho du khách. Mặt hàng mỹ nghệ gắn với sở thích từng người này dẫu treo ở một góc riêng, trang trí trong phòng hay để nơi bàn làm việc vẫn gần gũi mà sang trọng. Không đơn thuần là một thú chơi, chữ tre phố Hội ra đời, phát triển vô tình làm sống dậy nghệ thuật thư pháp, vốn vắng bóng một thời nơi phố cổ Hội An.
Một trong những người duyên nợ với thư pháp là nghệ nhân chữ tre Lê Trữ. Ông viết theo lối thảo. Ngắm mà ngẫm ông viết ta bắt gặp những nét bay bướm, ánh ỏi như có thần của hai nhà đại thảo Trung Quốc là Trương Húc, Hoài Tổ, mà đượm cái tình của Liễu Công Quyền, Vương Hy Chi (những nhà thơ đồng thời là những nhà đại thư pháp của người Trung Quốc trước đây). Ngắm ông viết, nhìn đường thẳng của nét sổ, chấm đầu đạt như hạt chanh, chấm thuỷ như giọt nước mới biết ông phải bền bỉ, khổ luyện kỳ công để vượt qua cái đẹp của sự khéo tay. Thấy tôi nể phục, ông bảo mình còn xa, mà có lẽ chẳng bao giờ đạt tới trình độ ” phi bạch” – cát trắng bay lên. Nghĩa là, những chỗ không có mực trong nét chữ, khi cuộn bút lên trong như cọ làn gió thổi vậy. (Viết thư pháp đạt được như vậy giờ ở nước ta có lẽ chỉ có cụ Thanh Hoằng Khê, Lê Xuân Hoà – Hà Nội).
Còn nhớ trong lễ hội “Gặp gỡ 3 di sản văn hoá thế giới” tại các cửa hiệu số 6 Phan Bội Châu, 42 Trần Phú, cả ngàn khúc tre được du khách khuân hết veo. Trên phố tôi gặp chị Rie Nue, phóng viên của tạp chí Isara (Nhật Bản). Du lịch phố Hội món quà chị mang theo về xứ hoa anh đào là một đôi câu đối, và khúc tre tạc chữ “Tâm”. Trong câu chuyện với tôi, người phóng viên đã qua 40 nước trên thế giới này tâm sự: Tôi tìm chữ tre Hội An theo lời mách bảo của đông nghiệp, ở tỉnh Ishi Kawa có bảo tàng sản phẩm tre mà chưa có loại này. Tôi hỏi chị vậy đã tranh ghép tre, một loại hình, chất liệu mới do hoạ sỹ và nghệ nhân Việt Nam mới sáng tạo? Rie Nue lại ngỡ ngàng và thú nhận chưa có. Thế mới biết, với châu Á, hồn tre luôn có sức quyến rũ lạ lùng.
LÊ MẬU LÂM















