Vang vọng bản hùng ca về người lính thời bình

VanvnKhông chỉ thành công ở tiểu thuyết lịch sử, nhà văn Phùng Văn Khai còn dành nhiều tâm huyết cho đề tài người lính, đặc biệt là người lính thời bình.

Tập bút ký – truyện ký Những liệt sĩ thời bình – Phùng Văn Khai

Tập bút ký – truyện ký Những liệt sĩ thời bình do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành (2025) là một trong những cuốn sách tiêu biểu thể hiện rõ nhất tình cảm, trách nhiệm, sự tri ân sâu sắc đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc trong những năm tháng đất nước không còn tiếng súng.

Nhan đề cuốn sách là một nghịch lý đầy ám ảnh. Vẫn thường nhắc liệt sĩ trong chiến tranh cùng sự hy sinh diễn ra giữa bom đạn và khói lửa. Nhưng “liệt sĩ thời bình”, là một điều đặc biệt. Đất nước đang hòa bình. Hầu hết mọi người đang trong hạnh phúc đời thường. Nhưng vẫn có những người lính ngã xuống trong lúc đang làm nhiệm vụ bảo vệ biên cương, biển đảo, hay cứu dân trong bão lũ, cháy rừng, sạt lở đất…

Hay trong lúc phải hoàn thành nhiệm vụ trong những điều kiện vô cùng hiểm nguy. Họ hy sinh không phải trước họng súng quân thù, mà trước thiên tai, sự cố, tai nạn trong môi trường công tác đặc biệt. Máu đổ trong chiến tranh, máu đổ trong hoà bình. Máu thời nào nào cũng quý, cũng xót. Người viết bài này từng có hơn 10 năm trực tiếp cầm súng nơi chiến trường, thấu hiểu giá trị, ý nghĩa của máu. Máu là sự sống. Có gì quý hơn, thiêng liêng hơn máu đâu.

Thế mà, những người lính lấy cái quý giá nhất của cơ thể là máu để bảo vệ, giữ gìn nền độc lập, tự do; để dựng xây đất nước. Đó là sự tận hiến tuyệt đối. Hôm nay đọc tập sách này, vẫn thấy, trong thời bình, máu người lính vẫn đổ. Nhưng trong hoàn cảnh khác. Càng thấy, sự hy sinh của người lính Cụ Hồ, thời nào cũng thiêng liêng. Qua những trang viết ám ảnh ấy, bạn đọc cũng như tôi đều thấy, đằng sau câu chữ, là máu và nước mắt… Vì những nhân vật chính là Liệt sỹ!

Viết văn là viết bằng chính cái vốn đời sống tự mình tích luỹ, viết ra để ký thác quan niệm, suy tư, cảm nhận về lẽ người, lẽ đời. Có trải đời mới hiểu đời để yêu đời, đau đời. Để bạn đọc hiểu đời, nhà văn phải hiểu đời trước. Để có những trang viết này, Phùng Văn Khai chắt ra từ trang đời mấy chục năm quân ngũ, đã nhập vào bao cuộc đời người lính, bao thân phận éo le.

Vốn đầy ắp chất sống, nồng nàn chất tình, trang văn đằm sâu trải nghiệm. Nhiều trang cảm động đến đau đớn… Có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với bao chân dung, bao câu chuyện, những trang viết của nhà văn không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng đơn thuần, mà được hình thành từ những chuyến đi dài, những cuộc gặp gỡ, những đêm thức trắng, những lần đứng trước linh cữu đồng đội hay lặng người bên các nghĩa trang liệt sĩ.

Là một thể loại năng động, thông qua cảm xúc, suy tư cùng những chiêm nghiệm của người viết, ký văn học chú trọng khám phá giá trị thẩm mỹ, nhân văn. Ngoài những thông tin xác thực, thể loại ký thể hiện đậm cái tôi tác giả với quy trình sáng tạo nghệ thuật: từ thấu hiểu sâu sắc đến thấu cảm tận cùng để đồng cảm, tạo ra sức truyền cảm mà cộng cảm cùng bạn đọc.

