Tượng đồng – Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Hà

Vanvn- Nhà văn Nguyễn Thị Thu Hà là hội viên mới Hội Nhà văn Việt Nam năm 2022. Chị sinh ngày 23.10.1979, cử nhân Pháp văn, thạc sỹ chuyên ngành quản lý văn hóa, hiện là Phó Chủ tịch Thường trực Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bắc Giang – Tổng biên tập Tạp chí Sông Thương.

Nhà văn Nguyễn Thị Thu Hà

Bắt đầu sáng tác và dịch thuật từ năm 2001, đến nay Nguyễn Thị Thu Hà đã xuất bản các tác phẩm: Góc xanh khoảng trời (Tập tản văn, NXB Văn Học, 2013); Hoa oải hương (Tập truyện ngắn, NXB Dân Trí, 2016); Ngàn năm dưới bóng quê nhà (Tập bút ký, NXB Quân đội nhân dân, 2018); Tiếng chim sứ và cây lộc vừng (Tập truyện ngắn – tản văn, NXB Dân Trí, 2019) và được trao các giải thưởng văn học: Giải sáng tác Văn học nghệ thuật Bắc Giang năm 2011, 2014  về đề tài Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Giải khuyến khích về Giải thưởng VHNT Sông Thương lần thứ 4 (5 năm 1 lần); Giải C truyện ngắn của Bộ Công An viết về hình tượng chiến sĩ cảnh sát nhân dân năm 2022.

Nhà văn Nguyễn Thị Thu Hà quan niệm: “Trách nhiệm của người viết văn là tìm kiếm, phát hiện những câu chuyện mang hơi thở của cuộc sống, có giá trị cốt lõi nhân văn, hướng thiện để kết nối, lan tỏa cảm xúc tích cực từ một cá nhân tới cộng đồng. Nhà văn là người hoạt động cách mạng văn hóa trong mọi thời đại”.

 

Hội viên mới Hội Nhà văn Việt Nam 2022:

>> Thơ Cao Nguyên Quyền: Mặt giấy mọc nghiêng mầm buồn

>> Lưỡn – Truyện ngắn của Trịnh Đình Nghi

>> Thơ Bùi Việt Phương: Cây lên xanh nhận đất giữ biên thùy

>> Cuộc phiêu lưu của Ỉn Hồng – Truyện Đào Thu Hà 

>> Truyện ngắn của Đỗ Xuân Thu: Lão “Chõe Bò”

>> Thơ Huỳnh Văn Quốc: Từ trong giá lạnh khơi nguồn mùa sau

>> Hoàng hôn có nắng – Truyện ngắn Hoàng Thị Trúc Ly

>> Thơ Bùi Minh Vũ: Gọi rẫy thiêng liêng như tên buôn, tên vợ, tên chồng

>> Cuộc phiêu lưu của Poly – Truyện ngắn của Hồng Cư

>> Thơ Nguyễn Phong Việt: Đời sợ lắm những ngày im tiếng gió

>> Một chuyến hoa xuân – Truyện ngắn Trác Diễm

>> Hai truyện ngắn thiếu nhi của Lê Đức Dương

 

Một thằng bé chừng 9 tuổi, cái mặt đen nhẻm từ trong đống sắt vụn thò ra. Một thằng bé nữa nhỏ hơn, một thằng bé khác lớn hơn. Người khách chỉ tay vào thằng bé đầu tiên. Nó đi theo người đó. Sau những gáo nước dội từ đỉnh đầu xuống chân, mạt sắt li ti trôi theo nước chảy thành dòng xuống lòng sông. Tần ngần nó nhìn dòng nước đỏ nâu chảy xuống. Nó bỗng nảy ra một câu hỏi vu vơ trong đầu: “Nước kia sẽ chảy về đâu?”

Và nó như một dòng nước nhỏ thoát ra khỏi cái bể sắt – những đứa trẻ chuyên đi gom sắt vụn. Nhiều đêm nằm trong cái nền nhà ẩm mốc trên tấm nilon trải dưới đất, nhìn trong trong lên mái nhà có những cây tre nằm song song nhau thườn thượt kết lại với nhau bằng cái vì kèo. Nhà ngói nhiều con thạch sùng lách tách đi chơi trên cột tre. Ngắm thạch sùng đi chơi là một thú vui của nó và thằng Mứt. Bây giờ nó sẽ gác lại thú vui đó để theo một người đàn ông về một nơi mà nó khó tưởng tượng được là sẽ sống như thế nào. Miễn là có cơm ăn no.

Bạn nó, những đứa trẻ cùng cảnh nhìn nó từ xa với ánh mắt thật lạ, có chút ghen tị, tò mò. Thằng Mứt đứng nấp sau cái thân tàu vỏ sắt han gỉ nhìn nó. Nó định chạy lại để tạm biệt Mứt.  Nhưng nó đứng trân trân nhìn xuống đất, không nhúc nhíc, y như một cái cọc nhỏ, người ta sẽ nhổ lên khỏi bãi cát này mà mang đi đến cắm ở nơi nào cần. Hoặc như nó sợ tuột mất cơ hội ra đi này!

***

Kể từ đó Mặc trở thành con nuôi của nhà ông Nhất. Ông làm nghề thầy cúng. Cái nghề không giàu nhưng đủ việc quanh năm. Ông Nhất  người dân trong vùng gọi là thày cúng Nhất đã đổi tên cho Mặc thành May. Hoán cải tên thế để cuộc đời gặp nhiều may mắn. Con người sinh ra đã là một vận may, nhưng sống cho đàng hoàng, cho được ra sống cũng phải chờ vận may mới có. Cái may của đời người lớn nhất nữa là được sống trong tình yêu thương. Thế là May có cha là thầy cúng.

Ngày rằm, mùng một theo lệ cha giao, May lên chùa làng quét dọn ban bệ, lau tượng. Từ đó chẳng có góc ngách nào trong ngôi chùa May không cọ quẹt cái chổi tới.

Người đến chùa cầu cúng ngày một đông hơn. Tiếng tăm ngôi chùa thiêng không sư lan tới tận thành phố. Người ta đi xe lớn, xe bé về đậu ở ngoài đường, xì xụp cúng bái, hỉ hả ra về.

Cái bữa này, May lên quét sân chùa là lần cuối. May xin cha cho đi học tiếp lên để có một cái nghề. Ông Nhất thở dài lừng chừng. Công việc canh chùa này làm May đang thấy nẫu ruột vì tẻ nhạt buồn chán. Cứ thấy thiên hạ dập dìu đi đến. May tò mò ngoài thiên hạ có bao điều tưng bừng mà sao tuổi trẻ của nó lại quẩn quanh góc làng này vậy. May nghe người ta nói chuyện đây đó mà thèm một phen ra khỏi làng.

Một người đàn ông áng chừng đến từ vùng rất lạ, ngồi trước bệ hiên ngắm nghía cảnh chùa mà chưa vội vào lễ chùa. May lễ phép mời ông vào trong nghỉ ngơi cho mát.

Ông ta vào gian chính của chùa và bắt đầu xem xét tất cả bằng đôi mắt nheo nheo nhìn đi nhìn lại hai ông hộ pháp to nghễu nghện ở hai bên Tam bảo rồi sờ nắn vào tượng và gật gù. Tay ông ta gõ gõ lên đùi tượng, ghé tai vào nghe âm thanh. Ông ta tỏ ra ngạc nhiên và vẫy May lại gần: Chú biết tượng bằng gì không? May ngập ngừng, nghe cha từng kể, tượng ở đây toàn bằng đất sét trộn mật gì đó. May trả lời: Làm bằng đất sét ạ! Ông khách mỉm cười: “Hình như thế! Đặc biệt, đặc biệt. Tài hoa tài hoa. Đẹp, đẹp thật!”

Ông ta như mê mẩn sờ nắn, ngắm nghía từng ông tượng La Hán ở hai bên hành lang nối từ tòa tiền tế ra sau. Ông ta xem xét rồi thử ôm lấy cái cột chùa trọn khít vòng tay. Mắt ông ta sáng rực lên, đầu gật gù liên hồi như kẻ phát hiện ra kho báu. May nhìn thấy hết. May phì cười, lần đầu tiên có người yêu ngôi chùa này đến từng viên đá kê chân cột chùa. Khi ra phía sau chùa, ông ta còn tỏ vẻ kinh ngạc trước cây đại sù sì lởm chởm, cổ thụ, thân dẻo dai nằm ngang vắt như con rắn hổ mang ngóc đầu lên trời mà vờn vào phía mái chùa cong lên. Hoa đại ngan ngát. Hoa mẫu đơn trắng nồng nàn. Ông ta ngồi xuống nền cỏ tựa lưng vào gốc đại mà thư thái, thích thú. Đôi  bàn tay vuốt ve lên mấu sù sì của thân cây. Chính cái chỗ ấy còn găm nguyên một đầu cát tút đạn vào, một vết sẹo đặc biệt giống hình con mắt có tròng. Ông ta thảng thốt, hơi thở hổn hển như bao chặt lấy mấu xù sì của gốc cây: Tam đa, giống mặt ngài Tam Đa. Là cái thứ quái quỷ nào nhỉ! May không hiểu. Ngày nào May chẳng đi qua đi lại cái gốc xù xì này. Quét đến mòn vẹt mấy cái chổi tre cào trên mặt sỏi bật tung những lá cây rụng đen nâu. Thỉnh thoảng liếc nhìn cái gốc cây xù xì cũng là lạ nhưng có gì lạ đâu, chỉ là một gốc cây bị tật, hồi nhỏ còn thấy  sợ vẻ kỳ dị ấy.

Tranh của họa sĩ Nguyễn Quang Thiều

Ông ta hỏi May, có biết những bức tượng kia tên là gì? May lắc đầu. Ông ta bảo: Ngôi chùa bảo vật thế này mà bị lãng quên. Hiếm. Hiếm có vùng nào có chùa có bộ tượng đủ La Hán thế này. Ông ta lại khen nghệ thuật tạo hình quỷ quái gì đó là đẹp, tinh xảo. Tuyệt vời. Tóm lại là ông ta dùng những mỹ từ để nói về vẻ đẹp của tất cả những thứ bình thường mà May vẫn cọ quẹt thân quen. Nhưng nghe được những gì ông ấy ca tụng, khen ngợi bỗng lòng May có ngọn lửa nóng rực, như nôn nóng tự hào, như hiểu biết, như mở mang trí tuệ… Giờ May mới biết ở đây có 18 ông cả thẩy. Nào là Mahakasyapa, Ananda, Upakuta… đọc đau miệng quá! Ông đứng ông ngồi, khi thì ngước mặt lên trời chỉ vào không trung; khi thì hững hờ với cảnh vật, tì cằm trên đầu gối nhếch môi cười một mình nửa tinh nghịch, nửa mỉa mai. Có ông với vẻ mặt hân hoan tươi tắn, khổ người đầy đặn tròn trĩnh; Có ông vẻ mặt đăm chiêu lạ thường; có ông như đang đắn đo phân bua hay đang thì thầm trò chuyện cùng ai đó. Có ông thân hình gầy gò, mặt dài, nhỏ, gò má cao, môi mỏng… Đúng là cuộc đời muôn thế, muôn kiểu dáng! Cuối cùng, ông ta soi xét chăm chú nhìn bức tượng nhỏ bằng đồng đen trên ban Tam bảo ở gian chính. Đó là tượng cậu bé bằng đồng đen, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất. Miệng ông ta bẩm bẩm:

Thiên thượng thiên hạ,

Duy ngã độc tôn.

Nhất thiết thế gian,

Sinh lão bệnh tử.

Đây là bức tượng do người làng bên cung hiến vào chùa. Bức tượng này có từ cha ông người đó trong một buổi đi làm đồng nhặt được dưới mương nước ở chân đồi ngôi chùa này. Từ khi có bức tượng đồng trong nhà, chỉ biết là đẹp và bày lên ban thờ. Đời thứ hai nhà ông ta sinh ra một người lúc bé thì khôi ngô tuấn tú, lớn lên bỗng dưng đổ bệnh dở hơi. Thầy cúng Nhất đã nhiều lần làm lễ để trừ yêu quái nhập vào người cậu ta. Người nhà cũng đã đưa cậu ta đến bệnh viện tâm thần các nơi để chữa trị mà không ăn thua. Đến khi nhìn lên ban thờ nhà ấy, biết rõ ngọn nguồn của bức tượng đồng, thầy cúng Nhất khuyên gia đình nên cung hiến vào chùa may ra làm phúc như thế mới được phúc. Người đàn ông xa lạ ấy liếc nhìn May một cái, rồi xin phép được đụng vào bức tượng đồng. Ông ta ngắm nghía một cách say mê, rồi bất chợt, thè lưỡi liếm nhanh tượng đồng. Mắt lim dim phán đoán. À lên một tiếng khoan khoái. Xong việc thăm chùa, ông ta tức tốc đến ngay ủy ban xã. Chẳng biết ông ta trình bày nỗi gì, mà chiều hôm đó, có ngay mấy anh công an và cán bộ xã lên chùa, bàn việc với ông Nhất. Họ thống nhất phải làm ngay một hòm kính, tủ gỗ chắc chắn để đặt tượng Phật đồng này vào, rồi đặt lên trên chỗ uy nghiêm hơn. Tuần sau, xã nhận điện thoại của tỉnh, xã lắp ngay camera chĩa vào ban Tam bảo. Từ bữa đó, tối nào May cũng phải lên chùa ngủ trông chùa. Thỉnh thoảng mới có một anh công an xã vào chơi xem xét.

Có một thanh niên tay xách làn nặng đồ lễ bước vào. Trông hắn xăm trổ đầy một cánh tay. May chỉ hắn những chỗ cần đặt lễ. Lễ xong, ra bàn ngồi uống nước chờ thụ lộc. Hai người chăm chắm nhìn nhau hồi lâu. Đúng rồi, thằng Mứt! Mứt ơi, có phải là Mứt?! May ngập ngừng lí nhí trong họng. Người thanh niên nhìn lại May cũng líu lưỡi lại: Mặc phải không? Hai người ôm chầm lấy nhau nồng nhiệt.

Tối ấy, Mứt ở lại chùa làng một đêm.

Khôi “đồ cổ” là cái tên hiện thời của Mứt ngày xưa

Khôi đến ngôi chùa này thăm thú với lý do không đơn giản như người đi lễ chùa. Đời Khôi “đồ cổ” là những chuỗi ngày gặp may sau khi Mặc đi rồi. Mứt được một gia đình thu mua sắt vụn ở làng Sắt nhận về làm con nuôi. Mứt đi theo cha nuôi lên khắp vùng miền núi hàng tháng trời  bán và đổi muối gạo cho người dân trên đó. Trong cái bán mua, đổi chác ấy từ đồ cũ kỹ  có cả những thứ là cối giã trầu đời Thanh, trâm cài đầu thời Tống, những thạp đựng đồ khảm nạm cũ kỹ, bình vôi xù xì thời Mạc… và những cái hòn đá lăn lóc ở góc sân, góc vườn chỉ để gà đậu hay cùng lắm thì được kê dưới chân gốc cây cho vui mắt… Tất cả không mài ra gạo, ra muối, ra cá mắm, nương khô được nên khi có người trả giá bằng những thực phẩm họ cần là họ đổi hoặc bán ngay. Thậm chí có những đứa con, đứa cháu cần tiền đánh bạc trộm cả bát hương cổ gia truyền đời Lý  bán cho bố con nhà Mứt…Đi nhiều với cha nuôi, gặp gỡ với những tay buôn đồ cổ và được dạy cho cách nhận diện sự quý giá của thời gian trên những món đồ ấy, Mứt đã mê đồ cổ đến mức trở thành tay buôn có nghề ở tuổi ngoài đôi mươi. Cha mẹ nuôi Mứt hài lòng với đứa con mình nuôi dưỡng. Cái đêm ấy, Mứt mê thấy có làn khói xanh bốc lên ở cái cối xay đá trên một hang sâu trong rừng âm u. Làn khói xanh dẫn dụ Mứt đến trước một vực thẳm, dưới vực là hòm sơn son thếp vàng, trong đó rất nhiều vàng bạc… Mứt bị sa chân xuống vực thăm, rơi, rơi mãi… Mứt giật mình tỉnh dậy toát hết mồ hôi. Mứt kể với cha nuôi về giấc mơ lạ đó. Cha nuôi ngẫm nghĩ rồi à lên một tiếng. Ông ấy nhớ ra cái nơi nghe nói mà chưa đến, nơi đó đúng là đang chứa một vật báu, cổ vật nào đó. Thế là sau mấy ngày trăn trở vắt óc suy nghĩ, lần theo trí tưởng tượng ông quyết định cùng Mứt đi lên cái vùng nghĩ rằng sẽ có cái cối xay đá tỏa ra làn khói xanh. Đường đi lên núi quanh co, ngoắt ngéo. Giữa đường mưa to gió lớn. Xe đành dừng dưới gốc cây to. Lúc cha nuôi cầm cái ô xuống đi tè vào gốc cây thì bị bị sét đánh trúng. Mứt ngồi trên xe rung lên bần bật. Thôi thế là ôm xác cha về. Cứ tưởng Mứt sẽ bỏ nghề nhưng máu đi buôn đồ cổ đã ngấm vào Mứt từ lúc nào không hay. Mỗi lần sang tay cho các đại gia của những món đồ cũ kỹ ấy Mứt có tiền mua thuốc phiện dùng cả năm nên Mứt mê không dứt ra nổi.

Khôi “đồ cổ” hôm nay thèm thuồng nhìn tượng Phật thiếu nhi trong cái tủ trên cao. Khôi “đồ cổ” thủ thỉ hỏi May: Mày có muốn giàu như tao không? Bao nhiêu năm rồi, gặp lại, giờ mày vẫn rách chẳng khác gì ngày ở trại sắt cạo gỉ.  May thật thà bảo: Tao đang tính ra thành phố học nghề chữa điện để sau về làng mở cửa hàng. Thày tao đang do dự. Năm vừa rồi, u tao ốm đi viện K điều trị tốn kém quá. Chị gái lấy chồng làng bên vừa bị hỏng hết cả trại lợn giống. Cái nọ chồng cái kia, bấn quá.

– Lo gì ba cái chuyện vặt. Tao sẽ lo cho mày. Giờ tao thiếu gì tiền. Nói xong, Khôi “đồ cổ” kéo khóa túi da cầm tay, rút ra một tập tiền dày. Đây, chỉ có khoảng 5 triệu đồng, tao đi chơi không mang theo nhiều tiền. Lần sau tao về thăm, mua luôn cho chị mày đàn lợn giống khác. Đối với tao giờ tiền là giấy nhé, không phải lo!

May trằn trọc chưa ngủ được. Vì hồi hộp, vì cảm động chẳng nghĩ có lúc lại gặp lại người bạn thuở nhỏ bao phen sống chết có nhau. Thương nhau như anh em ruột thịt. May cố gắng tìm chút kỷ niệm thời thơ ấu giữa hai người để cảm thấy ấm áp, toại nguyện. Nhưng May chưa tìm thấy. Có cái gì lạ lùng cứ ngăn cách May. Nhất là cái cách cho tiền của nó. Ngày xưa, bới được cục sắt vụn nó có cho May thì cũng ngập ngừng để xem số sắt vụn nó kiếm được đã đủ số lượng giao của chủ chưa. Nếu không đủ thì đừng có cơm mà ăn. Thế mà giờ lại khác. Khôi cũng không ngủ được. Nó xoay trở mình trên tấm phản cứng ngắc của nhà chùa. Khôi trở dậy. May cũng trở dậy, bật điện lên. Hai thằng làm ấm trà ra bậc thềm ngồi uống, ngắm trời sao vằng vặc.

Khôi bỗng khẽ nói với May: “Mày có dám đổi cái tượng đồng trong kia không?”

May lắc đầu. Chìa khóa ông Chủ tịch xã cầm.

Khôi thổ lộ những mưu kế với May. May tái mặt. Lặng thinh. Cái bức tượng đó, tiền tỷ đấy- Khôi nghiến răng khẽ rít vào tai Mặc. – Để đây phí lắm. Cái khóa vớ vẩn kia, tao thổi một cái là mở, rồi đóng lại như thần. Chỉ cần mày đổi tượng khác vào là được. Không ai biết đâu. Và đời mày sẽ lên tiên… Cơ hội cho đời mày đấy! Còn camera ư! Chuyện vặt, nhiễu sóng hay mất điện hoặc mờ sương vài phút là lỗi kỹ thuật.

May lại nhớ đến ông khách lạ hồi năm trước đến thăm chùa. Và giờ hiểu ra tại sao ông ta lại phải lên xã đòi gặp chủ tịch. Về tỉnh gặp nhà chức trách chỉ vì cái pho tượng quý này. Và cũng vì cái sự phát hiện kỳ quái của ông ta mà xã chưa tìm được bảo vệ, May phải làm cái chân bất đắc dĩ này. Rồi lại cảm giác như tội phạm vì cái ánh nhìn dò xét cẩn thận của mấy vị thỉnh thoảng qua lại kiểm tra. May chán quá rồi. Đời May chẳng nhẽ lại bị chôn vùi tiếp tuổi trẻ chỉ vì cục đồng đen kia. Nhưng nó những tận tiền tỷ cơ đấy! Chỉ cần cầm lấy nó và biến khỏi làng này. Đời May sẽ đổi khác.

Sáng hôm sau, Khôi “đồ cổ” thắp một nén nhang vái lậy tam tòa đầy thành kính rồi tạm biệt May và hẹn sẽ trở lại. Cái nén hương ấy lại chỉ cháy có một nửa, May phải rút chân hương thả vào bể hóa vàng mã.

May kể chuyện với cha. Ông Nhất vội vàng nghiến răng dặn May giữ kín chuyện này nhé. Lộ ra là họa to đấy. Chiều hôm đấy, ông tức tốc đi đâu đó với tay công an xã ra huyện. Tối hôm đó có thêm người về ở chùa. May hỏi, không ai bảo gì, chỉ nói về chơi chùa. May càng lo. May ngủ ngay dưới gầm bàn Tam bảo. Mà cũng không ngủ được. Nhỡ cái đống tiền tỉ kia nó mà mất theo đám người này đời May khéo đi tù vì không trông được chùa. Cái đám người lạ kia lại ngủ ở xung quanh bốn góc tường gian Tam bảo.

Một tuần sau. Cái đám người đó vẫn ở chùa. Ngày ba bữa, nấu nướng xì xụp trong gian bếp nhà chùa. May cũng cùng ăn, cùng làm với họ, vui vẻ nói chuyện trên trời dưới đất, nhất là chuyện đá bóng tranh cúp bên nước ngoài, nhưng tuyệt nhiên không nói chuyện về chùa.

Gần hai tuần sau. Ông Nhất lên bảo May: Thôi thế là bố con mình yên thân con ạ. Chiều nay sẽ có người của chính quyền tỉnh và trung ương về rước báu vật nhà Phật quý giá kia đi. Họ gửi đến Bảo tàng hay kho lưu trữ đồ cổ quốc gia gì đó để bảo vệ. Nó mà mất thì con ơi, khốn nạn vì một mất mười ngờ.

Chiều đó, một đoàn người về, có cả người  quay phim chụp ảnh, cả nhà sư… Họ làm lễ đổi tượng. Nhìn hai bức tượng đúc đồng y hệt nhau. Trong cái đám người am hiểu đó có ông người lạ từng liếm vào tượng đồng. Ông ấy là một chuyên gia cổ học nổi tiếng của vùng Châu Á. Ông ta đã phán đoán giá trị niên đại đồ cổ bằng cảm nhận vị giác ở đầu lưỡi. Sự đặc biệt của riêng ông mà hiếm người có. Sau đó mới dùng máy móc đo đạc, hóa chất thử thời gian… Ông ta nói về ngôi chùa cổ này một cách khác thường. Hóa ra dưới tán cây xanh của làng quê này có một báu vật thế ư. Nào nghệ thuật điêu khắc, mỹ thuật thời Trần. Nào hồ nghi về danh tiếng những người thợ nghệ nhân tạo hình những ông La Hán bằng đất sét đặc biệt… Thấp thoáng phía sau trong đám người đông đúc ấy có cả thằng Khôi “đồ cổ”.

Mọi người rước bức tượng đi hết cả. Tiếng còi xe ưu tiên xé gió làng ra đường cái quan.

Thằng Khôi “đồ cổ” tiến lại gần May. Nó rít lên một tiếng khẽ mà như dao chặt vào lòng May: Mày ngu lắm! Cứ thế mà làm, giờ thì ở xó làng đi. Trả tao tiền bữa trước. May như chết lặng. Chân không nhấc nổi qua bậc thềm cửa chùa. May ngồi phịch xuống bậc thềm nhà chùa. Moi trong túi ra cái tập tiền còn nguyên đặt xuống nền đá xanh bậc thềm. Những đồng tiền còn nóng hổi hơi người, đá lạnh mát làm đôi bàn tay May như chạm vào lưỡi dao. Thằng Khôi giật lấy rồi bước ngoắt đi…

Lá trên cây rơi ào ào đổi sang mùa  heo may!

Bàn tay ấm áp của cha đặt lên vai May: Thoát nạn rồi con ạ! Yên ổn rồi con ạ!

NGUYỄN THỊ THU HÀ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.