Vanvn- James Joyce (1882–1941) là nhà văn kiệt xuất người Ireland, một trong những đại diện vĩ đại nhất của chủ nghĩa hiện đại văn học thế kỷ XX. Sinh ra trong một gia đình Công giáo tại Dublin, phần lớn cuộc đời trưởng thành của ông lại là chuỗi ngày lưu vong, sống và viết tại các thành phố châu Âu như Trieste, Zurich và Paris. Dù xa xứ, Dublin vẫn luôn là bối cảnh trung tâm và là nguồn cảm hứng bất tận trong mọi tác phẩm của ông.

Sự nghiệp sáng tác của Joyce là một hành trình liên tục phá vỡ các giới hạn nghệ thuật:
– Người Dublin (1914): Tập truyện ngắn hiện thực sắc sảo, khắc họa sự bế tắc và “tê liệt” tinh thần của người dân thành phố quê hương.
– Chân dung một chàng trai trẻ (1916): Cuốn tiểu thuyết bán tự truyện, đánh dấu những thử nghiệm đầu tiên của ông với dòng tâm tư nhân vật.
– Ulysses (1922): Kiệt tác đỉnh cao tái hiện một ngày bình thường tại Dublin qua cấu trúc đồ sộ mô phỏng sử thi Odyssey. Cuốn sách gây chấn động văn đàn bởi sự táo bạo cả về nội dung lẫn hình thức.
– Finnegans Wake (1939): Tác phẩm cuối cùng, một “mê cung” ngôn từ thách thức mọi quy luật ngữ pháp và logic thông thường để tái hiện thế giới của những giấc mơ.
Giá trị của James Joyce đối với văn học thế giới nằm ở việc cách mạng hóa kỹ thuật viết tiểu thuyết. Ông là bậc thầy hoàn thiện bút pháp dòng tâm thức (hay dòng ý thức) (stream of consciousness), cho phép văn học thâm nhập sâu sắc vào những góc khuất hỗn độn, mơ hồ nhất trong tâm lý con người. Sự cách tân triệt để về ngôn ngữ và cấu trúc tự sự của Joyce đã đập tan các khuôn mẫu truyền thống, mở đường và định hình cho toàn bộ dòng chảy của văn học hiện đại và hậu hiện đại toàn cầu.
Truyện ngắn “A Painful Case” (Một trường hợp đau lòng) nằm trong tập Người Dublin mang giá trị hiện thực và nhân sinh sâu sắc. Qua nhân vật James Duffy – một người đàn ông sống cô độc, lý trí đến mức cực đoan, Joyce đã phơi bày đỉnh cao của sự “tê liệt tinh thần” (paralysis) – căn bệnh chung của xã hội Dublin thời bấy giờ.
Tác phẩm phê phán lối sống vị kỷ, nỗi sợ hãi sự gắn kết đã đẩy con người vào bi kịch tự giam cầm chính mình. Cái chết của bà Sinico và sự hối hận muộn màng của Duffy ở cuối truyện là lời cảnh tỉnh đầy ám ảnh về cái giá của sự thờ ơ: một cuộc sống cô độc tuyệt đối, bị gạt ra ngoài lề của dòng chảy tình cảm nhân loại.

Ông James Duffy sống ở Chapelizod vì ông muốn sống càng xa càng tốt cái thành phố mà ông là một công dân, và vì ông thấy tất cả những vùng ngoại ô khác của Dublin đều tầm thường, tân thời và tự phụ. Ông sống trong một ngôi nhà cũ kỹ, u ám; từ cửa sổ nhà mình, ông có thể nhìn vào một xưởng chưng cất rượu bỏ hoang hoặc nhìn ngược lên theo dòng sông cạn nơi thành phố Dublin được xây dựng nên. Những bức tường cao ngất trong căn phòng không trải thảm của ông chẳng hề treo một bức tranh nào. Ông đã tự tay mua từng món đồ đạc trong phòng: một chiếc khung giường sắt màu đen, một chiếc bồn rửa mặt bằng sắt, bốn chiếc ghế mây, một chiếc giá treo quần áo, một chiếc xô đựng than, một tấm chắn lò sưởi cùng bộ dụng cụ cào than bằng sắt, và một chiếc bàn hình vuông đặt một chiếc bàn viết đôi ở trên. Một tủ sách được tạo ra ngay hốc tường bằng những thanh gỗ màu trắng. Chiếc giường được trải tấm ga giường màu trắng và một tấm thảm màu đen xen lẫn đỏ tươi phủ ở phía cuối giường. Một chiếc gương cầm tay nhỏ treo phía trên giá rửa mặt, và suốt cả ngày, một chiếc đèn có chao màu trắng đứng đó như vật trang trí duy nhất trên bệ lò sưởi.