Ký dễ viết nhưng khó hay. Có đôi cánh là vốn hiểu sâu rộng và sự dồi dào cảm xúc, con chim tác phẩm ký đậu vào lòng người đọc, đánh thức những rung động về cái thật, cái đẹp, cái cao cả của của đối tượng phản ánh. Trong lời mở đầu, tác giả bộc bạch rằng viết về người lính đã trở thành “cái nghiệp”. Người lính không chỉ là đối tượng phản ánh, còn là nguồn cảm hứng, là những người đồng hành âm thầm với ngòi bút. Những dòng tâm sự chân thành cho thấy, cuốn sách này không phải một công trình tư liệu, mà là kết quả của sự gắn bó máu thịt giữa người lính với người lính.

Mở đầu tập sách là bút ký Những liệt sĩ thời bình mang tính khái quát nội dung và “định hướng cảm xúc”, dẫn người đọc bước vào thế giới của những mất mát âm thầm nhưng vô cùng lớn lao. Những cái tên như Nguyễn Duy Thanh, Lê Văn Phượng, Lù Công Thắng, Nguyễn Tuấn Ngãi, Hoàng Đặng Hùng, Đinh Văn Nam, Nguyễn Hữu Hòa… hiện lên không phải như những tượng đài cao vời, hoành tráng, mà là những con người bình dị đang sống giữa đời thường. Mỗi số phận khiến người đọc nghẹn lòng.

Hoàng Đặng Hùng ngã xuống ở tuổi hai mươi giữa biển khơi Trường Sa. Đinh Văn Nam hy sinh khi đứa con còn chưa kịp cảm nhận được thế nào là tình cha, vì anh mới được gặp con duy nhất một lần. Nguyễn Tuấn Ngãi bỏ mình trong cuộc chiến với giặc lửa nơi rừng núi Thừa Thiên Huế. Nguyễn Văn Đoàn ra đi giữa dòng lũ dữ khi nhiệm vụ còn dang dở… Khác nhau về quê quán, tuổi tác, hoàn cảnh gia đình, nhưng họ đều có chung một phẩm chất: đặt sự bình yên của Tổ quốc và nhân dân lên trên hạnh phúc riêng tư. Những tấm gương hy sinh ấy là những đốm lửa thắp sáng tượng đài phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình.

Tri ân, trân trọng, xót xa, tiếc nuối, tập sách có cách kể chuyện cảm động. Không tô đậm bi kịch bằng những lời bi thương mà chọn những chi tiết đời thường, giản dị nhưng giàu sức ám ảnh. Đó là cuộc điện thoại cuối cùng của liệt sĩ Đinh Văn Nam với gia đình vào tối trước ngày anh hy sinh khi cứu hộ tàu trên đảo Phan Vinh. Đó là những lá thư của liệt sĩ Nguyễn Hữu Hòa, người lính công binh, gửi về cho vợ chỉ toàn những lời dặn dò chuyện nội ngoại, chuyện nuôi dạy con cái. Đó là hình ảnh người vợ liệt sĩ còn giữ nguyên những cánh thư cũ, như giữ lại hơi ấm cuối cùng của người chồng đã khuất. Hay câu chuyện người vợ của nhà báo, liệt sĩ Nguyễn Duy Thanh nhiều ngày không chấp nhận sự thật sau vụ tai nạn máy bay ở Xiêng Khoảng, vẫn tin chồng mình còn sống đâu đó trong khu rừng nước bạn xa xôi.

Những chi tiết rất đỗi bình thường ấy, đã làm cho sự hy sinh hiện lên chân thực, gần gũi nhưng lại lay động hơn bất cứ lời ngợi ca nào. Người đọc không chỉ cảm phục những người đã ngã xuống, còn đồng cảm, thấu hiểu sâu sắc những mất mát âm thầm mà gia đình, người thân của họ phải mang theo suốt cuộc đời. Sức chinh phục của ký là chi tiết. Gấp tập sách, sẽ rất khó quên những cặp mắt ngơ ngác của những đứa trẻ mới vài ba tuổi, nhìn về phía mấy chú bộ đội đến nhà, cứ như hỏi: trong số ấy, ai là bố, như mẹ bao lần kể… Chúng đâu biết, bố chúng ở nơi xa lắm, chỉ còn đồng chí của bố về thăm.

Nhà văn Phùng Văn Khai bên mộ liệt sĩ Phan Đình Giót tại Điện Biên năm 2024

Những ai từng ở chiến trường đều thấu hiểu, trong chiến tranh, người chịu thiệt thòi nhất, hy sinh nhiều nhất, không phải là người lính, mà là những người mẹ, người vợ, người yêu… Vì một sự thật. Người chết thì không biết đau. Tất cả những gì họ để lại, trong đó có nỗi đau, dồn lên vai người sống. Nhà văn nhiều lần kể lại những cuộc gặp với các bà mẹ liệt sĩ tuổi đã ngoài tám mươi, chín mươi; những người vợ trẻ góa chồng khi tuổi đời còn rất trẻ; những đứa con lớn lên chỉ qua những tấm ảnh của cha. Đó là những trang viết giàu chất nhân văn, nhức nhối, thống thiết.

Trên đời này có gì quý hơn con người đâu. Với con người có quý hơn thân thể mình đâu. Thế mà khi đất nước cần, những người Mẹ và những người lính sẵn sàng đem cái quý giá nhất cống hiến cho Tổ quốc. Thì đó là cống hiến vĩ đại. Qua tập sách, bạn đọc sẽ hiểu hơn về họ, về Đất nước thời máu đổ, về thời hoà bình vẫn có máu đổ, để sống đích đáng hơn!

Không chỉ tri ân người đã khuất, những con chữ hướng sự quan tâm tới những người đang tiếp tục sống cùng nỗi đau, nhất là với những người vợ liệt sĩ. Họ là những phụ nữ, có người còn rất trẻ, nhưng sớm phải mang trên vai những mất mát quá lớn. Là chị Đinh Thị Xoa, vợ liệt sĩ Đinh Văn Nam (Lữ đoàn Hải quân 125). Cưới nhau từ năm 2010, do nhiệm vụ nơi biển đảo, từ ngày cưới đến lúc anh hy sinh, chị chỉ được gặp chồng ba lần.

Người lính Hải quân ngã xuống khi làm nhiệm vụ cứu hộ tàu tại khu vực đảo Phan Vinh – Trường Sa, để lại người vợ trẻ cùng đứa con thơ còn chưa kịp hưởng trọn tình cha. Là chị Nguyễn Thúy Hạ ở xã Tòng Bạt, huyện Ba Vì, Hà Nội, vợ liệt sĩ Nguyễn Hữu Hòa thuộc Lữ đoàn Công binh vượt sông 249… Phía sau mỗi tấm Bằng Tổ quốc ghi công, không chỉ là sự hy sinh của một người lính, còn là cả một và không chỉ một cuộc đời chờ đợi, chịu đựng và mất mát của những người vợ, người mẹ, người con ở lại.

Không dừng lại ở đề tài liệt sĩ thời bình, cuốn sách còn mở rộng không gian phản ánh tới biển đảo, biên giới và đời sống người lính hôm nay. Những bút ký như Người Hà Nội ở Trường Sa, Trường Sa từ nguồn cội, Đôi vai người lính… đưa người đọc đến với những vùng đất thiêng liêng của Tổ quốc. Trong các trang viết đặc sắc về Trường Sa, không chỉ là chuyện biển đảo, còn là chiều sâu lịch sử và văn hóa dân tộc. Trường Sa hiện lên không đơn thuần là một địa danh địa lý, mà là một phần máu thịt của đất nước, nơi hội tụ ý chí và khát vọng của nhiều thế hệ người Việt Nam.

Sự đặc biệt nhấn mạnh mối liên hệ giữa Trường Sa và nguồn cội dân tộc, là một điểm nhấn trữ tình. Những tượng đài lịch sử, những ngôi chùa trên đảo, những hàng cây bàng vuông, những cột mốc chủ quyền, những câu thơ và huyền thoại dân tộc đều trở thành những biểu tượng của bản sắc Việt Nam giữa trùng khơi. Người lính Trường Sa hiện lên với vẻ đẹp rất riêng. Không chỉ là những người canh giữ biển trời, còn là những người gieo hạt, trồng cây, dựng nhà, xây dựng cuộc sống trên những đảo xa. Họ mang theo hơi thở quê hương từ đất liền ra biển lớn, biến những đảo chìm đảo nổi thành những làng quê Việt Nam giữa đại dương.

Cuốn sách gây ấn tượng bởi giọng văn chân thành, giàu cảm xúc. Viết như một người trong cuộc, không đứng ngoài quan sát, nhà văn bước vào câu chuyện bằng tất cả sự đồng cảm, thấu hiểu. Có nhiều trang văn thao thiết những dòng tâm trạng day dứt, cật vấn. Có những trang viết như những lời tâm sự với người đã khuất. Có những đoạn mang chất thơ da diết, nồng nàn. Sự kết hợp hài hòa giữa tư liệu báo chí và cảm hứng văn chương, là một nét riêng của tập sách này. Là nhà báo quân đội từng trải, tác giả có khả năng tiếp cận nguồn tư liệu phong phú, xác thực.

Với tư cách nhà văn, tác giả đã chuyển hóa những tư liệu thành những câu chuyện giàu cảm xúc, có sức lay động. Nhờ những trang văn đậm chất đời thực, sâu sắc, nồng nàn chất lính, người đọc không chỉ biết thêm về những con người cụ thể, còn hiểu sâu, thấm thía hơn về giá trị của hòa bình. Hòa bình không phải điều tự nhiên mà có. Đằng sau sự bình yên của cuộc sống hôm nay, vẫn còn những hy sinh âm thầm của bao người lính.

Những người đang làm nhiệm vụ ở biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa; những người đối mặt với thiên tai, dịch bệnh và các tình huống nguy hiểm để bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Đó là lời nhắc nhở về trách nhiệm của xã hội đối với những người đã cống hiến và hy sinh. Sự tri ân không chỉ dừng ở những nghi lễ tưởng niệm mà cần được thể hiện bằng những hành động cụ thể đối với thân nhân liệt sĩ, đối với những người đang ngày đêm làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Những liệt sĩ thời bình là một cuốn sách giàu giá trị tư tưởng, sâu sắc ý nghĩa nhân văn. Vượt lên những ghi chép về người lính, đây là tiếng nói chân thực, cảm động về lòng yêu nước, về tinh thần trách nhiệm và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời đại hôm nay. Những trang sách sẽ khép lại, nhưng trong lòng người, thì lắng đọng nỗi xúc động trước những hy sinh, và niềm tin vào những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam. Những liệt sĩ thời bình đã hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của người lính Cụ Hồ “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua”.

Họ ra đi, nhưng tinh thần của họ vẫn sống, bất diệt, muôn đời. Không chỉ là lời tưởng niệm những người đã khuất, còn là lời nhắc nhở với những người đang sống: hãy biết trân trọng hòa bình, biết sống có trách nhiệm hơn với Tổ quốc, với cộng đồng. Như một bản tổng phổ âm nhạc đa âm, đa thanh, tập sách là bản anh hùng ca về lòng yêu nước, lý tưởng sống và giá trị của hòa bình. Là tráng ca về tinh thần quyết tâm, quyết chí hoàn thành nhiệm vụ. Là tình ca về tình yêu cuộc sống, tình đồng đội, tình yêu, tình cảm gia đình và khát vọng hòa bình. Là hoan ca chiến thắng. Là tụng ca chiến công. Có cả bi ca về những mất mát, hy sinh.

NGUYỄN THANH TÚ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *