Trong gia đình du kích – Bút ký của Nguyễn Minh Ngọc

Vanvn- Định nghĩa về du kích, Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam(1) khái quát: “Lực lượng vũ trang quần chúng được huấn luyện chiến thuật du kích để bảo vệ địa phương và tác chiến trong vùng địch… Trong kháng chiến chống Mỹ, du kích phát triển mạnh ở các vùng nông thôn miền Nam Việt Nam và phối hợp đánh địch với nhiều lực lượng khác tạo thành thế trận chiến tranh nhân dân…”. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã có hành khúc “Du kích ca” thôi thúc và khích lệ quần chúng cách mạng “Xung phong! Xung phong! Nhắm quân thù xông tới…”, chiến đấu giải phóng quê hương.

Trên cái nền phổ quát ấy, hoàn cảnh ra đời của du kích miền Nam nói chung, của Sài Gòn – Gia Định nói riêng và đặc biệt là vùng đất Củ Chi, có gì khác lạ?

Chiếm lĩnh xe bọc thép M113

Ngược dòng thời gian, sau cuộc chiến Đông Dương hao người tốn của, nước Pháp bị lâm vào tình thế kẹt và suy yếu. Ủ mưu từ lâu, nên ngay sau Hiệp định Genève, người Mỹ tìm cách đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn, hất cẳng Bảo Đại, hòng độc chiếm và biến Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới.

Không hiệp thương, cũng chẳng tổng tuyển cử. Nguy cơ đất nước bị chia cắt lâu dài đã hiện hữu. Từ đây, cách mạng miền Nam gặp muôn vàn gian truân, thử thách. Trong thời kỳ đen tối, những người yêu nước và kháng chiến cũ bị khủng bố trong các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”… Đau thương, uất hận bao trùm, nhất là các vùng nông thôn rộng lớn ở miền Đông Nam bộ.

Sự đời, tức nước, vỡ bờ!

Đã đến lúc không thể nói chuyện với kẻ thù tàn bạo bằng lời, dứt khoát phải đáp trả bằng bạo lực cách mạng! Ý chí và khát vọng ấy được nung nấu ngày một chín muồi. Trước sự bức xúc của quần chúng, nhiều địa phương đề nghị cấp trên cho phép vũ trang chống địch. Lòng yêu nước đã thúc đẩy sự “xé rào” táo bạo, quyết không thụ động để mặc cho Mỹ – Diệm làm mưa, làm gió.

Tình thế buộc những người cách mạng đứng trước sự lựa chọn sinh tử. Dẫu chưa được phép, song do nhu cầu bức thiết cần phải hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, đặc biệt là bảo vệ cán bộ, đảng viên khỏi bị kẻ thù sát hại, một số chi bộ Đảng ở Củ Chi đã bí mật tổ chức tự vệ vũ trang dưới hình thức các đội chống trộm cướp. Những tráng đinh và thanh niên chí cốt được lựa chọn, với dao rựa, gậy tầm vông, dây trói… xuất hiện ở các điểm nóng. Đây là sự manh nha hình thành nên các tổ, đội du kích về sau. Lẻ tẻ một số nơi đã xuất hiện các vụ diệt ác, trừ phản động, khiến kẻ địch không dám lộng hành.

Hai liệt sĩ du kích Lê Thị Son (phải) và Võ Thị Lựu

Kế thừa truyền thống quật cường của Nam kỳ khởi nghĩa (1940), Củ Chi là nơi có lực lượng tự vệ vũ trang sớm nhất ở vùng ven Sài Gòn – Gia Định. Từ kinh nghiệm một số nghĩa quân Nam kỳ lui về đào hầm ẩn tránh có hiệu quả, đến thời kháng Pháp, địa phương phát triển thành các hầm bí mật và địa đạo ngắn. Những năm 60, toàn huyện hình thành một hệ thống địa đạo chằng chịt dưới lòng đất.

Nhưng phải đợi Nghị quyết 15 của Đảng thổi bùng ngọn lửa đấu tranh, khơi dậy những tiềm năng cách mạng lâu nay bị dồn nén, khai thông sự bế tắc về đường lối trong tư tưởng của cán bộ, đảng viên kiên trung. Sau ngày Bến Tre đồng khởi, Củ Chi phát động toàn dân nổi dậy: “Diệt ác, phá kềm, rạt tề, giải phóng nông thôn”. Nhiều tổ, đội du kích được lập, thúc đẩy phong trào tự tạo vũ khí đánh giặc.

Nằm về phía bắc Củ Chi, xã Phú Mỹ Hưng (nay thuộc xã An Nhơn Tây, Thành phố Hồ Chí Minh) có vị trí chiến lược đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ. Trên địa bàn xã có mật khu Hố Bò, căn cứ của Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Khu Sài Gòn – Gia Định. Từ nơi này, Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Khu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng ở Sài Gòn – Gia Định và các tỉnh miền Đông Nam bộ.

Phú Mỹ Hưng, một xã có phong trào du kích phát triển mạnh của Củ Chi, là cái nôi nuôi dưỡng, chắp cánh cho các nữ du kích chiến đấu và trở thành dũng sĩ. Năm 1963, sau khi cách mạng lập thêm xã An Phú, thì Phú Mỹ Hưng còn 4 ấp: Phú Hoà, Phú Hiệp, Phú Lợi, Phú Thuận.

Tại ấp Phú Hòa, có một gia đình nông dân rất nghèo. Người cha là Võ Văn Chương, người mẹ là Ngô Thị Thấy. Nhà đông con, nhưng chỉ nuôi được ba chị em Võ Thị Lê, Võ Thị Lựu, Võ Thị Tiệp, thảy đều theo cách mạng.

Cha mất sớm, mẹ đi bước nữa, hai chị Lê và Lựu ở cùng ông bà nội. Bấy giờ, ấp Phú Hoà đã có một tiểu đội du kích, khởi đầu gồm những người bà con thân thuộc và tin cậy. Họ tự nguyện cầm súng đánh giặc, người trước dìu dắt người sau, chứ không qua lớp lang bài bản gì. Đó là các chị Lựu, Tiệp và Lê Thị Son… Ấp đội trưởng du kích Nguyễn Văn Chuồi là chồng chị Võ Thị Lê. Vừa tham gia chiến đấu, vừa tích cực hoạt động đoàn thể, chị Lựu làm Chi hội trưởng Chi hội phụ nữ ấp Phú Hòa. Các việc, từ đào địa đạo, làm hầm chông, hố đinh, rồi đi tải thương, tải đạn… chị không chút nề hà.

17 tuổi, chị Võ Thị Lựu được kết nạp vào Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam. Đến năm 1966, là Ấp đội phó du kích, chị tham gia nhiều trận chống càn, trong đó nổi bật là trận dùng mìn gạt hạ gục 1 chiếc xe tăng M41 của Mỹ(2). Và chị Lựu trở thành “Dũng sĩ diệt xe tăng”. Ở một số trận khác, chị phối hợp diệt 7 tên địch, và được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”. Chiến công của du kích ấp Phú Hoà luôn có sự dẫn dắt của chú Nguyễn Văn Bực (Năm Bực) một người lớn tuổi thạo địa hình. Nhờ vậy, du kích Phú Hoà “nở nồi” đánh tiêu hao sinh lực địch, góp phần bảo vệ xóm làng. Một lần chống càn, du kích dùng đạn AT bắn hỏng xích chiếc xe M113, khiến lính Mỹ bỏ xe tháo chạy. Ta thu chiếc xe gần như nguyên vẹn, kể cả vũ khí.

Du kích ấp Phú Hoà chiếm lĩnh chiếc xe bọc thép này. Một cán bộ tuyên huấn Quân khu Sài Gòn – Gia Định (T4) đã kịp thời bấm máy, ghi lại khoảnh khắc lịch sử của những người du kích, trong đó có hai chị em ruột Võ Thị Lựu và Võ Thị Tiệp khăn rằn vắt vai, tay cầm súng, chân đạp lên chiếc xe M113. Tấm ảnh trở thành một trong những biểu tượng sinh động của chiến tranh nhân dân thắng Mỹ.

Sớm được trui rèn trong lửa đạn, dũng cảm chiến đấu, Võ Thị Tiệp đoạt danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt xe tăng” … Tháng 9.1967, chị là đại biểu trẻ nhất của T4 được cử đi dự Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ 2. Đón nhận Huân chương Chiến công hạng Ba, chị Tiệp được chụp hình với bà Nguyễn Thị Định, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam.

Nhà thơ Hoài Vũ, tác giả của những thi phẩm nổi tiếng như: “Vàm Cỏ Đông”, “Anh ở đầu sông, em cuối sông”, “Đi trong hương tràm”… cũng có mặt dự Đại hội. Nghe báo cáo thành tích và gặp dũng sĩ Võ Thị Tiệp, ông rất ấn tượng. Xúc cảm mạnh mẽ đã khiến ông viết nên truyện ngắn “Gái thời chiến” rất sinh động, lấy cuộc đời chị Tiệp làm nguyên mẫu, nhân vật trong truyện có tên là Thiệp. Năm 2020, tập truyện ngắn “Gái thời chiến” của Hoài Vũ gồm 17 truyện do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành, ra mắt đọc.

Cùng trong tháng 9.1967, Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trao tặng danh hiệu “Đất thép Thành đồng” cho quân và dân Củ Chi. Võ Thị Tiệp có mặt cùng đồng đội đón nhận vinh dự này.

Từ sau cuộc tổng công kích xuân Mậu Thân 1968, Mỹ và quân đội Sài Gòn tăng cường bố ráp và càn quét rất khốc liệt. Ở vùng ven đô, chúng tổ chức nhiều cuộc hành quân “tát nước bắt cá”, nhằm đánh bật cách mạng ra khỏi dân. Tình thế hết sức nan giải.

Vào một đêm tối trời, tổ du kích ấp Phú Hoà do Ấp đội trưởng Nguyễn Văn Chuồi dẫn đầu được phân công về xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng (nay thuộc phường An Tịnh, tỉnh Tây Ninh) bám dân, gầy dựng cơ sở và tìm nguồn lương thực. Tuy nhiên, do địch kiểm soát gắt mấu, nên cả tổ không thể lấy được gạo. Trước lúc rút, anh Chuồi phân công Tiệp (em vợ) ở lại tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Chị xếp lựu đạn và giấy tờ vào thùng đại liên rồi đem chôn giấu. Sáng hôm sau, bất ngờ một đơn vị biệt kích Mỹ ập vào khu vực ấy. Tụi lính tản ra đào công sự chiến đấu, một toán khui trúng chỗ đất vùi lấp hãy còn mới nguyên. Chúng đào lôi lên một thùng sắt và cẩn trọng mở nắp. Bên trong có một trái lựu đạn da láng và một số tài liệu, lính Mỹ tìm thấy tấm ảnh cô gái trẻ đứng cạnh người phụ nữ có gương mặt tròn trịa sáng láng, vai choàng khăn rằn. Lính địa phương quân cho biết người trong ảnh là bà Nguyễn Thị Định, chỉ huy Quân giải phóng miền Nam với một nữ du kích.

Liền đó, lính Mỹ dồn hết tất cả đàn bà, con gái trong ấp lại săm soi và đối chiếu từng người để nhận diện. Và không khó để chúng phát hiện ra Tiệp. Dầu

vậy, chị nhanh trí nhận người trong ảnh là chị ruột (hai chị em giống nhau), còn mình đi làm ăn tình cờ có mặt. Tất nhiên, kẻ địch không tin. Sau đòn khảo tra tại chỗ, không khai thác được gì, chúng trói chị đem vứt lên trực thăng chở về giam trong căn cứ Đồng Dù, rồi chuyển đến Trảng Bàng, đưa sang Hậu Nghĩa…

Mặc dù bị địch đánh đập tàn bạo, nhưng chị Tiệp vẫn cắn răng chịu đựng. Liếc thấy bìa hồ sơ có ghi hai chữ “Tình nghi”, hiểu chuyện, chị liền khai tên là Võ Thị Trong (Sáu Trong). Và chúng hỏi gì chị cũng lắc đầu. Tra khảo chán không xong, kẻ địch bèn đổi chiêu, khen chị trẻ, đẹp… Là đảng viên nắm nhiều bí mật, chị hiểu lãnh đạo lo lắng biết nhường nào. Nhân có má vào thăm, chị lén cắt một món tóc gửi về, để chi uỷ ở nhà yên tâm. Sau cả tháng trời, không đủ chứng cứ buộc tội, địch buộc phải thả người. Chị hoạt động, rồi lại bị chúng bắt.

Nhờ sự mưu trí, linh hoạt và sáng tạo, năm 1969, chị được điều về làm Trợ lý Tham mưu Huyện đội, nắm lực lượng du kích mật Củ Chi. Quá trình bám dân, chị biết nhiều quy luật hoạt động của địch. Tại một quán ăn ở ấp Trung Hòa, tụi lính Mỹ cùng một số tên tay sai thường hay tụ tập nhậu nhẹt. Sau khi điều nghiên, cấp trên quyết định cho đánh. Quả mìn tự tạo của chị khiến 15 tên chết và bị thương. Đây là đòn cảnh cáo đanh thép đối với tụi ác ôn quanh vùng, góp phần phá thế kềm kẹp. Trận này, Võ Thị Tiệp được Huyện đội tặng bằng khen.