Các cuốn sách trên những kệ gỗ trắng được sắp xếp từ dưới lên trên theo kích cỡ. Một bộ toàn tập tác phẩm hoàn chỉnh của Wordsworth nằm ở một đầu của kệ thấp nhất, và một cuốn Sách giáo lý Maynooth, được khâu vào bìa vải của một cuốn sổ tay, nằm ở một đầu của kệ trên cùng. Dụng cụ viết lách lúc nào cũng có sẵn trên bàn. Trong bàn viết là một bản dịch viết tay vở kịch Michael Kramer của Hauptmann[1], với các chỉ dẫn sân khấu được viết bằng mực tím, và một xấp giấy nhỏ được ghim lại với nhau bằng một chiếc đinh ghim bằng đồng. Trên những tờ giấy này, thỉnh thoảng một câu văn lại được ghi lại, và trong một khoảnh khắc trớ trêu, tiêu đề của một mẩu quảng cáo thuốc nhuận tràng Bile Beans[2] đã được dán vào tờ đầu tiên. Khi nhấc nắp bàn viết lên, một mùi hương thoang thoảng thoát ra – mùi thơm của những chiếc bút chì gỗ tuyết tùng mới, hoặc của một chai hồ dán, hay của một quả táo quá lứa chín nẫu có lẽ đã bị bỏ quên ở đó từ lâu.
Ông Duffy ghê tởm bất cứ điều gì biểu hiện cho sự rối loạn về thể chất hay tinh thần. Một thầy thuốc thời trung cổ hẳn sẽ gọi ông là người có tính khí u uất, lầm lì. Khuôn mặt ông, nơi mang theo toàn bộ câu chuyện về tuổi tác của mình, có sắc nâu xám giống như những con phố ở Dublin. Trên cái đầu dài và khá lớn của ông mọc những sợi tóc đen, khô khốc, và một bộ ria mép màu vàng nâu không che khuất nổi khuôn miệng kém thân thiện. Đôi gò má cao cũng tạo cho khuôn mặt ông một nét khắc nghiệt; nhưng chẳng có sự khắc nghiệt nào trong đôi mắt – đôi mắt nhìn ra thế giới từ dưới đôi lông mày màu vàng nâu, tạo ấn tượng về một người đàn ông luôn cảnh giác để đón nhận một bản tính cứu rỗi ở người khác nhưng lại thường xuyên thất vọng. Ông sống tách biệt một chút với chính cơ thể mình, quan sát các hành vi của bản thân bằng một ánh nhìn nghi ngại từ bên cạnh. Ông có một thói quen tự truyện kỳ lạ: thỉnh thoảng lại tự nhẩm trong đầu một câu văn ngắn về chính mình, trong đó chủ ngữ ở ngôi thứ ba và vị ngữ ở thì quá khứ. Ông không bao giờ bố thí cho những người ăn xin và luôn bước đi vững chãi, tay cầm một cây gậy bằng gỗ phỉ chắc chắn.
Từ nhiều năm qua, ông là thủ quỹ của một ngân hàng tư nhân ở phố Baggot. Mỗi buổi sáng, ông đi xe điện từ Chapelizod vào trung tâm. Vào giữa trưa, ông đến quán Dan Burke và ăn trưa – một chai bia lager[3] cùng một khay nhỏ bánh quy bột củ dong riềng. Đến bốn giờ chiều, ông được tự do. Ông dùng bữa tối trong một quán ăn ở phố George, nơi ông cảm thấy mình an toàn trước tầng lớp thanh niên giàu sang, chải chuốt của Dublin, và là nơi có một sự thành thực, giản dị nhất định trong thực đơn. Những buổi tối của ông được dành để ngồi trước cây đàn piano của bà chủ nhà hoặc đi lang thang quanh vùng ngoại ô thành phố. Niềm yêu thích dành cho âm nhạc của Mozart đôi khi dẫn ông đến một buổi biểu diễn opera hoặc một buổi hòa nhạc: đó là những thú tiêu khiển duy nhất trong cuộc đời ông.
Ông không có bạn đồng hành cũng chẳng có bạn bè, không nhà thờ cũng không tín ngưỡng. Ông sống cuộc đời tâm linh của mình mà không hề có sự giao hảo nào với người khác, chỉ đến thăm họ hàng vào dịp Giáng sinh và tiễn đưa họ ra nghĩa trang khi họ qua đời. Ông thực hiện hai nghĩa vụ xã hội này vì chút thể diện xưa cũ chứ không nhượng bộ thêm bất cứ điều gì cho những quy ước vốn định hình đời sống công dân. Ông tự cho phép mình nghĩ rằng trong một số hoàn cảnh nhất định, ông sẽ cướp ngân hàng của chính mình; nhưng vì những hoàn cảnh đó chẳng bao giờ xảy ra, cuộc đời ông cứ thế bình lặng trôi qua – một câu chuyện không có chút phiêu lưu.
Một buổi tối, ông thấy mình ngồi cạnh hai người phụ nữ tại nhà hát Rotunda. Khán phòng thưa thớt người và im lặng, báo trước một sự thất bại thảm hại. Người phụ nữ ngồi cạnh ông nhìn quanh khán phòng vắng vẻ một hai lần rồi nói:
“Thật đáng tiếc làm sao khi tối nay vắng khách thế này! Thật là khổ cho những người phải hát cho những hàng ghế trống”.
Ông coi lời nhận xét đó như một lời mời trò chuyện. Ông ngạc nhiên khi thấy bà có vẻ chẳng chút ngượng ngùng. Trong lúc họ trò chuyện, ông cố gắng khắc ghi hình ảnh bà mãi mãi vào ký ức của mình. Khi biết cô gái trẻ ngồi bên cạnh là con gái bà, ông đoán bà kém mình khoảng một tuổi hoặc hơn. Khuôn mặt bà, hẳn đã từng rất xinh đẹp, vẫn giữ nét thông minh. Đó là một khuôn mặt trái xoan với những đường nét góc cạnh rõ ràng. Đôi mắt màu xanh lam rất thẫm và kiên định. Ánh nhìn của bà bắt đầu bằng một nét thách thức nhưng lại bị làm cho mờ đi bởi cái nhìn như thể sự chìm đắm có chủ ý của con ngươi vào mống mắt, hé lộ trong giây lát một tính khí rất nhạy cảm. Con ngươi nhanh chóng lấy lại vẻ tự chủ, bản tính vừa hé mở một nửa này lại rơi vào sự chế ngự của sự thận trọng, và chiếc áo khoác lông cừu astrakhan bó sát bộ ngực đầy đặn của bà càng làm nổi bật nét thách thức một cách rõ rệt hơn.
Ông gặp lại bà vài tuần sau đó tại một buổi hòa nhạc ở Earlsfort Terrace và đã tận dụng những khoảnh khắc khi sự chú ý của cô con gái bị phân tán để trở nên thân mật hơn. Bà có nhắc đến chồng mình một hai lần nhưng giọng điệu của bà không nhằm biến lời nhắc đó thành một sự cảnh báo. Tên bà là Sinico. Cụ cố nội tổ tiên đời thứ tư của chồng bà vốn từ Leghorn đến. Chồng bà là thuyền trưởng một con tàu thương mại chạy tuyến Dublin và Hà Lan; và họ có một người con.
Tình cờ gặp lại bà lần thứ ba, ông đã lấy hết can đảm để hẹn gặp. Bà đã đến. Đây là lần đầu tiên trong số rất nhiều cuộc gặp gỡ; họ luôn hẹn nhau vào buổi tối và chọn những khu vực yên tĩnh nhất để cùng nhau đi dạo. Tuy nhiên, ông Duffy vốn ghét lối hành xử lén lút, và khi thấy cả hai buộc phải gặp nhau một cách vụng trộm, ông đã ép bà phải mời ông đến nhà. Thuyền trưởng Sinico ủng hộ những chuyến viếng thăm này, vì nghĩ rằng ông Duffy đang có ý dạm hỏi con gái mình. Vị thuyền trưởng đã gạt vợ ra khỏi danh mục những thú vui của mình một cách dứt khoát đến mức ông ta chẳng mảy may nghi ngờ rằng sẽ có người khác quan tâm đến bà. Do người chồng thường xuyên đi vắng và cô con gái phải ra ngoài dạy nhạc, ông Duffy có nhiều cơ hội để tận hưởng sự bầu bạn của người phụ nữ này. Cả ông và bà đều chưa từng có một cuộc phiêu lưu nào như thế trước đây, và cả hai đều không nhận thấy bất kỳ sự bất hợp lý nào. Từng chút một, ông đan cài những suy nghĩ của mình vào suy nghĩ của bà. Ông cho bà mượn sách, cung cấp cho bà các ý tưởng, sẻ chia đời sống trí tuệ của mình với bà. Bà đã lắng nghe tất cả.
Đôi khi, để đáp lại những lý thuyết của ông, bà chia sẻ vài sự thật về cuộc đời mình. Với sự ân cần gần như của một người mẹ, bà thúc giục ông hãy mở lòng mình ra hoàn toàn: bà đã trở thành người lắng nghe những lời tự sự của ông. Ông kể với bà rằng có một thời gian ông đã tham gia các cuộc họp của Đảng Xã hội Ireland, nơi ông cảm thấy mình là một nhân vật độc nhất vô nhị giữa khoảng hai mươi người thợ thuyền nghiêm túc trong một căn gác mái được thắp sáng bởi một chiếc đèn dầu tù mù. Khi đảng này chia làm ba nhánh, mỗi nhánh có một người lãnh đạo riêng và họp ở một căn gác mái riêng, ông đã ngừng tham gia. Ông nói, các cuộc thảo luận của những người công nhân quá rụt rè; mối quan tâm của họ đối với vấn đề tiền lương là quá mức. Ông cảm thấy họ là những người theo chủ nghĩa hiện thực khắc khổ và họ oán ghét sự chuẩn xác vốn là sản phẩm của một sự nhàn hạ nằm ngoài tầm tay của họ. Ông bảo với bà rằng, sẽ chẳng có cuộc cách mạng xã hội nào có thể tấn công vào Dublin trong vài thế kỷ tới.
