Vanvn- Bài ca không quên tri ân sẽ còn vang vọng mãi tới các thế hệ sau về lòng biết ơn đối với những thế hệ đi trước đã xả thân vì nền hòa bình, độc lập dân tộc như chúng ta đã được tận hưởng cuộc sống hôm nay!
Theo thông tin từ cơ quan truyền thông: Sáng 3.3.2026, tại Hà Nội, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ đã chủ trì Hội nghị triển khai công tác năm 2026 của Ban Chỉ đạo.

Đất nước ta trải qua một hành trình dài với cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và giải phóng khỏi ách đế quốc, thực dân. Đặc biệt là hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ nửa đầu thế kỷ 20. Có rất nhiều các tác phẩm văn học nghệ thuật đã phản ánh trực diện về cuộc kháng chiến nhiều vinh quang nhưng cũng vô cùng khốc liệt ấy. Là vẫn còn các anh hùng, liệt sĩ nằm lại các chiến trường đã qua hơn nửa thế kỷ nhiều gia đình thân nhân liệt sĩ chưa tìm được thân nhân nằm ở góc trời nào trên khắp các mặt trận…
Tháng 3 năm 2026 Chính phủ tổ chức Hội nghị triển khai cuộc tổng tìm kiếm, quy tập (TKQT) và xác định danh tính (XĐDT) hài cốt liệt sĩ. Đồng chí Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà là Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia (TKQT) và (XĐDT) năm 2026. Mục tiêu của Kế hoạch nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và cả hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập (TKQT) và xác định danh tính (XĐDT) hài cốt liệt sĩ, tạo sự chuyển biến tích cực, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt thiêng liêng; góp phần tri ân và ghi nhớ sâu sắc công lao to lớn của các Anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ Nguồn” “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27.7.1947 – 27.7.2027)…
Hy vọng từ Chiến dịch tổng tìm kiếm quy mô này sẽ có nhiều thân nhân gia đình liệt sĩ tìm được người thân của mình sau bao năm còn nằm lại giữa những nghĩa trang của địa phương từ cấp xã đến cấp tỉnh ở các khu vực mặt trận mà họ tham gia chiến đấu.
Chiến dịch tổng tìm kiếm này cho thấy Chính phủ đã chỉ đạo để “không ai bị lãng quên” khi họ đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình cho đất nước, cho dân tộc được hòa bình, độc lập như ngày hôm nay. Là một Bài ca không quên của cả dân tộc đối với những người lính tham gia các cuộc kháng chiến giành lại nền hòa bình, độc lập dân tộc.
Trong hành trình tri ân ấy, có nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật đã đi cùng năm tháng, là những “bài ca không quên” của nhân dân đối với những người lính đã ngã xuống! Chắc hẳn ca khúc Bài ca không quên của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn như đã “đóng đinh” trong trái tim mỗi ai, đã có trong hành trang cuộc sống của nhiều người, mỗi khi lời ca ấy, giai diệu ấy cất lên là dâng lên muôn vàn rung động trong mỗi trái tim người Việt Nam. “Có một bài ca không bao giờ quên. Là lời đất nước tôi chẳng phút bình yên… Bài ca tôi không quên, tôi không quên. Gót mòn hành quân hối hả…Gửi trọn đời cho tất cả. Là đồngmđội tôi còn ôm súng giữ biên cương. Có một bài ca không bao giờ quên…”
Tôi chợt nghĩ hình như nhiều ca khúc hay, da diết vẫn luôn là những ca khúc viết về những người đã ngã xuống trong các cuộc chiến tranh giữ nước. Như Bài ca không quên hay ca khúc Biết ơn chị Võ Thị Sáu, “Mùa hoa lê-ki-ma nở. Ở quê ta miền đất đỏ. Thôn xóm vẫn nhắc tên người anh hùng đã chết cho mùa hoa lê-ki-ma nở. Đời sau vẫn còn nhắc nhở. Sông núi đất nước ơn người anh hùng đã chết cho đời sau.…” Mỗi mùa hoa le ki ma nở… những ca từ giản dị mà luôn “chạm” đến sâu thẳm người nghe, một nỗi niềm xúc cảm rất riêng.
Là ai cũng rưng rưng khi nghe ca sĩ cất lên lời bài hát Cỏ non thành cổ của nhạc sĩ Tân Huyền, là ca khúc viết về sự hy sinh của những anh hùng liệt sĩ ở chiến trường Quảng Trị ngày ấy. Là sự hy sinh cao cả của những anh hùng, liệt sĩ, trong khúc tráng ca có tên Cỏ non thành cổ của nhạc sĩ Tân Huyền, ai nghe cũng đồng cảm xót xa:…
“Cỏ non thành cổ, một màu xanh non tơ. Cỏ non Thành Cổ…nào ai có ngờ nơi đây một thời máu đổ…Cỏ xanh non tơ, xin chớ vô tình với người hy sinh cho hạnh phúc quê mình…” Giai điệu vút lên, rồi như thì thầm với người nghe về những người lính đã nằm lại ở Thành Cổ Quảng Trị năm xưa da diết thẳm sâu.
Bên cạnh thể loại ca khúc đã đi vào tâm khảm những người yêu nhạc Việt mà ta quen gọi là “nhạc đỏ”, là những ca khúc hào hùng về chiến tranh cách mạng, thì các thể loại văn học nghệ thuật khác cũng rất nhiều tác phẩm về chiến tranh cách mạng được công chúng mến mộ. Cũng giống như tôi và bao người đã xem và đã khóc cùng các nhân vật trong hai bộ phim trên truyền hình Việt Nam gần đây được phổ biến là Mùi cỏ cháy và Mưa đỏ. Hai bộ phim cùng nói về cuộc chiến ở Thành Cổ Quảng Trị, mỗi tác giả kịch bản đều có lý do riêng để xây dựng hình ảnh về người lính giữa những khốc liệt của chiến tranh ngày đó. Với phim Mùi cỏ cháy của tác giả, đạo diễn, nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm mang hơi hướm lãng mạn của một thời thanh niên với khí thế, với lý tưởng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, nhưng sau những hăng hái nhiệt huyết của tuổi trẻ ấy thì là sự mất mát lặng người. Là những lát cắt của nghệ thuật qua ngôn ngữ điện ảnh cho ta thấy một bức tranh đầy bi hùng của những người lính ở chiến trường. xếp bút nghiên ra trận vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Ở phim Mưa đỏ hoặc nếu ai đã đọc tiểu thuyết Mưa đỏ của nhà văn Chu Lai, chúng ta đều có chung cùng tinh thần “lạc quan” của người lính để họ tự vượt qua những khó khăn thiếu thốn giữa cuộc chiến mà như nhà văn khắc họa từng ngày, cho đến ngày thứ 80 trong 81 ngày đêm lịch sử những người lính bám trụ ở Thành Cổ họ đã luôn giữ vững tinh thần quả cảm của người lính mang trong trái tim mình là phẩm chất cao đẹp của người lính Cụ Hồ. Là ở cả bộ hai phim Mùi cỏ cháy, Mưa đỏ (phim) và Mưa đỏ tiểu thuyết, các tác giả đã tái hiện thật sinh động sự bi tráng ấy. Hình ảnh người lính bị thương hy sinh trong tiểu thuyết Mưa đỏ đã lặng lẽ chìm xuống và trôi vào lòng dòng sông giới tuyến như trong muôn vàn con sóng thì không một lời nào có thể diễn tả thêm. Họ đã hóa thân vào lòng đất mẹ nhẹ như con sóng của dòng Thạch Hãn. Và nếu như trong chiến dịch 500 ngày tìm kiếm hôm nay, những người lính như những ngọn sóng dòng Thạch Hãn kia liệu có kịp tấp vào bờ bến nào để được nương linh hồn mình vào đất quê hương để người hôm nay tìm được anh “trở về”. Dù là sự “về” mang hình hài khác..,

Tôi vẫn nghĩ, mỗi người lính ngã xuống như hóa thành một ngôi sao trên bầu trời bao la kia, để mong họ được an nghỉ trong thế giới xa xôi vẫn có những đồng đội dù đã ngã xuống và còn sống vẫn luôn bên họ…
Nhân sự kiện thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập (TKQT) và xác định danh tính (XĐDT) hài cốt liệt sĩ, thời gian là 500 ngày đêm (TKQT, XDDT), một hoạt động mang tính quốc gia thật đặc biệt sau hơn nửa thế kỷ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là hành động tri ân lớn đối với những người con đã ngã xuống vì nền hòa bình, độc lập dân tộc.
Từ sự kiện đặc biệt nêu trên, tôi lại nhớ về câu chuyện của cựu chiến binh Binh đoàn than ở Quảng Ninh.Tôi nhớ nhân kỷ niệm đi cùng các cựu chiến binh thuộc Ban liên lạc Chiến sĩ Binh đoàn Than ra trận trở lại chiến trường xưa nhân 50 năm ngày ra trận (30.7.1967- 30.7.2017), là một chuyến đi thật nhiều cảm xúc. Tôi nhớ bác cựu chiến binh Nguyễn Bá Sơn (ngụ ở phường Hạ Long) đã tham gia bộ đội từ cuộc kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ, người nhiều lần trở lại chiến trường xưa tìm hài cốt đồng đội mang về cho gia đình họ. Thật trân trọng một người đồng đội luôn lấy công việc trở lại chiến trường tìm đồng đội đã hy sinh sau ngày hòa bình làm lẽ sống như ông nghĩ, mình được may mắn hơn đồng đội thì mình làm việc đó không vì điều gì khác! Và không chỉ công việc bỏ tiền cá nhân, thu xếp thời gian đi tìm đồng đội, mỗi dịp tháng bảy về, hai vợ chồng ông không bao giờ quên mua hương hoa để đến nghĩa trang liệt sĩ trong thành phố! Sau này ông ốm yếu không đi được bà vợ vẫn thực hiện di nguyện của ông…
Dịp đó, tôi đi cùng các cựu chiến binh viếng thăm nghĩa trang liệt sĩ ở huyện Hướng Hóa (cũ), nghĩa trang Đường 9, Khe Sanh thuộc tỉnh Quảng Trị, có cựu chiến binh Nguyễn Tiến Hòe (ngụ ở phường Hà Tu) đã vỡ òa khi nhìn thấy tên đồng đội cũng là người anh họ cùng quê của mình ở đó. Vì gia đình từ trước đã đi tìm rất nhiều nghĩa trang khác, nhưng không tìm thấy.
Chúng tôi cùng rưng rưng xúc động với ông, người cựu binh đã bước qua tuổi 70 đứng khóc giữa nghĩa trang trong một chiều biên giới gió thổi lồng lộng. Điều đặc biệt là ông Nguyễn Tiến Hòe từng cùng đồng đội Nguyễn Bá Sơn đã có 7 lần trở lại chiến trường xưa tìm và đưa hài cốt đồng đội trở lại Quảng Ninh, nhưng lại không tìm được người anh này, mà lần này ông Hòe lại tìm thấy người anh, người đồng đội mà bao lâu nay ông và gia đình vẫn đi tìm …
Và khi nhìn thấy nhiều dãy mộ có dòng chữ : “liệt sĩ vô danh”, “liệt sĩ chưa biết tên”- các cựu binh Binh đoàn Than đều đứng lặng! Tôi cũng đứng lặng cùng các anh giữa nghĩa trang bời bời gió lộng bên dòng Sê Pôn ngờm ngợp gió (Sông Sê Pôn bắt nguồn từ phía Tây dãy núi Trường Sơn, trên địa bàn muang Sa Mouay và muang Nong, tỉnh Savannakhet của Lào, sau đó chảy theo hướng Tây Bắc vào Việt Nam, đi qua huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) cũng là chiến trường xưa của các cựu chiến binh Binh đoàn Than năm xưa. Nơi đây họ đã dừng chân rồi mỗi người được biên chế về các đơn vị khác nhau.
Như anh Nguyễn Văn Việt nguyên thợ mỏ than Hà Lầm cùng một số anh khác đã được biên chế vào đơn vị đặc công 406 Kon Tum. Anh đã hy sinh anh dũng ở chiến trường Tây Nguyên khi vừa qua 20 tuổi. Nhưng, vì nhiều thủ tục để hoàn thiện hồ sơ sau ngày giải phòng miền Nam, tức là 25 năm sau ngày anh hy sinh anh mới được truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân!
Người thợ mỏ Hà Lầm, người lính ấy rất đặc biệt, đã 2 lần được đơn vị làm lễ “Truy điệu sống” để anh cảm tử bước vào cuộc chiến đối đầu với giặc một đi không trở lại. Nhưng hiếm có người lính nào như anh đã 2 lần nhận lễ “Truy điệu sống”! Đó lần thứ nhất vào ngày 7 tháng 1 năm 1969 khi đơn vị đánh vào Biệt khu 24, anh đã trở về an toàn. Nhưng lần thứ 2 vào ngày 16 tháng 3 năm 1971, đánh vào sân bay Kon Tum anh đã không thể trở lại! Lần này anh bị trúng đạn rồi, nhưng anh vẫn bám trận địa dù đồng đội đã đề nghị cáng anh ra khỏi vị trí đang đối đầu với lực lượng địch đông và mạnh hơn quân ta. Nhưng anh từ chối một mình nổ súng thu hút hỏa lực địch về phía mình…và anh đã anh dũng hy sinh!
Người thợ mỏ, người chiến sĩ Nguyễn Văn Việt ấy là một tấm gương anh hùng, quả cảm dám chấp nhận hy sinh về mình để đồng đội rút xa và mình sẵn sàng đối mặt với kẻ thù dù biết đó là đối mặt với sự hy sinh! Một tấm gương anh hùng không nao núng trước họng súng quân thù và bắn đến viên đạn cuối cùng mới phải nhận viên đạn thù và hy sinh anh dũng!
Rất may là sau này đồng đội và gia đình đã tìm được phần mộ nơi đồng đội chôn cất anh ở chiến trường và đã đưa anh về nghĩa trang liệt sĩ Hà Tu (tỉnh Quảng Ninh)…
Chiến tranh qua đi nhưng vết thương chiến tranh vẫn còn hiện diện đâu đó chưa bao giờ phai nhạt, nhân dân chưa bao giờ quên ơn các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh thân mình vì nền độc lập, hòa bình dân tộc…
Tháng Bảy về, nhiều các thân nhân gia đình liệt sĩ vẫn còn phải chờ đợi tin người thân trở về. Qua các phương tiện thông tin truyền thông, có nhiều bà mẹ gần trăm tuổi vẫn thao thức mong tin con trai trở về, các mẹ vẫn tin con trai mình chỉ “trốn” đi đâu đó chưa trở lại quê nhà. Mong rằng những mong mỏi ấy sớm được thỏa nguyện cho những người mẹ đã tiễn con vào mặt trận năm xưa sẽ còn cơ hội nhận lại con mình trong một hình hài khác! Những người em, người con của các liệt sĩ sớm nhận được thông tin về thân nhân của mình! Dù muộn vẫn còn hơn là không, khi chiến dịch tổng tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ được Chính phủ huy động toàn Đảng, toàn quân và nhân dân cùng tham gia để thực hiện được mong muốn đền đáp tri ân những người lính, những anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống vì nền độc lập, hòa bình dân tộc xứng đáng….
Tháng Bảy về, tháng tri ân những người lính thương binh, anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì hòa bình, độc lập dân tộc, là Bài ca không bao giờ quên trong mỗi chúng ta. Và không chỉ có riêng tháng Bảy – Bài ca không quên tri ân sẽ còn vang vọng mãi tới các thế hệ sau về lòng biết ơn đối với những thế hệ đi trước đã xả thân vì nền hòa bình, độc lập dân tộc như chúng ta đã được tận hưởng cuộc sống hôm nay!
Tháng bảy – Một Bài ca không quên, Bài ca không bao giờ quên về những người đã ngã xuống cho Tổ quốc ta bình yên hôm nay. Và tôi đã từng theo nhóm bạn hành trình tri ân vào tháng bảy, như hôm nay khi tôi hoàn thiện bài viết này thì có rất nhiều bạn bè, tổ hội nhóm của tôi đã lên đường và đang có lịch đầu tháng bảy cùng nhau lên đường như đã hẹn thường niên, tháng bảy là đi đến các nghĩa trang liệt sĩ dâng hương. Tháng bảy là dành trọn cho Bài ca không quên về lòng biết ơn!
VŨ THẢO NGỌC