Sau ba lần bị địch bắt và tra tấn dã man, cánh tay trái bị nứt xương, chị Tiệp buộc dây treo nơi cổ để hoạt động. Mỗi khi có cơ hội diệt ác, chị lại quên cả nỗi đau nhức nhối đang hành hạ, để lên phương án báo cấp trên phê duyệt. Do không được chữa trị kịp thời, vết thương bị nhiễm trùng nặng. Tháng 4-1972, Huyện đội trưởng Nguyễn Văn Ga (Bảy Ga), ra lệnh cho Tiệp đi chữa trị gấp. Để che mắt địch, trong hồ sơ nộp Bệnh viện Bình Dân (Sài Gòn) chị khai đi làm rẫy, bị té…

Bác sĩ Lê Kính, người trực tiếp phẫu thuật ngó qua bệnh nhân là hiểu ngay, song ông giữ im lặng. Bị cắt cụt cánh tay trái, lúc tỉnh lại, chị Tiệp choáng và sốc nặng, bước đi cà niễng vì quá đau đớn. Chưa bao giờ chị lại có những giây phút vật vã thể xác và dày vò về tâm tư như vậy. Tiệp có phần bi quan khi nghĩ về tương lai của mình. Còn lại một cánh tay, rồi ra công tác thế nào và đời tư sẽ sao đây? Tuy nhiên, ý chí và nghị lực của người đảng viên đã giúp chị vượt lên. Và chỉ vài ngày sau, chị xin xuất viện, về lại quê nhà hoạt động. Từ đây, bên cạnh cái tên mới Võ Thị Trong, đồng đội còn gọi chị bằng biệt danh thân thương: “Út một tay”.

Nữ thương binh Võ Thị Trong (Tiệp, Sáu Trong)

Từ lớp tập huấn quân sự ở Quân khu T4 trở về, nữ thương binh Võ Thị Trong được Huyện đội tín nhiệm cử làm Đội trưởng Đội nữ du kích Củ Chi. Việc đầu tiên khi nắm Đội, chị lo củng cố tổ chức và thống nhất chỉ huy, xây dựng các phương án tác chiến độc lập. Toàn đội đánh hàng chục trận, tổ chức diệt ác phá kềm, hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh chính trị trên địa bàn huyện.

Sau ngày đất nước thống nhất, một nách hai đứa con thơ, chồng làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, chị vẫn miệt mài học tập. Trong vòng 4 năm, chị hoàn thành chương trình phổ thông trung học. Đến năm 1984, chị nghỉ mất sức…

Đánh giặc giỏi, làm lụng và vén khéo. Đó là những phẩm chất ngời sáng của các nữ du kích Củ Chi, hôm qua và hôm nay. Đứng trước hoàn cảnh hết sức gieo neo, nhưng chị Sáu Trong quyết không cam phận đói nghèo. Chị can đảm, bấm chí. Mạnh dạn vay vốn của bạn bè, chị mướn một khoảnh đất làm mô hình VAC.

Vừa tần tảo nuôi heo, chị vừa trồng rau, rồi đào ao thả cá. Ban ngày, chị bươn bả kiếm thức ăn cho đàn heo. Tối đến, chị đốt đèn một mình kiên trì đào đất, lật cỏ.

Với nghị lực phi thường, chị Sáu Trong đã biến khu đất cỏ cây rậm rạp thành một trang trại nhỏ. Nhờ tháo vát, biết dành dụm và căn cơ, làm ăn có kế hoạch, kinh tế gia đình chị ngày một trở nên khấm khá. Đến khi người bạn đời được nghỉ hưu, anh chị hợp sức mở rộng quy mô chăn nuôi, trồng rau, trồng cây cảnh… phát triển kinh tế gia đình. Bằng vào sức lao động của chính mình, chị “Út một tay” đã tạo dựng nên một cơ ngơi bề thế, khang trang, khiến bao người lành lặn phải trầm trồ, thán phục. Con gái lớn học xong Đại học Kinh tế, con trai tốt nghiệp Đại học Sư phạm.

Hiện nay, chị Võ Thị Trong là thương binh loại A, thương tật 2/4, tỷ lệ 75%. Sau nhiều năm miệt mài công tác, chị không tham gia cấp uỷ và tổ dân phố nữa, nhưng vẫn có chân trong Ban liên lạc Đội nữ du kích Củ Chi. Năm nào, chị Sáu Trong cũng dành 100 triệu đồng trao học bổng cho các cháu học sinh nghèo, vượt khó, học giỏi; nhận làm “Mẹ đỡ đầu” cho một số cháu nhỏ mồ côi. Và chị luôn đi đầu trong các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” và quyên góp ủng hộ quỹ “Vì người nghèo”, quỹ “Vì Trường sa”…

***

Cùng ngụ ấp Phú Hòa, cạnh nhà chị Võ Thị Lựu là gia đình người cô ruột, có ba chị em gái Lê Thị Son, Lê Thị Rỗi (Bảy Rỗi) và Lê Thị Riêng. Khi nhận công tác bí mật ở xã An Phú (bên cạnh), chị Rỗi đổi sang họ Trần, để dễ bề hoạt động. Má của chị Son là chị ruột của ba chị Lựu. Hai chị cùng tuổi Đinh Hợi (1947), trong quan hệ gia đình, họ là chị em con cô, con cậu.

Trước những tổn thất và sự biến động về lực lượng, cấp trên điều động chị Trần Thị Rỗi, Xã đội phó xã An Phú về làm Đội trưởng Đội nữ du kích Củ Chi. Đây là người Đội trưởng thứ ba. Tiếp đến Võ Thị Trong, người em con cậu ruột của chị Rỗi. Các chị đều là những những chỉ huy gan dạ, quả cảm.

Là một trong những nữ du kích đầu tiên của ấp Phú Hoà, chị Lê Thị Son xông xáo chiến đấu, đồng thời, chị vận động được nhiều mẹ, nhiều phụ nữ tham

gia đấu tranh chính trị. Cùng du kích ấp đánh nhiều trận, chị Son trở thành “Dũng sĩ diệt Mỹ”. Đặc biệt, hai chị Son và Lựu luôn sát cánh bên nhau đánh giặc.

Sau hai cuộc hành quân Crimp (Cái bẫy) và Cedar Falls “bóc vỏ trái đất” vào Củ Chi bị thất bại, quân Mỹ và tay sai vẫn tiếp tục dấn sâu vào tội ác, chà xát hòng băm nát địa bàn căn cứ đầu não. Tuy nhỏ hơn về quy mô, song những cuộc càn này không vì thế mà kém phần ác liệt.

Nhà văn Nguyễn Minh Ngọc (Tác giả bài viết)

Ngày 10.11.1967, lính Mỹ càn quét ở xã Phú Mỹ Hưng, hai chị Võ Thị Lựu và Lê Thị Son cùng du kích ấp Phú Hoà di chuyển dưới chiến hào, kiên cường chặn đánh địch. Từ nhiều hướng, được sự yểm trợ của xe tăng và máy bay, bộ binh Mỹ ào ạt dàn trận. Cậy hoả lực mạnh, chúng tha hồ vãi đạn. Trên trời, bầy trực thăng vũ trang HU-1A quần đảo, rà thấp bắn xối xả xuống trận địa du kích. Ở mũi xung yếu, các chị Lựu và Son sử dụng súng “bá đỏ” 3 1 và lựu đạn, kiên quyết đánh trả, khiến lính Mỹ phải chùn bước. Cả hai nữ du kích đứng bắn trong chiến hào và cùng trúng loạt đạn của trực thăng Mỹ. Sau trận càn, đồng đội đau xót tìm thấy hai chị Lựu và Son hy sinh trong tư thế tay vẫn ghì chặt khẩu súng!

Ngã xuống ở tuổi 20, lứa tuổi đẹp nhất của người con gái, hai chị Võ Thị Lựu và Lê Thị Son đều chưa kịp lập gia đình. Họ yên nghỉ trong Nghĩa trang Liệt sĩ Củ Chi. Giữ bát hương cho chị Son là người em ruột, Lê Thị Riêng. Còn với chị Lựu thì do Nguyễn Văn Đì (con chị Võ Thị Lê) cháu gọi bằng dì ruột phụng thờ. Trên ban thờ hai nhà đều chỉ bày một tấm hình chụp chung của hai chị Lựu, Son lúc sinh thời.

Trải qua hai cuộc kháng chiến, Phú Mỹ Hưng có 48 “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, 1 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND). Toàn xã có 555 liệt sĩ, 170 thương binh và 369 người có công với cách mạng.

Ngày 6.11.1978, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Lệnh số 101/LCT, tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND cho dân quân, du kích xã Phú Mỹ Hưng. 40 năm sau, tại Quyết định số 623/QĐ-CTN, ngày 26.4.2018, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho Đội nữ du kích Củ Chi.

Trong thành tích và chiến công ấy, có sự đóng góp xứng đáng của du kích ấp Phú Hoà, sự hy sinh oanh liệt của các chị Võ Thị Lựu, Lê Thị Son; cùng hàng chục liệt sĩ, thương binh khác.

NGUYỄN MINH NGỌC

————————————

Tài liệu tham khảo:

1. Từ điển BKQS Việt Nam, Nxb QĐND, H.2004, tr.307.

2. Chiếc xe tăng M41 hiện trưng bày tại Khu di tích đền Bến Dược.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *