Về An Giang miền đất lịch sử – Ghi chép của Vũ Thảo Ngọc

Vanvn- Nói đến vùng đất An Giang ở phía cuối trời Nam ai cũng biết đó là một vùng đất hội tụ đủ sông suối, đồng bằng, núi non, biên giới…

Nhà văn Vũ Thảo Ngọc

An Giang miền đất mang nhiều dấu ấn lịch sử cách mạng

Về An Giang tôi nhớ ngay câu chuyện “chiếc áo bác Tôn” gắn với thời tôi còn là thiếu nhi ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, khi đất nước còn chiến tranh phải chia cắt hai miền Nam và Bắc. Nói về cách gọi “Bác Tôn”, tôi nhớ từng được nhận quà là “áo Bác Tôn”, vì ngày đó đất nước còn quá khó khăn, tôi cũng chỉ biết các em thiếu nhi được phát áo Bác Tôn, bác Chủ tịch nước tặng đấy. Niềm vui hân hoan và nhớ mãi trong quãng đời thiếu nhi đặc biệt của thế hệ chúng tôi.

Dịp nào tới An Giang tôi cũng qua phà sang Cù lao Ông Hổ thăm Di tích Lịch sử quốc gia Tôn Đức Thắng. Đứng bên bến phà Long Xuyên bời bời gió sông Hậu cảm xúc thật lay động, chỉ tầm mấy chục phút phà chạy thôi là con phà cập bến vào Cù lao Ông Hổ, là quê hương của nhà cách mạng lỗi lạc Tôn Đức Thắng.

Theo các nguồn tư liệu về các vị tiền bối cách mạng, Bác Tôn là vị Chủ tịch nước kế nhiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người cộng sản đặc biệt với nhiều hoạt động từ thời tiền khởi nghĩa, đặc biệt là thời gian ông hoạt động ở xưởng đóng tàu Ba Son (TP Hồ Chí Minh).

Nói đến xưởng đóng tàu Ba Son, chợt nhớ, sự kiện lịch sử chạm mốc 100 năm, đó là vào năm 1925, dưới sự lãnh đạo của nhà cách mạng Tôn Đức Thắng, công nhân Ba Son đã tổ chức cuộc bãi công lịch sử, phản đối chính quyền thực dân, đồng thời ủng hộ phong trào cách mạng trong nước. Đây là một trong những cuộc đấu tranh giai cấp đầu tiên của công nhân Việt Nam, góp phần đặt nền móng cho phong trào yêu nước và cách mạng sau này, ngọn cờ cách mạng đã qua 100 năm, đất nước đã vang khúc khải hoàn và đang vững vàng phát triển các lĩnh vực vươn ngang tầm thế giới…

Khu di tích Tôn Đức Thắng ở nơi làng quê ông sinh ra và lớn lên, là mảnh đất của nhà cụ thân sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng, thời bác là Chủ tịch nước, nhân dân tôn kính gọi bác bằng cách gọi thân mật “Bác Tôn”- khu di tích đã được Bộ Văn hóa – Thể Thao – Du Lịch công nhận Di tích Lịch sử quốc gia năm 1984. Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 110 của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, chính quyền và nhân dân tỉnh An Giang đã khánh thành khu lưu niệm và đền thờ Bác với nhiều công trình mới được xây dựng trên khuôn viên 6,7 ha; năm 2012 được Chính phủ công Di tích Quốc gia đặc biệt.

Khu di tích Bác Tôn bây giờ khang trang, hiện đại với niều tiện ích cho người thăm quan. Là Nhà trưng bày giới thiệu về cuộc đời hoạt động của Bác Tôn, nhà lưu niệm thời niên thiếu, Đền tưởng niệm, Nhà trưng bày các tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ, chiếc phi cơ chở Bác vào Sài Gòn để làm lễ mít tinh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, phục chế mô hình nhà lán của Bác Tôn ở ATK (Thái Nguyên), cầu treo dài 80m đón khách tham quan bằng đường sông và nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật khác.

Cách bài trí khoa học, tạo nên dấu ấn rất đẹp cho mỗi ai tới thăm khu di tích này, có nhiều cây xanh, có những con rạch ngang dọc khu dích tích xuyên ra phía cánh đồng. Có cầu kiều, ao cá cùng với những con đường rợp bóng cây xanh đan xen như tái hiện Khu lưu niệm giống như một làng quê Nam bộ thu nhỏ ấm áp, thân thương. Một vùng quê Nam bộ vẫn như còn nguyên nếp làng quê Nam bộ cũ kỹ mà ai đã từng gắn bó thêm nhớ thương, ai chưa biết có thêm sự hiểu biết cần thiết.

