Điện Biên, người lính không về – Ký của Thu Hiền

Vanvn- Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia A1 có sáu trăm bốn mươi bốn ngôi mộ, phần lớn bia mộ trong số đó đều ghi chưa xác định được danh tính. Nhưng đây chưa phải là tất cả. Trên đất Điện Biên anh hùng còn có biết bao nghĩa trang liệt sĩ nữa, chỉ cách đấy không xa là Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Độc Lập cũng có hơn hai ngàn bốn trăm ngôi mộ. Chỉ với hai nghĩa trang liệt sĩ đấy thôi ta cũng đủ thấy xương máu của các thế hệ cha ông đã đổ xuống trong lòng chảo Mường Thanh này nhiều biết nhường nào, có khi còn nhiều hơn nước sông Nậm Rốm mùa nước về.

Vì vậy, những phần xương thịt tìm được để đưa vào các nghĩa trang liệt sĩ đã là một niềm an ủi phần nào. Bởi lẽ ngoài kia, trên khắp chiến trường Điện Biên, còn có biết bao liệt sĩ khác mà máu xương đã hòa vào lòng đất mẹ, chẳng thể nào tìm thấy để đưa về. Dường như thấu hiểu nỗi đau ấy, bên cạnh đồi A1, tỉnh Điện Biên đã xây dựng một Đền thờ chung để làm nơi ghi nhớ, tri ân và tưởng niệm tất cả các liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập của Tổ quốc trên chiến trường Điện Biên Phủ.

Nhà tưởng niệm Nghĩa trang liệt sỹ A1 được xây dựng theo cấu trúc hình chữ A với 644 cánh hoa tượng trưng cho 644 anh linh liệt sĩ. Ảnh Báo Thanh Hóa

“Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”, câu thơ của Tố Hữu đã khái quát trọn vẹn về một hành trình kháng chiến “ba nghìn ngày” bền bỉ của dân tộc ta. Đó là một chặng đường đầy khó khăn, bất chấp mọi gian khổ: “khoét núi ngủ hầm”, “mưa dầm, cơm vắt”, “máu trộn bùn non” với một ý chí “gan không núng”, “chí không mòn” để quyết tâm làm nên một chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” và bảo vệ thành công nền độc lập non trẻ của dân tộc, mở đầu cho bản hùng ca thời đại Hồ Chí Minh.

Bảy mươi hai năm đã trôi qua, những vết tích của cuộc chiến ngày ấy giờ đã xanh màu cỏ mới nhưng hồn thiêng sông núi và khí phách của Điện Biên năm nào vẫn còn vẹn nguyên trong từng tấc đất miền Tây Bắc. Hôm nay, sau một quãng đường dài, đi qua bao núi cao trập trùng để trở lại với chiến trường năm xưa, đứng trong nghĩa trang dưới chân đồi A1, giữa không gian thoang thoảng trầm hương, trước bao nhiêu nấm mồ có ghi đầy đủ tên tuổi cũng như những nấm mồ còn chưa xác định được danh tính, chúng tôi như nghe thấy trong tiếng gió đại ngàn vọng về bản hùng ca bất tử với những thanh âm sâu lắng, bồi hồi, xúc động.

Đến nghĩa trang liệt sĩ dưới chân đồi A1, chúng tôi dâng hương và viếng mộ các anh hùng đã hy sinh trên chiến trường Điện Biên. Đứng trước anh linh các liệt sĩ Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Trần Can …, những người đã trở thành huyền thoại lịch sử, từng khắc sâu vào trong ký ức của tôi từ những ngày còn ngồi trên ghế ở trường tiểu học, nên giờ đây lòng không khỏi nghẹn ngào. Trong nhạt nhòa khói hương, trước mắt tôi đâu đó như đang hiện lên một chiến trường ngày xưa đầy gian khó và vô cùng khốc liệt. Kìa những dáng ai như bộ đội, dân công hỏa tuyến đang hò dô kéo pháo trên những non cao trơn trượt, chênh vênh giữa mưa rừng gió núi khiến Tô Vĩnh Diện phải lấy thân chèn pháo cho khỏi lao xuống vực.

