Lưỡn – Truyện ngắn của Trịnh Đình Nghi

Vanvn- Nhà văn Trịnh Đình Nghi vừa trở thành hội viên mới Hội Nhà văn Việt Nam năm 2022. Ông sinh năm 1957, quê quán Nam Định, cử nhân luật, cao cấp lý luận chính trị, từng làm báo, hiện sống ở Hà Nội.

Nhà văn Trịnh Đình Nghi

Tác phẩm của tác giả Trịnh Đình Nghi đã được xuất bản gồm các tập: Nhà quê đi bụi – Tạp văn – NXB Hội Nhà văn năm 2013, Quan lớn đi bụi – Tạp văn – NXB HNV 2014, Đàn bà đi bụi – Tập truyện ngắn – NXB HNV 2015, Đổ đốn ở làng – Tập truyện ngắn – NXB HNV 2018, Bước đời khấp khểnh – Tập truyện ngắn – NXB HNV 2020, Ngày mẹ sinh – Thơ và tản văn – NXB HNV 2021, Không nhặt được mồm – Tập truyện cười – in chung 8 cuốn – NXB HNV 2022…

 

 

Hội viên mới Hội Nhà văn Việt Nam 2022:

>> Thơ Bùi Việt Phương: Cây lên xanh nhận đất giữ biên thùy

>> Cuộc phiêu lưu của Ỉn Hồng – Truyện Đào Thu Hà 

>> Truyện ngắn của Đỗ Xuân Thu: Lão “Chõe Bò”

>> Thơ Huỳnh Văn Quốc: Từ trong giá lạnh khơi nguồn mùa sau

>> Hoàng hôn có nắng – Truyện ngắn Hoàng Thị Trúc Ly

>> Thơ Bùi Minh Vũ: Gọi rẫy thiêng liêng như tên buôn, tên vợ, tên chồng

>> Cuộc phiêu lưu của Poly – Truyện ngắn của Hồng Cư

>> Thơ Nguyễn Phong Việt: Đời sợ lắm những ngày im tiếng gió

>> Một chuyến hoa xuân – Truyện ngắn Trác Diễm

>> Hai truyện ngắn thiếu nhi của Lê Đức Dương

 

Cái tên làng Lễu có từ bao giờ thì chả ai biết, hỏi đến những lão làng đầu bạc phơ phơ chòm râu chấm rốn cũng nghe nói từ bé đã thấy tên làng nó như thế rồi.

Cái tên làng mà đọc lên là cứ uốn cong cả lưỡi vẹo cả mồm nhưng mà cha ông đặt tên như thế thì nó cứ là như thế chả ai muốn thay đổi. Không những thế đời này đời khác người trong làng vẫn cứ thấy tự hào về cái tên làng Lễu của mình.

Cách chốn phồn hoa đô hội chẳng bao xa, làng không lớn lắm, chỉ tròm trèm trăm nóc nhà nhưng những con ngõ thì cứ là vòng vo loằng ngoằng vì nỗi vườn tược manh mún mảnh to mảnh nhỏ nên những cái ngõ trong làng mới phải lạng lách nương theo rồi thành ra như thế.

Làng Lễu gần nơi đô hội, vậy nên đứng ở rìa làng là nhìn thấy ngoài kia phố xá giăng đèn kết hoa. Ấy thế nhưng mà làng thì vẫn chỉ là làng, vẫn bờ tre cây duối, có chăng là bây giờ nhà cửa nhấp nhô thò ra thụt vào, cái cao cái thấp, mái bằng mái nhọn. Có neo đơn túng thiếu thì cũng dúm được tý tường xây mái ngói chứ không còn cảnh mái tranh vách đất như xưa.

Cứ theo như các cao niên trong làng nói, vậy là đã khấm khá văn minh lắm rồi chứ như thời trước thì gọi là nhà thôi chứ chui đầu vào để đít ra.

Gần phố đấy, khấm khá đấy nhưng vẫn cứ là làng, vì chỉ thuần ngọn lúa củ khoai nên từ tiếng nói cho đến dáng đi của người làng là cấm có khác đi được, chẳng ra khoan thai cũng chẳng ra vội vàng, nói cười với nhau cứ bô lô ba la, những câu từ thuần chất ngày xưa như: dưng mà, thì vưỡn, không dám, nói có mặt giời… cứ là còn nguyên, mặc cho bên ngoài bụi tre cây duối người ta líu lo tiếng Tây tiếng Tàu như hát.

Bước qua cái cổng làng mốc meo tróc lở là tịnh không còn biết cái hơi hướng phố xá nó ra làm sao nữa. Đầu làng thì lũ chó tru mõm ông ổng, giữa làng đám gà lợn thả rông tục tác xao xác cả vườn trưa, cuối làng thì tiếng mấy bà mấy chị râm ran phớ lớ từ chuyện phân gio giống má, giá cả mớ rau cân thịt…

Đường làng cũng đã được rải bê tông đấy nhưng phân bò phân chó vung vãi, ngày mùa thì lúa thóc rơm rạ bừa bộn. Những câu chuyện sau lũy tre muôn đời vẫn vậy, cứ một cái chuyện con con như con trâu bỏ cỏ, con lợn chê cám là cả làng biết, cả làng xôn xao.

Xem ra cái thứ âm thanh hỗn tạp chốn quê thế mà vui, thế mà xôm tụ, mà như tìm thấy bóng dáng mình trong cái âm thanh, cảnh vẻ ấy.

Làng quê nào cùng cũng vậy, trong làng thế nào cũng có người ương ngạnh, đứa dở hơi… Làng Lễu cũng có một đứa ngoài ba mươi tuổi chưa chồng. Cứ theo như mồm miệng người làng thì “ngữ ấy ma nào dám rước”. Cũng chẳng rõ tên khai sinh là gì, chỉ nghe dân làng quen gọi là con Lưỡn. Cha mất sớm vì đi cày bị trúng gió ngoài đồng, được mấy năm thì mẹ cũng vứt Lưỡn cho mẹ đẻ rồi bỏ đi đâu biệt xứ, nghe nói là theo giai lên mãi trên miền ngược.

Thì là cứ đồn nhau thế chứ nào có ai biết thực hư củ tỉ nó thế nào. Rồi bà ngoại cũng qua đời, họ hàng cũng chẳng còn ai thân thuộc nên Lưỡn sống một mình lùi lũi vậy. Người thì đen đúa quắt như quả dưa chuột, mắt lèm nhèm, tính tình thì ngây ngây ngô ngô lại bẳn gắt như khỉ. Cái dáng đi của Lưỡn thì cả làng chả ai bắt chước được, người cứ như đổ về phía trước, đầu thì gật gật như cò bắt tép, chân thì bước chéo như vắt sổ. Đã thế lại có cái tật hay trêu chọc chả đúng lúc đúng chỗ, người lớn người bé chả từ ai, cứ nhăn nhăn nhở nhở cười khe khé, thế nhưng có ai mà động chạm đến là Lưỡn tru tréo chỉ chực ăn vạ. Cả làng Lễu này cứ quen gọi là con Lưỡn dở người.

Hàng ngày cứ sáng ra là Lưỡn đi ra khỏi làng đến chiều mới về. Người trong làng ai cũng biết nó đi sang mãi tận cái khu chợ gầm cầu bên thành phố, ai mướn làm gì thì làm nấy, khi thì lau rửa quét cái sạp hàng, khi thì bưng bê cái này cái kia việc gì nó cũng làm ai trả công bao nhiêu thì tuỳ, chứ nó cũng chả bao giờ chê bôi nhiều ít. Được cái cũng vô hại nên nó có trêu chọc thì cũng chả ai chấp, có chăng thì cũng chỉ một câu: Đồ khỉ ! Ấy thế nhưng mà cứ nghe ai đùa giỡn gán ghép cho nó với người này người kia là Lưỡn cười tít cả cái cặp mắt toét, những khi như thế nó thảo tính và vui đến lạ.

Làng Lễu cứ yên bình tuần tự như thế nhưng rồi bỗng có một ngày cả làng xôn xao nhao nhác vì một con khỉ sổng cũi ở đâu xuất hiện. Thân hình con khi đực chỉ to bằng đứa bé hai tuổi, nhưng chắc nó được một nhà giầu nào đó nơi phố xá nuôi lâu ngày nên nó tinh khôn đến mức thành tinh thành quái. Tinh quái lại lì lợm đến mức chả biết sợ người, cứ tót một phát là lên cây nhăn răng khẹc khẹc rồi thì người làm sao mà đuổi được nó.

Tranh của họa sĩ Đỗ Phấn

Không những tinh quái mà nó còn độc hơi độc vía đến mức con gà trống nhốt trong lồng, nó thò tay túm đầu con gà rồi vặt hết lông cổ của con gà. Thế là chả hiểu sao con gà tuyệt không gáy nổi nữa, toàn thân cứ nổi u nổi cục lở loét rồi rũ ra mà chết. Có nhà nuôi con chim trong lồng nó cũng mò vào ngắm nghía rồi thò tay vuốt vuốt cái đầu con chim, vài lần như thế rồi con chim cũng lăn ra chết.

Những ngày đầu nó mới đến làng thì đám trẻ con còn thấy lạ nên cũng hè nhau ném đuổi nó. Nhưng rồi sau khi con gà con chim bị nó giỡn cho chết thì người ta đồn nhau rằng nó đã thành tinh nên nó có tà phép hoặc là cái hơi của nó phả ra độc lắm nên ai cũng sợ mà cấm tiệt trẻ con không được đến gần nó. Câu chuyện con khỉ về làng thế là biến thành chuyện kỳ dị xôn xao, người thì bảo phải giết nó đi, người lại bảo nó đã thành tinh thì không giết được, biết đâu giết nó, nó lại thành ma tà ám quẻ cả làng thì khổ. Thế là thôi, ai nấy cứ bảo nhau mà tránh mà kệ xác nó vì nó cũng chẳng ăn thịt ai, chẳng đốt nhà ai.

Không chỉ trêu chọc con gà con chó mà nó còn tròng ghẹo cả người. Có một hôm nó nhảy lên bàn thờ của nhà ông trưởng họ còn đang hương khói ngày tuần tiết. Bánh kẹo nó chả xơi, nó ẵm luôn ba quả thanh long, hồn nhiên ngồi chén hết một quả còn hai quả nó cắp nách nhảy lên cây nhăn răng khẹc khẹc ra vẻ khoái chí, mặc cho ông già cứ đứng dưới xỉa tay vào nó mà quát tháo: Bố tiên sư đồ khỉ, tao thì khấn tổ tiên khôn thiêng về vật chết mẹ mày đi. Mặc kệ ông già cứ quát cứ chửi, nó nhăn răng khẹc khẹc chán rồi nó ôm quả thanh long nhảy sang cái cây bưởi đầu ngõ. Giời xui đất khiến thế nào lại đúng cái lúc Lưỡn đi về qua gốc cây bưởi, con khỉ ngó nghiêng rồi nó cầm quả thanh long ném cái bộp vào lưng Lưỡn. Giật mình hoảng hốt, rồi cứ như chương trình lắp sẵn Lưỡn rướn người mà tru tréo: Bố tiên sư đứa khốn nạn nào ném tao thế hả, động mồ động mả nhà chúng mày à ? Ngước nhìn lên Lưỡn thấy con khi ngồi trên cành bưởi, tay nó gãi gãi hai cái hòn dái như hai quá cà pháo nhăn răng cười khẹc khẹc. Biết con khỉ đã ném mình Lưỡn huơ cái nón, dẩu mỏ : Tiên sư cái loại khỉ khốn nạn kia, bà thì vật chết con mẹ mày bây giờ. Chửi chán rồi thì Lưỡn cũng nhặt quả thanh long mà đi về.

Cũng từ hôm ấy chiều nào con khỉ cũng leo lên cây bưởi đầu ngõ và mỗi khi thấy Lưỡn đi về là nó lại gãi dái và nhăn răng cười khẹc khẹc…

Những ngày đầu Lưỡn tức lắm, Lưỡn chửi nhưng mà Lưỡn chửi thì Lưỡn nghe, chứ con khỉ thì vẫn cứ nhăn răng mà cười. Cũng có hôm con khi vặt ở đâu quả ổi, quả cam khi thấy Lưỡn đi qua nó lại nhè lưng Lưỡn mà ném. Những ngày đầu thì Lưỡn còn bực tức chửi thề, nhưng chửi rồi thì lại nhặt quả cam quả ổi ấy mà ăn. Nhiều lần như thế đã thành quen, như bản chất con người vẫn vậy có ăn là quen tất. Người xưa bảo: “ăn quen bén mùi” mà.

Thế rồi chiều nào con khỉ cũng leo lên cây đầu ngõ để đón Lưỡn đi về và ngày nào nó cũng vặt đâu đó quả này quả kia để ném cho Lưỡn. Bây giờ thì Lưỡn đã quen nhặt rồi, mỗi lần nhặt Lưỡn lại ngửa mặt lên cây nheo đôi mắt toét mà nhăn răng cười với con khỉ. Được Lưỡn cười con khỉ thích lắm, nó lại càng gãi dái và cười tợn.

Cho đến một ngày Lưỡn đi về thì thấy con khỉ ôm hai quả bưởi, lần này nó không ngồi trên cây mà ném cho Lưỡn nữa, nó lẳng lặng đi theo Lưỡn về nhà. Nó để hai quả bưởi lên bậc thềm và thò tay gãi dái rồi nhăn nhở cười. Lưỡn cũng không xua đuổi nó. Lưỡn gọt bưởi ăn không quên đưa cho con khỉ, nó cũng chìa tay nhận và ăn ngon lành. Lưỡn xoa đầu nó, vuốt lưng nó ra chiều thân quen từ lâu. Con khi không nhăn răng cười nữa mà chớp chớp hai con mắt. Thế rồi con khỉ đi, nó đi đâu không biết, hai ba ngày Lưỡn đi về đầu ngõ ngó nghiêng dáo dác tìm nó nhưng chẳng thấy bóng dáng nó đâu. Tự nhiên Lưỡn thấy buồn, thấy thiếu vắng.

Đến ngày thứ tư thì con khỉ về, khi Lưỡn mở cổng vào nhà đã thấy con khi ngồi ở bậc thềm tay nó khư khư ôm một con gà đã vặt hết lông. Nó đưa con gà cho Lưỡn rồi đưa tay gãi gãi cái đầu, mắt nó chớp chớp. Đã quen với chuyện con khỉ đưa gì cũng ăn nên Lưỡn xách con gà vào làm thịt. Bữa cơm ấy dọn ra con khỉ cứ ngồi cạnh mâm cơm, thỉnh thoảng Lưỡn lại gắp một miếng thịt gà đưa cho nó, con khỉ chìa tay nhận và ăn ngon lành. Bỗng nhiên Lưỡn bật cười khanh khách rồi nói với con khỉ: giá mà mày cũng biết nói nhỉ, hay là mày ở luôn với tao coi nhà cho tao nhỉ ? Nhưng mà mày hôi lắm. Ấy đấy, bẩn như Lưỡn mà vẫn còn chê khỉ rằng hôi.

Lại một lần nữa dân làng Lễu xì xầm về chuyện con khỉ. Người ta thấy lạ, cả làng sợ con khỉ, ghét con khỉ nhưng chỉ có Lưỡn là không sợ mà lại còn thuần được con khỉ mang về nhà nuôi. Lạ lắm, hoài nghi lắm thế là thành chuyện vì tự dưng con khỉ hiền lành không quậy phá, không tròng ghẹo nữa mà lại ngày ngày quanh quẩn ở hẳn nhà Lưỡn. Người ta rỉ tai nhau như là chuyện thần chuyện phật. Người khen Lưỡn thế mà giỏi, kẻ ác thì thêu dệt đủ điều mà chốt lại là khỉ ở với khỉ là hợp nhau. Thậm chí có kẻ còn quả quyết rằng: Có hôm trời tối đi ngang qua nhà Lưỡn thấy tối om nhưng mà nghe rõ tiếng Lưỡn cười chí choé, tiếng rên ư ư…

Lúc đầu mỗi khi Lưỡn đi ra đường người ta lại nhìn cô với ánh mắt săm soi dò xét.

Lâu dần cái chuyện con khỉ ở với Lưỡn rồi cũng thành quen, chẳng ai còn hơi đâu mà ngó nghiêng bàn tán. Nhưng rồi một ngày người ta không thấy Lưỡn sáng đi chiều về như thường lệ nữa, mấy người ở cùng cái ngõ với lưỡn thì kháo nhau rằng chắc Lưỡn đi làm rồi ở lại luôn bên cái khu chợ gầm cầu bên thành phố.

Cho đến một hôm mấy người hàng xóm đi ngang qua nhà Lưỡn bỗng thấy con khỉ cứ chạy ra cổng túm lấy ống quần họ, vừa giật vừa kêu khẹc khẹc. Chả hiểu chuyện gì, người ta lại thấy sợ khi bị con khỉ trêu trọc, phá quấy nên bỏ chạy. May sao có một ông lang vườn đi qua, con khỉ lại chạy ra túm gấu quần ông mà giật mà khẹc khẹc, nó níu không cho ông đi, đầu cứ rướn vào trong nhà. Linh tính thế nào ông lang vườn đi theo con khỉ vào nhà . Căn nhà ẩm thấp và hôi hám nồng nặc, Lưỡn nằm trên giường đầu tóc rũ rượi, đôi mắt toét lờ lờ, thở khò khè. Hiểu ra vì sao con khỉ cứ lôi chân ông, ông lặng lẽ cầm tay bắt mạch cho Lưỡn, ông thoáng giật mình và lẩm bẩm: Hỏng rồi con ơi!

Hai hôm sau thì Lưỡn đi. Khi hàng xóm vào để đưa Lưỡn ra mọi người thấy con khỉ ngồi ủ rũ bên Lưỡn, trên tay nó cầm quả chuối đã bóc vỏ nhưng chưa cắn miếng nào. Chắc là nó muốn bóc cho Lưỡn ăn, nhưng…

Cái quan tài cũng chỉ là mấy miếng ván gỗ cũ ghép lại rồi hàng xóm xúm vào khiêng Lưỡn đi, chẳng kèn trống gì. Ngoài ông lang vườn ra thì chẳng ai biết Lưỡn đi vì bệnh gì mà nhanh thế. Bây giờ thì hình như ai cũng động lòng mà xót xa cho một phận đời. Con khỉ cũng lặng lẽ đi theo cái đám người khiêng quan tài của Lưỡn. Rồi chiếc quan tài được người ta vùi xuống đất trong buổi chiều xám xịt. Còn con khỉ cứ đứng đó, nó không theo đám người về làng.

Từ hôm Lưỡn đi, người làng Lễu không còn thấy con khỉ về căn nhà tồi tàn của Lưỡn nữa. Cũng chẳng ai nhìn thấy bóng dáng nó lảng vảng đầu làng cuối làng.

Một buổi chiều ông lang vườn bỗng thấy con khi đi vào nhà ông. Nó đến bên ông lặng lẽ đặt hai bàn tay lên tay ông, mắt nó chớp chớp như muốn nói điều gì đó. Ông lang vườn hiểu ý nó, ông cúi xuống đưa tay xoa đầu nó và thầm thì với nó: Thôi con ạ, mày đừng buồn rầu nữa, con Lưỡn nó đi là do mệnh trời, mà nó có ở lại cõi đời này cũng chỉ khổ thêm thôi, cả cái làng này chẳng ai để ý đến nó người ta coi như không có nó trên cõi đời này. Vậy thì nó đi cũng coi như nhẹ một kiếp người, mày đừng buồn nữa và cũng đừng đi đâu nữa phận mày cũng đơn côi, thôi thì cứ ở lại đây với ông, có mày ông cũng thêm vui.

Con khỉ ngước nhìn ông, khoé mắt nó nhoè hai dòng lệ… rồi nó lững thững ra đi. Ông lang già đứng trên bậc thềm nhìn theo nó và buông tiếng thở dài. Ông đã hiểu con khỉ quay về để cảm ơn ông và cũng để từ biệt ông.

***

Rồi một ngày dân làng Lễu kháo nhau, con khỉ đã chết rồi. Một người già trong làng đi thăm một tổ tiên, đã phát hiện xác của con khỉ. Nó chết khô trong cái tư thế ngồi gục đầu xuống bên ngôi mộ của Lưỡn đã lấm tấm cỏ xanh.

TRỊNH ĐÌNH NGHI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.