Bà hỏi ông tại sao không viết ra những suy nghĩ của mình. Để làm gì cơ chứ, ông hỏi lại bà với vẻ khinh miệt thận trọng. Để cạnh tranh với những kẻ chỉ biết nói suông, không thể suy nghĩ mạch lạc trong sáu mươi giây? Để chịu đựng những lời chỉ trích của tầng lớp trung lưu thiển cận, những người giao phó đạo đức của họ cho cảnh sát và nghệ thuật tinh tế của họ cho những nhà tổ chức sự kiện sao?
Ông thường xuyên đến ngôi nhà nhỏ của bà ở ngoại ô Dublin; họ thường dành những buổi tối riêng tư bên nhau. Từng chút một, khi những suy nghĩ đan cài vào nhau, họ nói về những chủ đề ít xa xôi hơn. Sự bầu bạn của bà giống như lớp đất ấm áp bao bọc lấy một thứ đất xa lạ. Nhiều lần bà để mặc bóng tối buông xuống quanh họ mà không chịu thắp đèn. Căn phòng tối tăm kín đáo, sự cô lập của họ, thứ âm nhạc vẫn còn vang vọng bên tai đã gắn kết họ lại. Sự gắn kết này làm ông thăng hoa, mài mòn đi những góc cạnh thô ráp trong tính cách của ông, và thổi cảm xúc vào đời sống tinh thần của ông. Đôi khi ông bắt gặp mình đang lắng nghe âm thanh nơi giọng nói của chính mình. Ông nghĩ rằng trong mắt bà, ông sẽ vươn lên tầm vóc của một thiên thần; và khi ông ngày càng gắn kết tâm hồn nhiệt thành của người bạn đồng hành với mình chặt chẽ hơn, ông lại nghe thấy tiếng nói xa lạ, vô cảm mà ông nhận ra là của chính mình, đang khăng khăng đòi hỏi sự cô độc bất trị của tâm hồn. Chúng ta không thể trao đi chính mình, tiếng nói ấy nói: chúng ta thuộc về chính chúng ta. Kết cục của những bài thuyết giáo này là vào một đêm, sau khi đã bộc lộ mọi dấu hiệu của sự phẫn khích khác thường, bà Sinico đã say đắm nắm lấy tay ông và ép chặt vào má mình.
Ông Duffy vô cùng ngạc nhiên. Cách bà hiểu những lời nói của ông đã khiến ông vỡ mộng. Ông không đến thăm bà suốt một tuần, sau đó viết thư hẹn gặp bà. Vì không muốn cuộc gặp gỡ cuối cùng của họ bị quấy rầy bởi sự đổ vỡ của nơi giãi bày tâm sự trước kia, họ đã gặp nhau tại một tiệm bánh nhỏ gần cổng công viên Parkgate. Tiết trời thu se lạnh, nhưng bất chấp cái lạnh, họ vẫn đi lang thang dọc theo những con đường trong công viên suốt gần ba tiếng đồng hồ. Họ đồng ý chấm dứt mối quan hệ: mọi sự gắn kết, ông nói, đều là sự ràng buộc dẫn đến đau khổ. Khi ra khỏi công viên, họ lẳng lặng đi về phía trạm xe điện; nhưng tại đây, bà bắt đầu run rẩy dữ dội đến mức, vì sợ bà lại suy sụp lần nữa, ông vội vã chào tạm biệt rồi bỏ đi. Vài ngày sau, ông nhận được một bưu kiện chứa sách và các bản nhạc của mình.
Bốn năm trôi qua. Ông Duffy trở lại với lối sống bình lặng trước đây. Căn phòng của ông vẫn là minh chứng cho tư duy ngăn nắp của chủ nhân. Vài bản nhạc mới nằm ngổn ngang trên giá nhạc ở căn phòng phía dưới, và trên kệ sách của ông xuất hiện hai tập sách của Nietzsche: Zarathustra Đã Nói Như Thế và Khoa Học Đồng Tính. Ông hiếm khi viết vào xấp giấy nằm trong bàn viết. Một trong những câu văn của ông, được viết hai tháng sau cuộc gặp cuối cùng với bà Sinico, có đoạn: Tình yêu giữa nam và nam là bất khả thi vì không được phép có quan hệ tình dục, và tình bạn giữa nam và nữ là bất khả thi vì kiểu gì cũng phải có quan hệ tình dục. Ông tránh xa các buổi hòa nhạc vì sợ gặp lại bà. Cha ông qua đời; người thành viên hợp danh cấp dưới của ngân hàng cũng nghỉ hưu. Và hằng sáng ông vẫn vào trung tâm thành phố bằng xe điện, hằng tối lại đi bộ từ thành phố về nhà sau khi đã dùng bữa vừa phải ở phố George và đọc tờ báo tối như một món tráng miệng.
Một buổi tối nọ, khi chuẩn bị đưa một miếng thịt bò muối kèm bắp cải vào miệng, tay ông chợt khựng lại. Mắt ông đổ dồn vào một đoạn tin trên tờ báo buổi tối mà ông đã kê dựa vào bình nước. Ông đặt miếng thức ăn trở lại đĩa và chăm chú đọc đoạn viết trên báo. Rồi ông uống một ly nước, đẩy đĩa thức ăn sang một bên, gập đôi tờ báo lại đặt trước mặt giữa hai khuỷu tay và đọc đi đọc đọc lại đoạn tin đó. Phần bắp cải bắt đầu đóng một lớp mỡ trắng lạnh ngắt trên đĩa. Cô phục vụ bước đến hỏi ông phải chăng bữa tối nấu không vừa ý. Ông bảo nó rất ngon rồi khó nhọc ăn thêm vài miếng. Sau đó ông thanh toán hóa đơn và bước ra ngoài.
Ông bước đi nhanh trong ánh chiều tà tháng Mười một, cây gậy bằng gỗ phỉ chắc chắn gõ đều đặn xuống mặt đất, rìa tờ báo Mail[4] màu vàng nhạt ló ra khỏi túi bên của chiếc áo khoác thủy thủ dày và bó sát. Trên con đường vắng vẻ dẫn từ cổng công viên Parkgate về Chapelizod, ông giảm dần tốc độ. Cây gậy của ông gõ xuống đất bớt dứt khoát hơn và hơi thở thở ra ngắt quãng, gần như hóa thành tiếng thở dài, ngưng tụ lại trong bầu không khí giá rét. Khi về đến nhà, ông lên ngay phòng ngủ của mình, rút tờ báo từ trong túi ra và đọc lại đoạn tin dưới ánh sáng đang mờ dần bên ô cửa sổ. Ông không đọc thành tiếng, mà mấp máy môi như một vị linh mục đang đọc lời cầu nguyện bí mật Secreto[5]. Đây là nội dung đoạn tin:
CÁI CHẾT CỦA MỘT QUÝ CÔ TẠI GA SYDNEY PARADE – MỘT TRƯỜNG HỢP ĐAU LÒNG
Hôm nay, tại Bệnh viện Thành phố Dublin, Phó Điều tra viên (thay mặt cho ông Leverett) đã tiến hành một cuộc điều tra pháp y đối với thi thể của bà Emily Sinico, bốn mươi ba tuổi, người đã tử vong tại ga Sydney Parade vào tối hôm qua. Các bằng chứng cho thấy người phụ nữ quá cố, trong lúc cố gắng băng qua đường ray, đã bị đầu máy của chuyến tàu chậm khởi hành lúc mười giờ từ Kingstown tông trúng, dẫn đến những chấn thương ở đầu và mạng sườn bên phải gây ra cái chết của bà.
James Lennon, lái tàu, khai rằng ông đã làm việc cho công ty đường sắt được mười lăm năm. Khi nghe tiếng còi của nhân viên bảo vệ tàu, ông đã cho tàu chuyển bánh và một hoặc hai giây sau đó đã phải cho tàu dừng lại vì nghe thấy những tiếng la hét lớn. Đoàn tàu lúc đó đang chạy chậm.
P. Dunne, nhân viên bốc xếp đường sắt, khai rằng khi đoàn tàu chuẩn bị khởi hành, ông quan sát thấy một người phụ nữ đang cố gắng băng qua các đường ray. Ông đã chạy về phía bà và hét lên, nhưng trước khi ông kịp tiếp cận, bà đã bị thanh chắn va đập của đầu máy tông trúng và ngã xuống đất.
Một bồi thẩm hỏi: “Anh có nhìn thấy người phụ nữ đó ngã xuống không?”
Nhân chứng trả lời: “Có”.
Trung sĩ cảnh sát Croly khai báo rằng khi ông đến nơi, ông thấy người quá cố nằm trên sân ga và có vẻ đã tử vong. Ông đã cho chuyển thi thể vào phòng chờ cho đến khi xe cứu thương đến.
Cảnh sát viên số hiệu 57 đã xác nhận lời khai trên.
Bác sĩ Halpin, trợ lý bác sĩ nội trú tại Bệnh viện Thành phố Dublin, cho biết người quá cố bị gãy hai xương sườn dưới và chịu nhiều vết bầm tím nghiêm trọng ở vai phải. Phần bên phải của đầu đã bị tổn thương do cú ngã. Những chấn thương này chưa đủ để gây ra cái chết ở một người bình thường. Theo ý kiến của ông, cái chết nhiều khả năng là do chấn thương tâm lý và suy tim đột ngột.
Ông H. B. Patterson Finlay, đại diện cho công ty đường sắt, đã bày tỏ sự tiếc nuối sâu sắc về vụ tai nạn. Công ty đã luôn thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa để ngăn người dân băng qua đường ray trừ khi đi bằng cầu vượt, vừa bằng cách đặt các biển báo ở mọi nhà ga, vừa bằng việc sử dụng các cổng chắn lò xo tự động tại các lối rẽ cắt ngang. Người quá cố vốn có thói quen băng qua các đường ray từ sân ga này sang sân ga khác vào đêm khuya, và xét đến một số tình tiết khác của vụ việc, ông không nghĩ rằng các nhân viên đường sắt phải chịu trách nhiệm.
Thuyền trưởng Sinico, trú tại Leoville, Sydney Parade, chồng của người quá cố, cũng ra làm chứng. Ông khai rằng người quá cố là vợ mình. Ông không có mặt ở Dublin vào thời điểm xảy ra tai nạn vì mới chỉ vừa từ Rotterdam trở về vào sáng hôm đó. Họ đã kết hôn được hai mươi hai năm và sống hạnh phúc cho đến khoảng hai năm trước, khi vợ ông bắt đầu khá thiếu tiết chế trong thói quen của bà[6].
Cô Mary Sinico cho biết thời gian gần đây mẹ cô thường có thói quen ra ngoài vào ban đêm để mua rượu mạnh. Cô, với tư cách nhân chứng, đã nhiều lần cố gắng khuyên nhủ mẹ mình và đã thuyết phục bà tham gia vào một Hội Bài trừ Rượu Bia[7]. Cô không có mặt ở nhà cho đến một giờ sau khi tai nạn xảy ra. Ban bồi thẩm đã đưa ra phán quyết phù hợp với bằng chứng y tế và miễn trừ mọi trách nhiệm cho Lennon.
Phó Điều tra viên nhận định đây là một trường hợp vô cùng đau lòng, đồng thời bày tỏ sự cảm thông sâu sắc tới Thuyền trưởng Sinico và con gái ông. Ông thúc giục công ty đường sắt cần có những biện pháp mạnh mẽ để ngăn ngừa khả năng xảy ra các tai nạn tương tự trong tương lai. Không ai bị quy trách nhiệm trong vụ việc này.
Ông Duffy ngước mắt lên khỏi tờ báo và nhìn ra ngoài cửa sổ, hướng về cảnh sắc ảm đạm của buổi chiều tà. Dòng sông nằm im lìm bên cạnh xưởng chưng cất rượu bỏ hoang, và thỉnh thoảng một ánh đèn lại lóe lên ở một ngôi nhà nào đó trên đường Lucan. Thật là một kết cục bi thảm! Toàn bộ câu chuyện về cái chết của bà khiến ông ghê tởm, và ông thấy lợm giọng khi nghĩ rằng mình đã từng nói với bà về những điều mà ông coi là thiêng liêng. Những cụm từ cũ rích sáo rỗng, những lời bày tỏ sự cảm thông vô nghĩa, những câu chữ thận trọng của một phóng viên bị mua chuộc để che giấu các chi tiết về một cái chết tầm thường, nhơ nhuốc đã khiến ông buồn nôn. Không chỉ tự bôi nhọ chính mình; bà còn bôi nhọ cả ông. Ông nhìn thấy vùng đất bẩn thỉu đầy tội lỗi trong thói hư tật xấu của bà, khốn khổ và hôi hám. Người bạn tâm giao của ông! Ông nghĩ đến những kẻ khốn cùng bước đi tập tễnh mà ông từng thấy, tay xách những chiếc bình và chai lọ để người pha chế rót đầy rượu. Lạy Chúa lòng lành, thật là một kết cục bi thảm! Rõ ràng bà là kẻ không xứng đáng để sống, không có chút ý chí kiên định nào, một con mồi dễ dàng cho các thói quen, một trong những mảnh đời vụn vỡ mà nền văn minh đã được dựng xây lên từ đó. Nhưng làm sao bà có thể sa ngã đến mức ấy! Chẳng lẽ ông đã hoàn toàn tự lừa dối mình về bà đến thế sao? Ông nhớ lại sự bộc phát của bà vào đêm hôm đó và diễn giải nó theo một nghĩa khắc nghiệt hơn tất cả những gì ông từng nghĩ. Giờ đây, ông không gặp khó khăn gì trong việc chấp thuận hướng đi mà mình đã chọn khi ấy.

Khi ánh sáng tắt hẳn và ký ức của ông bắt đầu xao động, ông ngỡ như tay bà đang chạm vào tay mình. Cú sốc ban đầu tấn công vào dạ dày khiến ông buồn nôn giờ đây đang tấn công vào các dây thần kinh của ông. Ông nhanh chóng mặc áo khoác, đội mũ rồi bước ra ngoài. Không khí lạnh buốt đón ông ngay nơi ngưỡng cửa; nó len lỏi vào trong tay áo khoác của ông. Khi đến quán rượu ở cầu Chapelizod, ông bước vào và gọi một ly rượu punch[8] nóng.
Người chủ quán khúm núm phục vụ ông nhưng không dám bắt chuyện. Có năm sáu người công nhân trong quán đang bàn tán về giá trị điền trang của một nhà quý tộc ở hạt Kildare. Thỉnh thoảng họ lại uống một ngụm từ những chiếc ly vại lớn của mình và hút thuốc, liên tục nhổ bọt xuống sàn, và đôi khi dùng đôi ủng nặng nề gạt lớp mùn cưa lấp lên những bãi nước bọt của mình. Ông Duffy ngồi trên chiếc ghế đẩu và đăm đăm nhìn họ, mà chẳng hề nhìn thấy hay nghe thấy họ. Một lúc sau, họ ra ngoài và ông gọi thêm một ly punch nữa. Ông ngồi rất lâu bên ly rượu đó. Quán rượu vô cùng yên tĩnh. Người chủ quán uể oải nằm dài trên quầy lễ tân đọc tờ báo Herald[9] và ngáp dài. Chốc chốc, người ta lại nghe thấy tiếng một chiếc xe điện chạy rin rít nhẹ dọc theo con đường vắng vẻ bên ngoài.
Khi ngồi đó, sống lại quãng đời bên bà và luân phiên gợi lại hai hình ảnh mà giờ đây ông hình dung về bà, ông nhận ra rằng bà đã chết, bà đã ngừng tồn tại, bà đã trở thành một ký ức. Ông bắt đầu cảm thấy bất an. Ông tự hỏi mình còn có thể làm gì khác được nữa. Ông không thể tiếp tục một vở hài kịch lừa dối với bà; ông cũng không thể sống chung với bà một cách công khai. Ông đã làm điều mà ông cho là tốt nhất. Sao có thể đổ lỗi cho ông được? Giờ đây khi bà đã ra đi, ông mới hiểu cuộc đời bà hẳn đã cô đơn đến nhường nào, hết đêm này qua đêm khác ngồi một mình trong căn phòng đó. Cuộc đời ông rồi cũng sẽ cô đơn như vậy cho đến khi chính ông, cũng thế, qua đời, ngừng tồn tại, trở thành một ký ức – nếu như có ai đó còn nhớ đến ông.
Đã hơn chín giờ khi ông rời khỏi quán rượu. Đêm tối lạnh lẽo và u ám. Ông bước vào công viên bằng lối cổng đầu tiên và đi dạo dưới những hàng cây khẳng khiu. Ông bước qua những lối đi ảm đạm, nơi họ đã từng cùng nhau đi dạo bốn năm trước. Bà dường như đang ở rất gần ông trong bóng tối. Có những khoảnh khắc ông ngỡ như cảm thấy giọng nói của bà chạm vào tai mình, bàn tay bà chạm vào tay ông. Ông đứng lặng đi để lắng nghe. Tại sao ông lại khước từ quyền được sống của bà? Tại sao ông lại kết án tử cho bà? Ông cảm thấy bản tính đạo đức của mình đang vỡ vụn ra từng mảnh.
Khi lên đến đỉnh đồi Magazine, ông dừng lại và nhìn dọc theo dòng sông về phía Dublin, nơi những ánh đèn đang tỏa sắc đỏ ấm áp và hiếu khách trong đêm đông lạnh giá. Ông nhìn xuống triền dốc, và ở phía dưới chân đồi, trong bóng tối của bức tường công viên, ông thấy vài bóng người đang nằm đó. Những cuộc tình mua bán và lén lút ấy khiến ông ngập tràn trong tuyệt vọng. Ông cắn rứt sự chính trực trong cuộc đời mình; ông cảm thấy mình đã bị gạt ra ngoài lề bữa tiệc của sự sống. Một con người duy nhất từng có vẻ như đã yêu ông, vậy mà ông lại khước từ sự sống và hạnh phúc của bà: ông đã phán quyết bà vào cảnh ô nhục, vào một cái chết đầy tủi hổ. Ông biết rằng những sinh linh đang nằm rạp dưới chân tường kia đang quan sát ông và muốn ông biến đi. Chẳng ai cần đến ông cả; ông là kẻ bị ruồng bỏ khỏi bữa tiệc của cuộc đời. Ông hướng mắt về phía dòng sông lấp lánh sắc xám, đang uốn lượn chảy về phía Dublin. Phía bên kia sông, ông thấy một đoàn tàu chở hàng đang chuyển bánh ra khỏi ga Kingsbridge, trông như một con sâu với cái đầu đỏ lửa đang bò qua bóng đêm, một cách kiên trì và nhọc nhằn. Nó từ từ khuất khỏi tầm mắt; nhưng bên tai ông vẫn vang lên tiếng gầm rú nặng nề của đầu máy, lặp đi lặp lại từng âm tiết trong tên của bà.
Ông quay trở lại con đường mình đã đi, nhịp điệu của đầu máy vẫn nện thình thịch trong tai. Ông bắt đầu hoài nghi về tính chân thực của những gì ký ức đang mách bảo. Ông dừng lại dưới một tán cây và để cho nhịp điệu ấy lịm dần đi. Ông không còn cảm thấy bà ở gần bên trong bóng tối, cũng không nghe thấy giọng nói của bà chạm vào tai mình nữa. Ông đợi thêm vài phút để lắng nghe. Ông không thể nghe thấy gì cả: màn đêm hoàn toàn tĩnh lặng. Ông lắng nghe một lần nữa: vẫn hoàn toàn tĩnh lặng. Ông cảm thấy rằng mình chỉ có một mình.
JAMES JOYCE
NGUYỄN VĂN CHIẾN dịch
Theo nguyên bản tiếng Anh
___________________________
[1] Gerhart Hauptmann (1862–1946): Nhà văn và nhà viết kịch người Đức đã đoạt giải Nobel Văn học năm 1912. (ND)
[2] Bile Beans: Một loại thuốc bổ thảo dược nhuận tràng được bán lần đầu tiên vào những năm 1890. Được phát minh vào những năm 1890, chúng được quảng cáo sai sự thật là một phương thuốc vạn năng của thổ dân Úc chữa được các chứng bệnh như khó tiêu, vàng da và mệt mỏi. Trên thực tế, chúng chỉ là một hỗn hợp đơn giản gồm vỏ cây cascara, đại hoàng, cam thảo và bạc hà. Mặc dù bị vạch trần là trò lừa đảo trong một vụ kiện tại tòa án Scotland năm 1905, chúng vẫn tồn tại trên thị trường cho đến giữa những năm 1980. (ND)
[3] Bia lager: Loại bia được lên men ở nhiệt độ thấp. Thuật ngữ này cũng có thể được sử dụng như một động từ để mô tả quá trình lên men lạnh. Bia lager có thể là pale, amber, hoặc dark. Bia pale lager là phong cách bia được tiêu thụ rộng rãi và lợi nhuận thương mại cao nhất. (ND)
[4] Mail: Có thể đây là tờ Dublin Evening Mail vì Ireland cũng từng có một ấn phẩm buổi tối nổi bật mang tên Dublin Evening Mail, hoạt động từ năm 1823 đến năm 1962. (ND)
[5] Lời cầu nguyện bí mật (từ tiếng Latinh Oratio secreta hoặc “lời cầu nguyện riêng biệt”): Đề cập đến những lời cầu nguyện được linh mục đọc thầm hoặc không nghe thấy trong các nghi lễ tôn giáo Công giáo, đặc biệt là Thánh Lễ.Trong tiếng Ý và thuật ngữ phụng vụ, điều này thường được mô tả là cầu nguyện sotto voce , nghĩa là “nói nhỏ”. (ND)
[6] Cụm từ “khá thiếu tiết chế trong thói quen của bà” được dùng như một uyển ngữ thời Victoria để chỉ sự thiếu tiết chế nghiêm trọng hoặc thói quen uống rượu mạnh không kiểm soát được. (ND)
[7] Hội Bài trừ rượu bia Ireland: Trong nguyên bản tiếng Anh viết “League”. Theo người dịch thì đây có thể là “The Irish Temperance League”. Tổ chức đấu tranh chống uống rượu bia này được thành lập vào những năm 1850 như một tổ chức Cơ đốc giáo chủ trương lối sống không rượu bia và ma túy. Trong lịch sử, tổ chức này đã thành lập các quán cà phê và quán trà như những lựa chọn thay thế cho các quán rượu. Phong trào bài trừ rượu và chống rượu ở Ireland trải dài từ những lời thề kiêng rượu theo tôn giáo thế kỷ 19 đến các hoạt động vận động vì sức khỏe cộng đồng hiện đại. (ND)
[8] Punch: Loại thức uống pha trộn (cocktail) bao gồm rượu mạnh (thường là rượu rum), nước ép trái cây hoặc cam quýt, đường, nước và các loại gia vị. Thức uống này thường được pha chế trong những chiếc bình hoặc bát lớn để phục vụ cho các bữa tiệc đông người. (ND)
[9] Tờ Herald: Tờ báo khổ lớn của Scotland được thành lập vào năm 1783. Đây là tờ báo quốc gia lâu đời nhất trên thế giới và là tờ báo hàng ngày lâu đời thứ tám trên thế giới. Tên gọi được đơn giản hóa từ The Glasgow Herald vào năm 1992. (ND)