Cũng chẳng hay, gió ngàn đang thét gào hay chính ký ức về những làn mưa đạn mạnh như vũ bão, ào ào tuôn ra từ các lỗ châu mai của quân thù đã làm sống lại hình ảnh một Bế Văn Đàn hiến thân làm giá súng, một Phan Đình Giót đang lao lên dùng ngực chặn lỗ châu mai cho đồng đội xông lên công đồn diệt giặc. Và giữa trập trùng hầm hào, lô cốt, hố bom …tôi lại thấy hiện ra một Trần Can dũng cảm đang nhặt lại lựu đạn của kẻ thù để ném trả bọn chúng rồi cùng đồng đội quyết liệt xông lên cắm lá cờ “Quyết chiến Quyết thắng” của Bác Hồ trao tặng lên lô cốt cố thủ tại cứ điểm Him Lam, đánh dấu khoảnh khắc chiến thắng đầu tiên của bộ đội ta tung bay trên cứ điểm của giặc Pháp tại chiến trường Điện Biên.

Phần lớn các phần mộ liệt sĩ đều chưa xác định được tên tuổi. Ảnh Báo Thanh Hóa

Tôi vẫn nhớ như in, hình ảnh Đại tướng Henri Navarre trong một bộ phim về chiến trận Điện Biên nào đó đã từng rất tự tin nói rằng, Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với ba phân khu Bắc, Trung, Nam gồm bốn mươi chín cứ điểm, được huy động toàn bộ lính dù và bốn mươi phần trăm lực lượng cơ động tinh nhuệ nhất của Pháp ở Đông Dương cùng hệ thống hỏa lực mặt đất rất mạnh; hai tiểu đoàn pháo 105 mm, một đại đội pháo 155 mm, một đại đội súng cối 120 mm được bố trí ở Mường Thanh, Hồng Cúm; hai sân bay (Mường Thanh và Hồng Cúm) với gần một trăm lần, chiếc lên chiếc xuống để vận chuyển từ hai trăm đến ba trăm tấn hàng cùng một trăm đến một trăm năm mươi lính trận mỗi ngày sẽ là một “pháo đài bất khả xâm phạm”. Thậm chí có lúc người Pháp còn kiêu ngạo gọi đây là một cái “cối xay thịt” được thiết kế để nghiền nát mọi tham vọng độc lập của Việt Minh.

Tôi chưa quên, ngày ấy, không chỉ người Pháp mà cả người Mỹ cũng rất tự tin về sức mạnh sắt thép và công nghệ của phương Tây. Bởi vậy mà chúng đã coi lòng chảo Điện Biên là một canh bạc cuối cùng giăng ra để cho đội quân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trắng tay. Chính Christian de Castries đã hênh hoang và tự phụ cho máy bay rải các tờ thư khiêu khích với những lời thách thức quân đội ta tấn công vào Điện Biên Phủ rất ngông cuồng: “ … Mời Đại tướng đến, tôi chờ Đại tướng”.

Tôi nghĩ, với hệ thống hầm hào kiên cố và các loại thiết bị chiến tranh tối tân của phương Tây chuẩn bị ở Điện Biên Phủ thì niềm tin đó của người Pháp không phải không có cơ sở. Nhưng tôi cũng biết, họ đã hoàn toàn mù quáng trước sức mạnh của một dân tộc đã từng thề “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, cho nên người Pháp sẽ phải nhận thảm bại đau đớn là điều không tránh khỏi.

Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia A1 có sáu trăm bốn mươi bốn ngôi mộ, phần lớn bia mộ trong số đó đều ghi chưa xác định được danh tính. Nhưng đây chưa phải là tất cả. Trên đất Điện Biên anh hùng còn có biết bao nghĩa trang liệt sĩ nữa, chỉ cách đấy không xa là Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Độc Lập cũng có hơn hai ngàn bốn trăm ngôi mộ. Chỉ với hai nghĩa trang liệt sĩ đấy thôi ta cũng đủ thấy xương máu của các thế hệ cha ông đã đổ xuống trong lòng chảo Mường Thanh này nhiều biết nhường nào, có khi còn nhiều hơn nước sông Nậm Rốm mùa nước về.

Vì vậy, những phần xương thịt tìm được để đưa vào các nghĩa trang liệt sĩ đã là một niềm an ủi phần nào. Bởi lẽ ngoài kia, trên khắp chiến trường Điện Biên, còn có biết bao liệt sĩ khác mà máu xương đã hòa vào lòng đất mẹ, chẳng thể nào tìm thấy để đưa về. Dường như thấu hiểu nỗi đau ấy, bên cạnh đồi A1, tỉnh Điện Biên đã xây dựng một Đền thờ chung để làm nơi ghi nhớ, tri ân và tưởng niệm tất cả các liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập của Tổ quốc trên chiến trường Điện Biên Phủ.

Đền thờ liệt sĩ tại Chiến trường Điện Biên Phủ nằm trên đồi F, ngọn đồi từng chứng kiến những trận đánh ác liệt của các chiến sĩ Điện Biên năm xưa. Nhìn từ trên cao, ngôi đền linh thiêng này hiện lên bề thế và rất trang nghiêm, giống như một công viên xanh mát, tĩnh lặng giữa lòng chảo Mường Thanh. Toàn bộ đền thờ được thiết kế trên một trục tâm linh chạy dọc từ chân đồi lên đến đỉnh đồi. Nhìn tổng thể, tôi thấy khối quần thể kiến trúc này gồm có năm lớp không gian.

Lớp đầu tiên nằm dưới chân đồi, giống như một quảng trường với rất nhiều cây xanh, tựa như lớp ngoài của khu công viên. Lớp thứ hai là không gian đệm, chuyển tiếp từ lớp bên ngoài đi vào khu trung tâm. Lớp thứ ba giống như trung tâm khu công viên. Đây là không gian tưởng niệm. Ở phần thiết kế này, các nhà thiết kế đã tạo hình các đồi đất hướng vào mặt hồ nước ở giữa. Phần lõi của mặt nước có đường dẫn xuống sân tưởng niệm, được tạo hình bằng các phiến đá xếp vòng cung giống như các bia mộ liệt sĩ. Đồng thời trong không gian này có năm mươi sáu cây đèn tạo thành hình ngôi sao vàng năm cánh vừa thể hiện cho quãng thời gian bão lửa của chiến dịch Điện Biên vừa tượng trưng cho các nén nhang tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ. Lớp thứ tư lại là không gian đệm, chuyển tiếp từ sân tưởng niệm vào đền thờ. Lớp thứ năm là đền thờ chính. Bố cục đền được làm theo kiểu chữ Đinh, giống như thiết kế thường thấy ở các ngôi đình Việt truyền thống.

Hậu cung của đền vươn cao lên so với nhà Tiền tế, hai bên có Tả vu và Hữu vu. Từ dưới đi lên đến đền chính, chúng tôi bước trên một trăm chín mươi chín bậc đá và đi qua nhiều vườn hoa tiểu cảnh rất đẹp. Ngắm nhìn toàn cảnh tôi thấy đây quả là một ngôi đền tầm cỡ, xứng đáng để tri ân các anh hùng liệt sĩ trên chiến trường Điện Biên. Ngôi đền được làm trong khoảng hơn một năm và khánh thành vào dịp kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ năm 2022. Vậy là, sau sáu mươi tám năm, các anh hùng liệt sĩ hy sinh trên chiến trường Điện Biên mới có một ngôi nhà chung – một sự tri ân dẫu có phần muộn màng nhưng cũng thực sự xúc động, khiến bất cứ ai đặt chân đến đây đều nghẹn ngào và tự hào khôn xiết.

Tác giả Thu Hiền tại Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia A1

Thành kính dâng hương tại Đền thờ các anh hùng liệt sĩ trên chiến trường Điện Biên xong chúng tôi di chuyển sang di tích lịch sử đồi A1 để thăm lại chiến trường xưa. Hơn bảy mươi năm, cây cỏ hoa lá đã phủ xanh ngọn đồi nhưng dấu tích của ba mươi chín ngày đêm giao tranh ác liệt dường như vẫn còn nguyên vẹn. Có lẽ, ngọn đồi này là nơi “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” nhất trên chiến trường Điện Biên. Không kể thương binh, đồi A1 có đến hơn hai ngàn năm trăm liệt sĩ đã dâng hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân của mình và vĩnh viễn nằm lại nơi này.

Bước đi trên đồi A1, tôi lại nghĩ đến Thành cổ Quảng Trị. Dưới mỗi lớp cỏ xanh trên mặt đồi kia hẳn là vẫn còn đó biết bao linh hồn liệt sĩ vẫn chưa được quy tập về các nghĩa trang hay chưa được trở về với quê hương, gia đình bên những người thân. Nghĩ thế tôi chợt nhận ra, nếu chiến dịch Điện Biên Phủ là bản anh hùng ca của thế kỷ XX thì những trận đánh ở đồi A1 chính là một khúc tráng ca bất tử, góp phần làm nên chương vẻ vang nhất của bản hùng ca đó. Ba mươi chín ngày đêm với biết bao trận đánh ác liệt ở nơi này, máu xương của các liệt sĩ đã thấm đẫm cây cỏ và hòa sâu vào trong lòng đất. Từ dưới chân đồi đi lên đến đỉnh cao nhất, tôi đã nhìn thấy các tuyến phòng thủ với hệ thống hầm hào chìm nổi vô cùng kiên cố của quân Pháp. Nhưng bê tông sắt thép ấy vẫn không thắng được chí căm thù và lòng yêu nước quả cảm.

Hầm hào chắc chắn nhưng vẫn bị quả bộc phá chín trăm sáu mươi ki lô gam  từ trong lòng đất xé toang như một hình loa kèn khổng lồ nở trên đỉnh đồi hướng lên trời xanh. Kẻ thù dùng hầm để giữ, chúng ta cũng đào hầm để phá. Những con đường được các chiến sĩ Điện Biên đào từ đồi Cháy sang đồi A1 cùng chiến lược “vây, lấn, tấn, diệt” đã thu hẹp dần khoảng cách để rồi chúng ta kết thúc thắng lợi vào lúc 4 giờ 30 phút sáng ngày 7 tháng 5. Và chiến thắng tại cứ điểm này đã tạo bàn đạp quyết định cho quân ta đánh thẳng vào trung tâm Mường Thanh, bắt sống tướng Christian de Castries cùng Bộ chỉ huy Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ vào lúc 17 giờ 30 phút cùng ngày.

Trên đồi A1, cạnh đài tưởng niệm, vẫn còn chiếc xe tăng Bazeille từ trung tâm Mường Thanh được Pháp đưa lên để phản kích nhưng đã bị ta bắn cháy. Và bên cạnh đó là ngôi mộ tập thể của bốn chiến sĩ đã bắn cháy chiếc xe. Một ngôi mộ chung không có tên người được dựng trên đồi, bên cạnh chiếc xe chiến tích giống như để ghi nhớ, khắc ghi những chiến công đời đời bất tử. Kính cẩn dâng hương lên nấm mồ tập thể ấy, mắt tôi không khỏi nhòe đi.

Một ngôi mộ bình dị như bao ngôi mộ dưới nghĩa trang kia, không một dòng tên, không một dòng địa chỉ. Nhưng tôi hiểu, dù có là một nấm mồ chưa kịp ghi tên tuổi thì linh hồn các liệt sĩ cũng đã được yên giấc ngàn thu. Tên anh đã hóa thành tên đất nước “Dòng tên anh khắc vào đá núi/ Mây ngàn hóa bóng cây che”. Và tôi cũng đã nhìn thấy những cây phượng vĩ vươn cành tỏa bóng xum xuê như những tán ô trên đồi A1 để che cho các anh những ngày mưa, nắng. Cứ vậy, mỗi dịp sang hè những chùm hoa phượng lại rực đỏ như gợi nhớ về cái mùa hè rực lửa năm xưa. Màu hoa ấy giống như một lời nhắc nhở chúng ta đừng bao giờ lãng quên những ngày máu trộn vào bùn để cho đất trời Việt Nam hôm nay nở hoa độc lập.

Chiều dần buông xuống trên cánh đồng Mường Thanh nhưng sắc đỏ của những chùm hoa phượng vĩ và màu xanh ngút ngàn của cây lá trên đồi A1 vẫn rực cháy trong tâm trí tôi. Thăm lại nơi ác liệt nhất của chiến trường Điện Biên lần này, đứng giữa ranh giới của quá khứ hào hùng và hiện tại hòa bình, tôi càng thấm thía. Mỗi tấc đất dưới chân mình hôm nay không chỉ là chứng tích lịch sử hay đá sỏi vô tri của tạo hóa mà còn là một phần xương máu của cha ông ngày trước đã lắng lại nơi này để hoá thành hồn thiêng sông núi. Những khúc tráng ca bất tử trên khắp chiến trường Điện Biên dường như cũng đang hoà vào gió núi mây trời, ngân mãi ngàn năm như một lời nhắn nhủ thiêng liêng cho hôm nay và mai sau xin hãy đừng quên:

“Có người lính

Mùa xuân ấy ra đi từ đó không về …”

THU HIỀN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *