Vanvn- Đã hơn 10 năm, kể từ ngày tìm được phần mộ của chú Ơn tại một nghĩa trang liệt sĩ thuộc tỉnh Tây Ninh, “Nhóm 5X làng Tràng” cứ đến dịp 27/7 hằng năm là cùng nhau đi viếng mộ. Năm nay, nhóm 5X làng Tràng lại từ Bình Dương thuê xe đến nghĩa trang liệt sĩ Tây Ninh. Khi bước đến trước ngôi mộ có khắc dòng chữ: “Liệt sĩ Hồ Đắc Ơn”, cả nhóm tần ngần dừng lại, lão Trọng cẩn thận quay qua quay lại nhìn cả nhóm rồi hô dõng dạc:
– Nhóm 5X làng Tràng chú ý… nghiêm! Chào chú Ơn… Chào!
Nhóm 5X đã thuộc lứa tuổi U70, bộ dạng thòi thọt, từ quần áo nón mũ đến giày dép không lão nào giống lão nào nhưng tất cả đều nghiêm trang đứng chào theo nghi thức đặc biệt của đám trẻ làng Tràng ngày xưa. Xong nghi lễ chào mộ phần chú Ơn, lão Bách lom khom vác cái dù lớn dựng bên ngôi mộ. Nhóm người U70 như hoá thành đám trẻ. Người quét, người lau, người cắm hoa, người sắp trái cây, người soạn vàng mã… Tất cả cứ chí choé mày tao, ríu ra ríu rít y hệt như đám trẻ làng Tràng của 60 năm trước. Chăm lo mộ phần vốn là việc làm lương thiện nhưng sẽ càng lương thiện hơn khi người ta được thực hiện với sự hồn nhiên trong trẻo của tuổi thơ.

Lần lượt từng bó hương lớn được đốt lên. Khói bay mù mịt. Mồ hôi các lão túa ra tràn vào những cặp mắt ậng nước đỏ hoe cay xè. Lão Trọng phân công cả nhóm toả ra thắp hương cho từng đồng đội của chú Ơn đang nằm im lìm thẳng tắp theo từng dãy giống như những đoàn quân nghiêm trang gióng hàng chuẩn bị diễu binh.
Khi xưa các chú chiến đấu cùng đồng đội, đến lúc hy sinh về với đất các chú vẫn là đồng đội bên nhau. Tất cả đều trầm mặc ngay ngắn, không còn phân biệt cấp bậc chức vụ, có tên hay chưa có tên. Mọi người lính nằm xuống đều có chung một lá cờ đỏ sao vàng nho nhỏ như chiếc huy hiệu cài trên phần mộ.
Một thời các lão U70 làng Tràng từng chứng kiến cảnh chết chóc đau thương, từng chịu cảnh bom rơi đạn nổ, từng lấm lem dưới hầm hào trú ẩn nên có lúc cứ ngỡ là đã hiểu được sự tàn bạo của chiến tranh. Nhưng mỗi lần được đứng giữa nghĩa trang, bạt ngàn những nấm mồ liệt sĩ các lão mới thực sự có cảm giác được chạm vào nỗi bi hùng và những mất mát khôn tả. Có gì đắt bằng xương máu? Vậy mà cả dân tộc này đã phải đánh đổi vô vàn xương máu, sinh mạng để có được độc lập thống nhất.
Cả nhóm chia nhau đi thắp hương cho từng dãy mộ. Ai cũng tâm niệm nếu lỡ bỏ sót ngôi mộ nào cũng là mắc lỗi với anh hùng liệt sĩ. Mỗi cây hương được thắp lên trên mộ, các lão thấy lòng mình như vơi bớt nỗi niềm trắc ẩn.
Trời Tây Ninh đang nắng chói chang, hơi nóng hầm hập như thiêu đốt bỗng dưng khựng lại. Những đám mây đen như khói bom chẳng biết từ đâu ùn ùn kéo đến rồi sà xuống. Trời đất sa sẩm xám xịt. Gió giật tung cả cây dù. Những hạt mưa đầu tiên văng xuống vỡ đen đét trên từng ngôi mộ. Rồi mưa sầm sập. Mưa xối xả. Mưa như trút cả nỗi niềm. Các lão chỉ biết chụm đầu vào nhau, tay giữ chặt tấm bạt mỏng để che cho những cây hương đang cháy dở. Bát hương trên mộ chú Ơn bỗng cháy bùng thành ngọn lửa. Lão Đợi reo lên:
– Hoá hương! Chú Ơn hiển linh về đây rồi! Ai muốn nói gì với chú thì nói nhanh đi.
Lão Lập vẫn là cậu bé hay mủi lòng của 60 năm trước, vừa sụt sùi vừa hỏi:
– Chú Ơn… con nhớ chú lắm… hu hu… Chú đã gặp được ông bà Đắc chưa? Chú đã tìm được họ hàng người thân chưa? Hu hu…
Sau một lúc tranh nhau hỏi chú Ơn đủ thứ chuyện, lão nào cũng tự cho rằng mình mới là người đã trò chuyện được nhiều nhất với chú Ơn. Lão Trọng bỗng giật mình như sực nhớ điều gì liền đặt tay lên bia mộ rồi hỏi:
– Chú Ơn, chú đã được kết nạp chưa?
Thấy cả nhóm phì cười, lão Trọng lí sự:
– Ngày xưa ông nội tớ nói “dương sao âm vậy”. Sang thế giới bên kia nhưng các chú vẫn có đồng đội, vẫn chiến đấu… cho nên được kết nạp là chuyện thường.
Nghe vậy lão Thệ phẩy tay:
– Ở thế giới bên kia chú Ơn có bị lão Chủ nhiệm gây khó dễ nữa đâu mà không được kết nạp chứ.
Lão Bách cười, nói chen vào:
– Vậy sao các ông không hỏi luôn chú Ơn đã cưới cái cô gánh nước bên sông chưa để anh em ta còn mừng đám cưới.
Mỗi lão mỗi tính mỗi nết nhưng lão nào cũng tin rằng nhờ vong hồn chú Ơn linh thiêng dẫn dắt nên đám trẻ làng Tràng mới tìm được phần mộ của chú. Và nếu không có sự dẫn dắt đó thì làm sao mà đám trẻ làng Tràng đang ở xứ Nghệ lại cùng phiêu dạt đến vùng đất Bến Cát này được? Thực ra trong nhóm chỉ có mỗi lão Đợi là người có tấm bằng cơ điện nên xin vào làm công nhân tại một khu công nghiệp ở Bình Dương rồi về sau đã xin cho con trai lão Trọng vào làm cùng công ty. Phải mất thêm mấy năm nữa lão Trọng mới chịu đi theo con. Lão Lập được lão Trọng dẫn dắt xin vào làm bảo vệ cho một trường học. Cứ thế, lão này rủ lão kia cùng “Nam tiến”. Nói chung là các lão có duyên “tha phương cầu thực” với nhau. Thật không ngờ đến cuối đời cả nhóm bạn nối khố làng Tràng lại lần lượt tụ hội về cái nơi mà người ta gọi là “thủ phủ khu công nghiệp”. Cái tên tự xưng “Nhóm 5X làng Tràng” không chỉ để gọi vui mà còn là sự gắn kết đặc biệt.
***
Mỗi khi “Nhóm 5X làng Tràng” gặp gỡ bù khú với nhau thì những câu chuyện của hơn nửa thế kỷ trước là phần rôm rả nhất. Thuở ấy, nhiệm vụ chính đám trẻ làng Tràng là rèo bò, việc học hành chỉ là phụ. Đám trẻ tự tin cho rằng nhiệm vụ “rèo bò” cao cả hơn “chăn bò”. Chỉ rèo bò mới thực sự hiểu được những con bò và biết coi chúng là bạn. Nhóm rèo bò có thể không biết thầy cô hiệu trưởng nhưng lại mặc nhiên coi chú Ơn là thủ lĩnh. Mọi người đều thừa nhận chú Ơn chính là một phần tuổi thơ của đám trẻ làng Tràng. Hầu hết các trò nghịch phá, leo trèo bơi lội, đánh đáo, đánh khăng, đánh trận giả, đá bóng bưởi… của đám trẻ đều do chú Ơn đầu têu ra cả. Nếu tính về tuổi, chú Ơn cũng thuộc hàng 5X chỉ hơn đám trẻ chừng dăm bảy tuổi, nhưng chúng nó cứ gọi chú, xưng con. Hình như xưng hô như vậy thì đám trẻ mới cảm thấy được che chở và gắn bó thân thiết với chú Ơn nhiều hơn.
Người làng Tràng xưa ai cũng biết câu chuyện về ông bà Đắc. Ông bà vốn là dân ngụ cư, không họ hàng thân thích, không có con cái, sống cô đơn hiu quạnh trong căn nhà nhỏ ngoài rìa làng. Vào một buổi sáng sớm, ông Đắc ra ngõ bỗng thấy đứa bé đỏ hỏn như củ khoai, còn nguyên dây rốn được ủ trong cái thúng lót mớ giấy bản cũ nát. Ông run lập cập rồi gọi bà vợ ra. Hai ông bà tin rằng đó là đứa con trời cho nên đưa vào nhà chắt nước cơm mớm từng giọt. Khi biết chắc thằng bé sẽ sống được với mình, ông bà Đắc mới đặt tên cho nó là Ơn. Từ ngày có thằng Ơn, ông bà không còn lặng lẽ như hai cái bóng nữa. Ngày ngày bà Đắc bồng bế thằng Ơn vào làng xin sữa. Mỗi lần nhìn ngắm đứa con trời cho, ông Đắc lại gật gù nói với bà câu quen thuộc:
– Thế là nhà ta được trời cho thằng cu Ơn để còn có người chống gậy, thắp hương.
Chú Ơn lớn lên rất siêng năng tháo vát, nhanh nhẹn như sóc. Mới thấy chú đầu làng, thoắt cái chú đã ở cuối làng. Bất cứ nhà nào có việc cần giúp đỡ là chú chẳng nề hà. Từ buộc hộ tấm phên, kê lại tấm phản cho đến sửa cái nắp hầm trú ẩn chú đều xăng xái làm tất. Có lẽ chú Ơn là người duy nhất khi vào nhà ai trong làng cũng được những con chó vẫy đuôi mừng rỡ. Người làng nói giống chó tinh khôn lắm nên mới quấn quýt chú Ơn như người nhà. Chả bù cho ông Chủ nhiệm, đi đến đâu chó theo sủa đến đó.
Chú Ơn có nhiều tài lẻ, tuy nhiên cái biệt tài độc đáo nhất của chú là khả năng diễn trò khôi hài, nhại giọng và bắt chước điệu bộ bất cứ ai trong làng. Người làng Tràng từ xưa vốn không có thế mạnh học hành đỗ đạt như các làng khác nhưng lại nổi tiếng về cái tài chửi trộm. Hầu như cứ vài ba bữa là người ta lại nghe từ nhà nào đó trong làng văng vẳng phát ra bài chửi. Mất con gà, chửi. Mất quả dưa chuột, chửi. Mất búp măng ngoài bờ rào, chửi. Bò nhà ai ăn mất vài bụi lúa, chửi. Gà hàng xóm sang bới mấy cây rau, chưởi… Nói cho công bằng thì cũng có người không muốn chửi. Nhưng mất mà không chửi thì thiệt quá! Chửi cũng là một cách để vớt vát. Càng chửi càng có cảm giác đỡ mất mất mát thua thiệt. Thậm chí có khi người ta chửi xong cứ ngỡ như kẻ trộm mới là bên bị thiệt hại nhiều hơn.
Tất cả những màn chửi đó đều được chú Ơn tái hiện trong các buổi làm đồng cùng bà con xã viên. Mặc dù không có tên ai cụ thể nhưng nhờ tài nhại giọng và diễn xuất nên dân làng nhận ngay ra nguyên mẫu trong từng màn chửi. Nghĩ cũng lạ, khi nghe bà con hăng máu chửi bới thật sự thì ai cũng khó chịu nhưng khi xem chú Ơn diễn lại thì vô cùng hấp dẫn, nhiều người cười không ngậm được miệng. Vì thế nên ai cũng ngại trở thành nhân vật trò cười trong các màn khôi hài của chú Ơn. Thói quen chửi trộm giảm hẳn mà không cần làng xã phải tuyên truyền vận động.
Bà con xã viên đi làm đồng ai cũng muốn kéo chú Ơn vào làm cùng nhóm. Có chú Ơn thì cả buổi làm đồng luôn tràn đầy tiếng cười. Những trò khôi hài của chú Ơn đôi khi làm cho bà con cười lăn lộn giữa ruộng, lấm lem bùn đất mà vui đáo để. Có lẽ chỉ một người đặc biệt trong làng không ưa chú Ơn diễn trò khôi hài chính là ông Chủ nhiệm hợp tác xã. Mỗi lần bắt gặp cảnh bà con xã viên đang cười nghiêng ngả giữa ruộng là ông Chủ nhiệm nhăn mặt nhắc nhở: “Ra đồng để làm việc hay để cười”? Chờ cho ông Chủ nhiệm ngồi trên chiếc xe đạp Thống Nhất lắc lư rời đi, bà con lại không nín được cười bởi chú Ơn diễn tiếp sang cảnh ông Chủ nhiệm đứng trên bờ ruộng múa may đe nẹt. Tuy nhiên cũng có người ngờ ngợ, hay là ông Chủ nhiệm nhắc nhở đúng? Năng suất làm việc quy ra thóc ngày càng thấp có khi nào do bà con xã viên ra đồng cười nhiều quá không? Nhưng rõ ràng những nhóm không có chú Ơn pha trò thì năng suất cũng ngày càng đi xuống.
Năm 1971, chú Ơn hai lần viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Chú nói là không thể chịu nổi khi bạn bè trang lứa đã ra trận mà mình thì cứ lông bông trong làng. Dù là con nuôi của ông bà Đắc nhưng chú Ơn vẫn thuộc diện con trai độc nhất nên xã không điều chú đi bộ đội. Cuối cùng do chú quá quyết tâm và ông Đắc cũng chiều theo ý chú, trực tiếp lên xã đề nghị. Thế là chú Ơn được xã đồng ý đưa vào danh sách nhập ngũ.

Đối với đám trẻ rèo bò làng Tràng, chú Ơn luôn có vai trò đặc biệt. Không hiểu sao đứa nào cũng như ăn phải bùa mê thuốc lú. Ngày nào mà không gặp được chú Ơn là đám trẻ cứ ngẩn ngơ ủ rũ. Bình thường nếu không thấy chú Ơn trong làng thì đám trẻ cứ kéo ra bờ sông, chỗ có cây muỗm đực là gặp. Cây muỗm xanh tốt, toả bóng mát rượi nhưng chưa bao giờ có quả nên người làng gọi nó là muỗm đực. Ở làng quê người ta không trồng cây muỗm. Muỗm chỉ là loài cây hoang dại lẻ loi thường mọc rai nơi gò bãi xa vắng.
Thấy chú Ơn đang ngụp lặn giăng lưới dưới sông, chúng gọi toáng lên:
– Chú Ơn… chú Ơn…
– Từ từ… chờ tao chút….
Phải mấy phút sau chú mới từ dưới sông bước lên, không như mọi lần, lần này chú Ơn nói toàn những chuyện lạ:
– Tao sẽ cưới vợ trước khi đi bộ đội. Tao chỉ cần cưới vợ xong rồi ba ngày sau lên đường cũng được.
– Chú định cưới ai? Cô ấy ở đâu?
Đám trẻ hỏi dồn. Chú Ơn cười hì hì, mắt nhìn sang bờ sông bên kia:
– Tao đố đứa nào biết tao muốn cưới ai? Cưới vợ về tao sẽ làm gì nào?
– Chú làm gì?
– Đêm đầu tao chỉ ngồi ngắm nàng trong trang phục quần lụa đen xắn cao tận bẹn như những lần nàng lội xuống sông gánh nước. Nàng nằm nghiêng, thiêm thiếp trên cánh võng, tóc xoã xuống bờ vai, mấy tàu lá cau như bàn tay xoè ra nhưng không che được ánh trăng chênh chếch chiếu vào. Cặp đùi thon của nàng trắng ngần, rực sáng… Tao ngắm đến khi nào trăng tàn mới thôi.
Đêm thứ hai tao chỉ cho nàng mặc mỗi bộ đồ lụa màu hồng mỏng như giấy pơ luya. Tao không ngắm nữa. Trời ơi sao mà nó êm ái, nó mịn màng đến thế…
Mấy đứa ngồi im không hiểu chú Ơn đang nói gì mà trông chú lạ lắm. Mắt chú cứ lim dim mơ màng. Rồi nghe chú chậm rãi nói tiếp:
– Đêm thứ ba…
Cả nhóm hồi hộp rồi tò mò tranh nhau hỏi:
– Đêm thứ ba chú làm gì?
– Tao lại ngắm nàng tiếp chứ làm gì nữa!
– Đêm đầu chú ngắm chán rồi mà?
– Ừ đêm đầu là ngắm nàng trong bộ đồ nàng ra sông gánh nước. Đêm thứ ba, tao ngắm nàng trong bộ đồ của nàng Eva… Tao chỉ cần ba đêm là được.
Đám trẻ ngơ ngáo chẳng hiểu bộ đồ Eva là gì. Chú ơn nhìn xa xăm, tiếng thở dài như bị giấu kín lâu ngày, nay bỗng từ từ buông ra theo từng lời nói:
– Ra đi biết có trở về được không mà nói chuyện cưới vợ… Đến cái thân tao đây ai sinh ra, ai bỏ rơi cũng còn mù tịt.
Nói đoạn, chú chỉ tay về phía cây muỗm đực đang đứng chơ vơ bên bờ sông:
– Mấy đứa có thấy đời tao giống như cây muỗm đực lạc loài đó không? Cây muỗm này do người ta vứt bỏ hay nó từ đâu trôi dạt đến? Một cây muỗm đực vô danh cô đơn…
Không có tiếng trả lời. Chú Ơn lại buông thõng tiếng thở dài. Tiếng thở dài của chú làm cho đám trẻ cũng len lén thở dài theo. Thật hiếm khi đám trẻ có cảm giác chơi vơi khi ở bên chú Ơn. Chúng ngồi dựa vào nhau trên bãi cỏ gà xanh mướt như tấm thảm nhung trải dài xuống tận viền mí của bờ sông. Mùa này dòng sông lững lờ trong xanh nhất trong năm. Mấy ngọn cỏ như đang cố vươn ra khỏi bờ, càng vươn ngọn cỏ càng run rẩy chới với theo gợn nước dập dềnh. Những con chuồn chuồn lửa đỏ rực như trái ớt chín cứ thản nhiên đậu trên ngọn cỏ đung đưa chờn vờn sát mặt nước. Khác với mọi lần, hôm đó chẳng đứa nào còn hứng thú rình bắt chuồn chuồn nữa. Lâu lâu có con chuồn chuồn voi lượn lờ ra oai. Mấy con chuồn chuồn lửa đập cánh bay đi dọc theo mí nước rồi nhẹ nhàng vòng lại như chưa hề bị xua đuổi. Dưới mặt nước, đàn cá diệc lượn qua lượn lại, lâu lâu chúng lạng sát bờ như muốn rúc vào các búi cỏ rồi quẫy mình trồi lên lách chách trên mặt nước.
Đám trẻ nhìn theo ánh mắt xa xăm của chú Ơn. Ánh mắt chú Ơn dừng lại ở bờ sông bên kia. Mọi ánh mắt của đám trẻ cũng dừng theo và đều bị hút vào hình bóng một cô gái tóc ngang lưng, quẩy trên vai đôi thùng gánh nước. Quần cô xắn cao để lộ đôi chân trắng ngần. Mặt sông trong xanh như đang rẽ nước cho đôi chân trần bước xuống.
Thằng Bách bừng tỉnh, nói hỏi:
– Chú Ơn, chú muốn cưới cô đó à?
Chú Ơn gật gật, mắt vẫn không rời hình bóng cô gái đang cầm đôi thùng khoả nước bên kia sông.
– Cô ấy tên gì chú?
– Chú không biết.
– Ơ… chú muốn cưới người ta mà sao không biết tên?
– Chú chỉ quen cái hình bóng cô ấy ra sông gánh nước hằng ngày thôi.
– Ồ… vậy mà…
Mấy đứa ồ lên tiếc nuối. Đến lúc đứng dậy ra về, chú Ơn vươn vai rồi cúi xuống nhặt viên sỏi lưỡi mèo, nghiêng mình lia thật mạnh xuống mặt sông. Viên sỏi nhảy lia thia trên mặt nước. Đám trẻ nín thở nghiêng cổ chờ viên sỏi nhảy lia thia thật xa, xa đến chỗ cô gái đứng khoả nước sông. Nhưng viên sỏi cũng chỉ gắng gượng ra đến giữa dòng là chìm nghỉm.
***
Là một đoàn viên rất năng nổ trong mọi hoạt động, chú Ơn đã được tham gia học lớp đối tượng Đảng. Chi đoàn thanh niên đề nghị kết nạp Đảng cho chú Ơn trước khi lên đường nhập ngũ. Tuy nhiên ông Chủ nhiệm hợp tác xã cũng là Phó Bí thư chi bộ đã dứt khoát phản đối. Giữa cô Bí thư chi đoàn với ông Phó Bí thư chi bộ đã tranh cãi gay gắt. Ông Phó Bí thư khẳng định:
– Việc cậu Ơn thường xuyên khôi hài quá trớn là không thể chấp nhận được. Chuyện của bà con trong làng đâu phải là thứ để cậu ta làm trò cười bêu rếu.
– Vâng, đó chỉ là chuyện pha trò giúp bà con xã viên vui cười thôi ạ…
– Quá đáng! Rất quá đáng! Cô là Bí thư chi đoàn thì lẽ ra cô phải lôi cậu ấy ra kiểm điểm chứ. Không còn ra thể thống gì nữa.
Cô Bí thư chi đoàn đành nài nỉ:
– Vâng, bác ạ… trường hợp này mong bác…
– Mong cái gì? Chưa hết đâu, tôi còn nghe đám trẻ con nhau kháo nhau nữa đấy. Cô có biết việc cậu Ơn tụ tập trẻ em ra bờ sông rồi gieo rắc tàn dư tư tưởng tư sản, truyền bá dâm ô không? Đó là mầm mống của hủ hoá. Cô hiểu chưa?
Biết không thể nào thuyết phục được ông Phó Bí thư nên cô Bí thư chi đoàn đành thở dài im lặng. Có một sự thật mà ngoài chú Ơn và ông Chủ nhiệm ra thì không một ai biết được. Đó cũng là nguyên nhân khiến ông Chủ nhiệm luôn tìm cách trù úm chú Ơn. Chuyện là vào một đêm khuya, chú Ơn đi tập văn nghệ về qua đám ruộng ngô của làng bỗng thấy có bóng người. Chú Ơn nhẹ nhàng tiến đến gần mới biết không phải là kẻ trộm ngô mà là một đôi trai gái đang hú hí. Máu nghịch ngợm trỗi dậy, chú Ơn liền trùm lên người mảnh vải dù pháo sáng trắng toát rồi nhảy lò cò đến. Hai bóng người rú lên, bỏ chạy hơn cả ma đuổi.
Sau khi hai bóng người chạy mất chú Ơn mới bấm đèn pin lên thì thấy cái quần dài nhìn rất quen. Dọc hai bên ống quần có may hai cái viền đỏ. Cả làng Tràng chỉ có mỗi ông Chủ nhiệm là có cái quần độc lạ đó do nước ngoài viện trợ.
Không nghĩ nhiều, chú Ơn cầm cái quần về và mờ sáng hôm sau mang đến để trước ngõ nhà ông Chủ nhiệm. Không ngờ ông Chủ nhiệm suốt đêm không ngủ nhưng cũng không dám ra ruộng ngô tìm quần. Nấp trong sân, ông nhìn thấy chú Ơn lẳng lặng mang quần đến để trước ngõ. Chờ chú Ơn đi khuất, ông Chủ nhiệm rón rén bước ra nhặt quần lên cất vội. Từ đó ông Chủ nhiệm bỗng thấy chú Ơn là kẻ đáng ghét vô cùng. Chú Ơn trở thành cái gai mà ông Chủ nhiệm sẽ phải nhổ cho bằng được. Thế mới biết, ở đời trả lại của rơi là tốt nhưng nhặt được quần của ông Chủ nhiệm mà mang trả thì đó lại là tai hoạ.
***
Trước ngày chú Ơn lên đường nhập ngũ, Chi đoàn thanh niên tổ chức đêm chia tay. Bà con trong làng kéo đến động viên chúc mừng đông như hội. Những tiết mục văn nghệ xen kẻ với lời chúc chú Ơn lập công, chiến thắng trở về. Bà con đến chia tay hầu như ai cũng mang theo quà là những quả chanh hái từ vườn nhà. Dẫu biết chú Ơn chẳng cần đến nhiều chanh như thế nhưng ngoài mấy quả chanh ra thì bà con cũng chẳng có gì để biếu. Món quà của Chi đoàn là mấy gói thuốc lá và hai cuốn sổ tay. Một cuốn mới nguyên, một cuốn đã chép sẵn một số bài hát, bài thơ và những dòng lưu bút.
Ngày chia tay, chú Ơn trông khác hẳn. Chú không làm trò khôi hài mà cứ đi vào đi ra như đang chờ đợi ai đó. Ngoài ông Đắc ra thì cả làng Tràng không một ai biết rằng nhiều năm qua chú Ơn đã âm thầm tìm kiếm người sinh ra và bỏ rơi mình. Chú Ơn linh cảm lần lên đường nhập ngũ này có thể là cơ hội cuối cùng để chú tìm kiếm gốc gác của mình. Dù không nói ra nhưng ai cũng hiểu tiễn đưa người nhập ngũ thời chiến tranh giống như đứng trước lằn ranh sinh tử. Biết bao trai làng ra đi không có ngày trở về. Vì vậy, biết đâu sẽ xuất hiện phép màu dẫn dắt người mà chú Ơn mong đợi nhất tìm về với chú. Tuy nhiên những gì chú Ơn càng ngóng chờ thì càng lạnh lùng mất hút trong im lặng.
Đêm khuya, đêm cuối cùng ngồi bên con, ông Đắc vỗ vai chú Ơn:
– Cha hiểu nỗi lòng của con. Mấy ngày nay cha cũng vô cùng mong mỏi. Nhưng có lẽ người ta ở xa, người ta không biết tin con nhập ngũ. Thôi con cứ yên tâm vững bước lên đường. Cha tin, sẽ có ngày người ta tìm đến con, tìm đến gia đình mình.
Sau mấy tháng huấn luyện, trung đoàn của chú Ơn nhận lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam. Từ ngày chú Ơn đi bộ đội, đám trẻ làng Tràng cứ ngơ ngác như gà lạc mẹ. Những buổi rèo bò chúng không còn nghịch phá mà cứ ngồi túm tụm để bàn chuyện chú Ơn đang đánh giặc ở đâu. Thằng Trọng luôn quả quyết giỏi như chú Ơn thì chú sẽ là “dũng sĩ diệt xe tăng”. Lúc nào nó cũng tưởng tượng ra hình ảnh chú Ơn đội mũ tai bèo vác khẩu súng B40 đứng bật dậy giữa chiến hào. Trên vai chú, khẩu B40 phụt ra một vệt lửa bay thẳng làm nổ tung chiếc xe tăng của địch.
Năm 1972, giặc Mỹ quay lại leo thang ném bom phá hoại miền Bắc lần thứ hai. Lần này tuy không có nhiều máy bay phản lực Mỹ ngày đêm gầm rú xé nát bầu trời rồi bổ nhào trút bom kinh hoàng như hồi năm 1968 nhưng lại gây ra chết chóc nguy hiểm hơn nhiều. Những ngôi làng bắt đầu nếm trải bom toạ độ, bom bi và bom B52 rải thảm.
Tối đến đám trẻ thường tụ tập tại nhà thằng Trọng. Lí do là nhà thằng Trọng có cái hầm “Triều Tiên” rộng rãi đủ cho cả đám trẻ ngủ kềnh suốt đêm. Cứ chiều xuống, mẹ thằng Trọng lại làm một vàng than có vỏ bưởi, bồ kết, lá chanh, lá sả đưa vào xông khói trong hầm. Khói thơm không chỉ xua hết muỗi mà còn chống hơi đất và át được cái mùi ngai ngái trong hầm. Mấy đứa chui vào hầm ngủ mà cứ hít hà thích thú. Thằng Trọng là đứa nghiền mùi vỏ bưởi bồ kết từ khi lọt lòng. Nghe nói, khi sinh ra thằng Trọng bé như con chuột. Mẹ nó chịu khó chăm bẵm, chiều nào cũng phải xông hương, quản gió nên khi đầy năm thằng Trọng mới lớn bằng con mèo.
Đám trẻ không sợ máy bay, chúng chỉ sợ nửa đêm đang ngủ ngon mà bị cha mẹ lôi dậy rồi kéo xuống hầm trú ẩn. Hầm “Triều Tiên” là tên gọi loại hầm nửa chìm nửa nổi. Nửa chìm âm xuống mặt đất chừng nửa mét. Nửa nổi được ghép các cây tre sít vào nhau theo hình chữ A giống như mái nhà rồi đắp đất phủ lên. Có lẽ kiểu hầm này học theo mẫu từ bên nước Triều Tiên nên mới có cái tên như vậy.
Đêm cuối năm 1972, khi đám trẻ đang ngủ ngon giấc thì bỗng dưng cả căn hầm rung lắc dữ dội như muốn hất tung tất cả. Đám trẻ ngồi bật dậy ôm chặt nhau. Đất cát trên mái hầm trút xuống ào ào. Các tia chớp sáng xanh chói mắt quyét thẳng vào hầm, ngồi trong hầm mà sáng như ban ngày. Tiếng bom nổ dồn dập liên hồi, đám trẻ như sắp nghẹt thở. Người lớn run rẩy cổ họng khản đặc, chân tay chạm vào chỗ nào cũng có đất đá vương vãi. Sau trận bom kéo dài khủng khiếp, cả làng chao đảo mất phương hướng, màn đêm càng trở nên mù mịt bết quánh. Mùi khét của khói bom nồng nặc. Phía rìa làng lửa cháy lập loè. Một lát sau mới nghe tiếng kẻng tiếng mõ báo động, tiếng dân quân gọi nhau í ới.
Không một ai dám bấm đèn pin và cũng chẳng ai kịp hiểu ra chuyện gì. Thường ngày mỗi khi có động là đàn chó sủa ầm ĩ, sủa từ đầu làng đến cuối làng vậy mà đêm ấy không một con chó nào dám sủa. Những con gà trống rúc đầu vào góc chuồng, im bặt tiếng gáy. Cả làng Tràng căng mình thức trắng trong đêm tối. Khi không có tiếng chó tiếng gà quen thuộc người ta mới chợt nhật ra sự im ắng cũng thật đáng sợ. Sợ hơn cả tiếng máy bay ì ầm trên bầu trời.
Mờ sáng, dân quân mới tiếp cận được khu vực bị ném bom. Lần đầu tiên người dân nghe nói máy bay B52 đã ném bom rải thảm qua rìa làng Tràng. Khu vườn của ông bà Đắc nằm đúng vào giữa những cái hố bom toang hoác kéo ra tận bờ sông. Cuối vườn chỉ còn lại bụi tre gai bị tuốt sạch lá, nằm hất ngược lên như cái chổi khổng lồ. Cũng nhờ bụi tre đó mà dân quân xác định được vị trí căn nhà ông bà Đắc giờ chỉ là cái hố bom sâu hoắm. Dân quân bới từng cục đất tìm kiếm. Đến trưa cũng chỉ nhặt được một đoạn ruột vắt trên bụi tre và vài mẫu thịt bầm đen lẫn với đất.
Đến chiều, tất cả những gì tìm thấy được gói gém trong cái hộp gỗ nhỏ. Một đám tang vội vàng trong hoảng loạn. Đám tang không cờ không trống, không lời tiễn đưa, không bà con thân thích… Chỉ có tiểu đội dân quân vai mang súng trường lặng lẽ. Mọi người bùi ngùi nhìn núm đất vừa đắp lên bằng cái thúng, không ai muốn tin đó là ngôi mộ của ông bà Đắc.
Sau trận bom B52, đám trẻ hoàn hồn nhanh nhất. Chúng bí mật rủ nhau ra bãi đất ngoài bờ sông để tìm mấm mồ của ông bà Đắc. Thằng Trọng chuẩn bị được mấy cây hương. Nó phải bẻ đôi ra mới đủ cho mỗi đứa cầm một cây. Trong làn khói hương, thằng Trọng kính cẩn:
– Ông Đắc bà Đắc ơi! Chúng con là đám trẻ làng Tràng đây ạ. Chúng con sẽ thay chú Ơn thắp hương cho ông bà. Đến ngày chú Ơn trở về chú sẽ tiếp tục chăm lo hương khói…
Tiếng sụt sịt, tiếng nấc nghẹn ngắt quãng lời thằng Trọng. Không ai bảo ai nhưng trong lòng đám trẻ đều tự hứa sẽ trông coi phần mộ ông bà Đắc thật chu đáo để chờ đến ngày chú Ơn trở về.
Khoảng nửa năm sau, làng Tràng gặp phải trận lụt khủng khiếp. Cả làng lũ ngập tràn đục ngầu. Đám trẻ í ới gọi nhau đội mưa dẫn đàn bò lên vùng xóm Cồn để tránh lũ. Mấy ngày sau nước lũ mới từ từ rút khỏi làng. Từng lối đi dần hiện lên giữa lớp bùn non, rác rưởi ngập ngụa. Mùi xác động vật và chuột chết nồng nặc. Một nửa khu vực nghĩa địa của làng Tràng bị san phẳng. Đám trẻ kéo nhau bì bõm lội bùn đến thăm mộ ông bà Đắc chỉ còn biết ôm nhau run rẩy. Nơi có phần mộ của ông bà Đắc đã bị xói lở thành cái rãnh sâu quá đầu người. Nhìn về phía bờ sông quen thuộc, cây muỗm đực cũng đã biến mất. Đám trẻ vô cùng hoang mang và có cảm giác như người mắc lỗi. Không biết khi chú Ơn trở về chúng sẽ phải nói với chú thế nào đây.
Rồi những ngày tiếp theo, chưa bao giờ làng Tràng phải dồn dập trải qua những nỗi đau buồn khốn khó đến vậy. Sau trận lụt, UBND xã không thể trì hoãn thêm nữa mà phải tổ chức đợt báo tử. Các liệt sĩ đều được xã tổ chức báo tử tại gia đình. Riêng trường hợp chú Ơn – liệt sĩ Hồ Đắc Ơn sẽ tổ chức tại trụ sở UBND xã. Khi biết tin, đám trẻ làng Tràng ôm nhau khóc rung rúc. Không ngờ chú Ơn lại không bao giờ trở về nữa. Dân làng sụt sùi tê tái. Ai cũng than thở, trời cao bất công quá. Tại sao trời cao lại để ông bà Đắc và chú Ơn biến mất khỏi làng Tràng theo cái cách xót xa đến thế?
***
Chiến tranh đã đi qua hơn nửa thế kỷ. Một khoảng thời gian đủ dài để làng Tràng xoá hết mọi vết tích của chiến tranh. Từ lâu tất cả các hố bom đều đã được san phẳng. Nơi thì xây dựng khu dân cư, nơi thì tít tắp ruộng ngô, ruộng cỏ, ruộng hoa hướng dương để phục vụ chăn nuôi. Gia đình ông bà Đắc như chưa từng xuất hiện trong làng; không còn họ hàng con cháu, không còn vườn tược nhà cửa, không còn mồ mả, không còn người thờ cúng… Toàn bộ hồ sơ của liệt sĩ Hồ Đắc Ơn sau lần xã báo tử có thể đã lẫn khuất vào một ngăn hồ sơ lưu trữ nào đó. Chỉ có đám trẻ rèo bò 5X làng Tràng ngày ấy là cứ lớn lên, già đi và phiêu bạt. Mỗi khi nhóm 5X làng Tràng gặp nhau, cái cảm giác bất lực mắc nợ chú Ơn và ông bà Đắc lại nhoi nhói, đeo đẳng, không thể nào dứt ra được.
Cơn mưa trên nghĩa trang liệt sĩ tạnh hẳn. Bầu trời trong xanh vời vợi, không khí mát lành nhẹ nhàng. Nhẹ nhàng đến nỗi người ta có thể tin nơi đây chưa từng có chết chóc bom đạn. Từ trên tán cây bằng lăng ở góc nghĩa trang, đàn chim sẻ sà xuống, mắt chúng long lanh như những giọt mưa còn đọng lại. Chúng ngó nghiêng rí rích trên từng ngôi mộ. Dường như đàn chim đang được những bàn tay vô hình nâng niu đùa giỡn.
Nhóm người U70 làng Tràng ngồi bên nhau tận hưởng cảm giác bình yên kỳ lạ ngay giữa nghĩa trang. Họ nghĩ giờ này ở quê hương làng Tràng chắc không còn ai nhớ đến ông bà Đắc và chú Ơn nữa. Các liệt sĩ dù đã quy tập hay chưa quy tập nhưng vẫn được người thân hương khói giỗ chạp theo ngày hy sinh trong giấy báo tử. Còn chú Ơn nằm đây, phần mộ đầy đủ họ tên quê quán nhưng chú lại chưa một lần được gia đình làm đám giỗ. Khả năng đi lại thăm viếng của mấy lão U70 cũng đang cạn dần theo tuổi tác. Liệu các lão còn đủ sức để đến với phần mộ chú Ơn được mấy mùa nữa? Các lão trong nhóm 5X làng Tràng bao năm qua đã bằng mọi cách tìm kiếm người thân, gốc gác của chú Ơn nhưng càng tìm kiếm càng vô vọng. Thân phận chú Ơn cũng như cây muỗm đực vô danh bên dòng sông quê, mọc lên lúc nào không ai biết, đến khi bật gốc biến mất cũng chẳng ai hay. Các lão ngậm ngùi ngộ ra mọi kiếp người đều trở về với miền cát bụi. Cát bụi là điểm đến cuối cùng. Cát bụi không còn nỗi đau. Cát bụi không cần hương khói. Đối với những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc thì ước nguyện cao cả nhất của họ chính là sự trường tồn trong lòng dân tộc. Sẽ đến lúc hài cốt liệt sĩ hoá vào miền cát bụi và những dòng tên trên mộ không còn là tên riêng nữa. Bởi vì tên các anh đã thành tên đất nước.
Vũng Tàu – TPHCM 7.2026
TRẦN VINH