Những hoạt động của Chủ tịch Tôn Đức Thắng được tái hiện qua nhiều hình ảnh còn lưu giữ tại đây. Đứng bên ngôi nhà cũ kỹ kiểu nhà của người Nam bộ trước cách mạng tháng Tám, nơi gia đình cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng từng sinh sống càng thấy sự nghiệp cách mạng của vị tiền bối vô cùng to lớn. Mỗi con người đất Việt như được hun đúc tinh thần quật cường để từ bất cứ làng quê nào họ cũng sẵn sàng chấp nhận tù tội, gông xiềng, và đứng mũi chịu sào vùng lên tổ chức chống giặc ngoại xâm

Xin nói thêm về địa danh Cù lao Ông Hổ, đây là vùng đất trồi lên giữa miền sông Hậu, trước khi người Việt đến khai phá vùng đất An Giang nói chung, Long Xuyên nói riêng vẫn còn là vùng hoang vu, sình lầy, sông rạch chằng chịt, cây rừng rậm rạp. Đến năm 1780, vùng đất Long Xuyên mới có người Việt đến khai hoang, lập làng, đầu tiên là Châu Trấn Ba (cù lao Ông Hổ).

Cù lao Ông Hổ bây giờ gọi là Mỹ Hòa Hưng nhưng bà con nơi đây quen với tên Cù lao Ông Hổ, và họ thuộc lòng câu chuyện huyền thoại về chú hổ bé con được ông bà già trên cù lao cứu sống. Sau khi hổ lớn hổ trả ơn ân nhân cứu mạng, giờ trước cổng vào khu dích tích có hai ông hổ hai bên là liên quan tới câu chuyện đó. Câu chuyện dân gian truyền tụng khắp vùng, hỏi ai cũng nhớ, cũng kể được, và được kể lại với nhiều phiên bản khác nhau.

Nhưng câu chuyện xoay quanh rằng, khi hai vợ chồng nọ trong lúc đi bắt cá, lượm củi thấy chú hổ con vừa đói, vừa yếu ớt nằm trên ổ bèo trôi trên mặt nước cả mấy ngày vẫn thấy ở đó, nhìn bé như chú mèo con, nhưng khi đưa vào bờ thì là chú hổ con. Họ thấy hương con vật và mang về chăm sóc. Hổ lớn lên hiền lành như chú mèo nhà, ngoan ngoãn ở với ông bà. Khi cả hai ông bà mất, chú hổ bỏ về rừng, song có điều lạ, hằng năm cứ vào ngày giỗ ông bà thì hổ đều mang những con thú mà nó săn được đến trước mộ ân nhân đặt ở đó như một sự trả ơn. Về sau, hổ chết bên mộ ông bà, được dân làng chôn cất, lập nơi thờ ông Hổ. Ngày nay, ông Hổ được thờ tại Bửu Long Cổ Tự.

Tên cù lao cũng gọi Cù lao Ông Hổ là thế.

Nói đến vùng đất An Giang ở phía cuối trời Nam ai cũng biết đó là một vùng đất hội tụ đủ sông suối, đồng bằng, núi non, biên giới…

Rời khu di tích quốc gia đặc biệt Bác Tôn, thêm một lần tự hào dân tộc vì có những người cộng sản chân chính suốt đời phấn đấu hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập hòa bình dân tộc như nhà cách mạng Tôn Đức Thắng! Những con người quả cảm dám xả thân vì dân tộc, vì đất nước, dám chấp nhận tù đầy và hy sinh để đứng lên làm cuộc cách mạng long trời nổ đất.

Dịp này với hành trình dài ngày ở An Giang, nên hôm sau tôi tìm đường đi Châu Đốc để đến với di tích Ba Chúc đau thương nằm sát biên giới Campuchia. Nơi năm 1978, bọn Khmer Đỏ đã tràn sang tàn sát dân thường và không từ bỏ người già, trẻ em. Ba Chúc nỗi đau không bao giờ hết đau.

Theo Wikipedia tiếng Việt: “Vụ thảm sát Ba Chúc là một  tội ác chiến tranh gây ra bởi chính quyền Khmer Đỏ. Vụ việc xảy ra tại xã Ba Chúc (nay là thị trấn Ba Chúc), huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Từ ngày 30 tháng 4 năm 1978, quân Khmer Đỏ bắt đầu đồng loạt nổ súng tấn công biên giới Tây Nam – Việt Nam. Ngày 18 tháng 4 năm 1978, quân Khmer Đỏ tràn vào Ba Chúc, thẳng tay chém giết những dân thường vô tội. Nhiều người chạy tới chùa Phi Lai và Tam Bửu và chạy lên núi Tượng  nhằm ẩn náu nhưng cũng bị quân Khmer Đỏ truy sát dã man…

Trong suốt 12 ngày chiếm đóng từ 18 đến 30 tháng 4 năm 1978, quân Khmer Đỏ đã giết chết 3.157 dân thường. Chỉ có ba người sống sót sau vụ tàn sát. Vụ thảm sát là một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột biên giới Việt Nam – Campuchia, và sau đó là Chiến dịch phản công biên giới Tây Nam Việt Nam (hay còn gọi là Chiến tranh biên giới Tây Nam). Cuối năm 1979, chính quyền và nhân dân tỉnh An Giang đã xây dựng quần thể chứng tích tội ác. Trong đó có nhà mồ là công trình chính hiện tại chứa đựng  sọ  của 1.160 nạn nhân.”

Tôi lên Ba Chúc vào giữa trưa nắng dọi thẳng đỉnh đầu. Đứng trước địa chỉ ghi tội ác của quân Khmer Đỏ, trước ngôi chùa Tam Bửu của nhân dân địa phương đang xây dựng lại mà nghẹn lòng. Phía bên kia là cái nhà mồ chứa 1,160 sọ nạn nhân thì tôi không dám bước sang. Mỗi bước chân tôi như đang dẫm lên xương thịt họ rồi. Xót xa, đau đớn, căm phẫn tột cùng tội ác của quân xâm lược.

Bây giờ Ba Chúc đang hồi sinh, nhưng con đường, những ngôi chợ của làng, của phố đã như lấp dần nỗi đau ấy. Nhìn các chị các mẹ đã như bớt nỗi sợ hãi, bớt nỗi đau đớn hơn. Khi chiến tranh đã lùi xa, không con rình rập ngay bên cánh đồng làng, ngay bên con kênh biên giới cả hai bên đều có chung một dòng. Cùng chung những cây thốt nốt có chùm quả mọng nước ngọt thơm đặc sản xứ sở này.

Chiều Ba Chúc ngổn ngang với nắng, tôi nghĩ tới cô bạn nhà văn vong niên Võ Diệu Thanh, người An Giang đã từng lên Ba Chúc nhiều lần để hoàn thành cuốn tiểu thuyết viết về nỗi mất mát của đồng bào ta ở nơi đây. Vì thế mà chuyến này tôi nhất định phải lên Ba Chúc để tận mắt được thấy miền đất biên giới xa xôi này đã phải hứng chịu đau thương từ chiến tranh. Giờ thời bình, nhìn bên kia dòng kênh hay bên này dòng kênh chỉ là những cánh đồng lúa mênh mông đang ngả màu chín vàng.

Những cụm cây thốt nốt vẫn đứng giữa cánh đồng ngả bóng xuống như kiêu hãnh, như khẳng định đất và người nơi đây vẫn mãi trường tồn cùng dân tộc.

An Giang có Cù lao Giêng.

Từ lâu tôi đã ấp ủy, tới An Giang nhất định phải khám phá địa danh Cù lao Giêng. Đó là một cù lao đặc biệt, nơi có cơ sở cách mạng của ta hoạt động khá sớm từ năm 1930.

Tôi mượn xe máy của người bạn và thong dong qua phà An Hòa gió lộng, chuyến phà chật ních người xe, đã lâu rồi tôi mới có dịp đi phà. Phà An Hòa qua sông Hậu, đi qua một thôi đường rất đẹp bên những cánh đồng tốt tươi sẽ gặp thị trấn Mỹ Luông là trung tậm huyện Chợ Mới tỉnh An Giang. Qua cây cầu bắc qua sông Tiền là sang bên kia gặp cù lao Giêng. Ồ, tôi thốt lên, lần này đi mới cảm nhận được đi qua sông Hậu, sông Tiền là thế nào.

Cù lao Giêng hiện ra bên dòng sông Tiền đầy nắng gió. Đó là mảnh đất gồm 3 xã Tấn Mỹ, Bình Phước Xuân, Mỹ Hiệp của huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Đây là một cù lao xanh nằm giữa sông Tiền mênh mang đất đai màu mỡ nên sở hữu rất nhiều loại trái cây tươi tốt.

Không chỉ vậy, Cù lao Giêng còn là mảnh đất ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử của đất nước trong những năm 30 của thế kỷ 20, cũng như những công trình kiến trúc ghi dấu ấn văn hóa đậm nét. Di tích lịch sử cách mạng Di tích Cột Dây Thép Long Điền A được xây dựng từ những năm cuối của thế kỷ 19 bởi quân đội Pháp. Cột Dây Thép đóng vai trò là hệ thống thông tin liên lạc lúc bấy giờ. Di tích này nằm bên cạnh sông Tiền, có độ cao khoảng 30m dựng nên từ 4 chân trụ vững chắc.

Vào khoảng năm 1930, Cột Dây Thép là nơi đầu tiên treo ngọn cờ Đảng của phong trào cách mạng tỉnh An Giang, cũng là nơi chứng kiến nhiều cuộc biểu tình, đấu tranh của nhân dân ta chống Pháp ở miệt cù lao này. Tôi lơ thơ trước con đường dẫn đến di tích lịch sử này, đọc những dòng thông tin hữu ích kia, liên tưởng tới những năm 1929, 1930 ở thế kỷ 20 vùng Hồng Gai, ở Cửa Ông, Cẩm Phả (Quảng Ninh) quê hương của những người thợ mỏ cũng có những lá cờ được cắm ở mỏm núi Dọi đèn, ở cần trục Póoc- tic trong cảng than Cửa Ông khẳng định những người cách mạng sớm sẽ thực hiện được khát vọng đánh đuổi giặc ngoại xâm và giành độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam.

Lá cờ đỏ Sao vàng là lời hiệu triệu con dân đất Việt từ đầu đến cuối đất nước cùng vùng lên phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc. Nhìn lá cờ bay trong nắng gió trên cù lao sông Tiền, không thể không xúc động khi nghĩ về những tháng ngày rực lửa phong trào đấu tranh cách mạng của các tiền nhân. Chỉ biết cúi đầu thành kính trước các bậc tiền nhân đã góp phần làm nên cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945 lừng lẫy chấn động địa cầu ấy. Câu chuyện của 80 năm qua như vẫn còn văng vẳng đâu đây về những con người, ở vùng đất xa xôi này đã thực hiện thành công khát vọng đưa đất nước, đưa dân tộc Việt Nam được độc lập, tự do, hòa bình và xây dựng đất nước phồn thịnh như ngày hôm nay…

Theo các nguồn tư liệu, Nhà thờ Cù lao Giêng được xây dựng khoảng năm 1879, và mãi đến khoảng 10 năm sau mới hoàn thành. Tu viện dòng nữ tu Providence (Chúa Quan Phòng), lập vào năm 1874. Thời thuộc Pháp, tại đây còn là nơi thu nhận trẻ em mồ côi và những người già bệnh tật. Chính vì vậy, dòng nữ tu Chúa Quan Phòng đã được nhiều giáo dân ở miền Tây Nam Bộ và kể cả Campuchia  biết đến.

Cảm xúc đầu tiên của tôi thật thú vị khi vừa qua cầu là gặp ngay khu thánh đường Cù Lao Giêng hay còn gọi là thánh đường họ Đầu Nước.

Ngôi thánh đường Cù lao Giêng chỉ xây sau Nhà thờ Đức Bà ở TP Hồ Chí Minh và đến nay tồn tại trọn vẹn. Ở TP Hồ Chí Minh sẽ dễ hiểu việc thuận lợi trong di chuyển vật liệu đến xây dựng. Còn ở Cù lao Giêng, giữa vùng sông Tiền lộng gió, vật liệu họ mang từ Pháp qua là chủ yếu đủ thấy công trình có tốn nhiều công sức thế nào…

Chúng tôi vào thăm Tu viện và nhà thờ Cù lao Giêng ngỡ ngàng trước khung cảnh nhà thờ thật quen thuộc kiểu xây dựng gothic của người Pháp đã phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa mà họ đến cai trị. Vì xây dựng ở một nơi sông nước bốn bề, nên thời ấy họ đã phải kéo dài thời gian tới 12 năm mới xong (có tài liệu nói là 13 năm)…

Với tôi, mỗi chuyến đi là nhận về biết bao điều mới mẻ. Có những vùng đất ta chỉ qua một lần không trở lại, nhưng có những vùng đất trở đi trở lại nhiều lần vẫn chưa bao giờ khám phá hết những giá trị sâu sa về lịch sử, về văn hóa, về tộc người với vô vàn các tín ngưỡng văn hóa độc đáo.

Chắc chắn nếu có dịp trở lại An Giang tôi lại tiếp tục hành trình đi tìm những vẻ đẹp khác của vùng đất bời bời của miền sông nước của sông Tiền, sông Hậu. Là phía xa biên giới với núi Cấm huyền thoại, ngọn núi được coi là cao nhất Nam bộ và Miếu Bà Chúa xứ linh thiêng bậc nhất ở nơi này. Để lại được đi qua những con phà qua các con sông đến các cù lao trù phú bình yên kia…

Chuyến đi đến vùng đất nơi cuối trời Tổ quốc được gặp các bạn văn, và hai chị em tôi và Võ Diệu Thanh ngược chiều nhau suýt 100km vì em hẹn chỗ bến sông kia, tôi lại phóng xe vèo qua… và đành alo cười trừ để hôm sau chúng tôi có cuộc hội ngộ cực vui ở thành phố Long Xuyên…

VŨ THẢO NGỌC

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *