Vanvn- Chuyện kể rằng, những năm đầu thế kỷ hai mươi, trên một đoạn sông thuộc phụ lưu của sông Cổ Chiên, hai bên bờ sông dân cư còn thưa thớt, nghèo nàn, cuộc sống phụ thuộc vào những mảnh ruộng èo uột và tôm cá trên sông. Ở đó có một bà bá hộ tên Bổn Sồ (mấy cụ cao tuổi nói bà này gốc Hoa), người sở hữu hàng trăm con trâu để cho người địa mướn cày, trục hay đạp lúa khi vào mùa.
Mỗi lần lùa đàn trâu qua cồn Phú Đa ăn cỏ, bà cho chúng lội ngang cái khém nhỏ, trâu lội riết cái khém nhỏ dần thành kinh, và người ta gọi con kinh đó là kinh Bổn Sồ, rồi định danh luôn con sông chảy ngang nó cho tới ngày nay: Sông Bổn Sồ. Cồn Phú Đa bây giờ trù phú với các loại cây ăn trái đặc sản như sầu riêng, mít, chôm chôm, nhãn… chứ không đầy cỏ như hồi nó mới hình thành từ phù sa của sông Mekong đổ về hạ nguồn. Sông Bổn Sồ cũng vậy, bây giờ ngược xuôi thương hồ, rộn ràng người mua kẻ bán khác với sự vắng vẻ tiêu điều của những năm cuối thế kỷ hai mươi mốt. Hai bên bờ sông, nhà của san sát, đường dal đường nhựa xe cộ tấp nập từ sáng tới tối vận chuyển trái cây giao cho các công ty xuất khẩu.

Chuyện của bà bá hộ tên Bổn Sồ là chuyện hồi “nẳm”, là giai thoại tên một con sông, còn chuyện người viết đang muốn kể là một câu chuyện khác, cũng về một người phụ nữ gắn liền với con sông Bổn Sồ, nhưng cuộc đời bà thì trầm luân hơn, truân chuyên hơn. Người đàn bà ấy âm thầm, lam lũ, cần mẫn như lòi cò… Giống như những nơi khác trên châu thổ sông Cửu Long, cư dân dọc hai bên bờ sông thường kiếm sống bằng nghề hạ bạc, hay ít nhất cũng dựa vào sông để cải thiện bữa ăn hàng ngày. Sông Bổn Sồ ngày xưa trù phú cá tôm. Người sống “chuyên nghiệp” trên sông nước thì sắm lưới, sắm đăng, sắm câu… đó là thu nhập chính thức của họ. Còn những người “văn nghệ” một chút thì một chiếc tam bản, cái cần câu và cái vợt là đã có một cuộc mưu sinh đầy lãng mạn trên sông nước: Câu Tôm. Còn lại, phần đông người dân xuống sông kiếm mớ cá, mớ tép, vài lít hến, ốc cải thiện các bữa ăn hàng ngày mà không phải tốn tiền chợ.
Trong số những người bươn chải mưu sinh trên sông, người để lại ấn tượng với tôi (và tôi nghĩ là ấn tượng với cả cái xóm Kinh Bổn Sồ này) là cụ bà trên bảy mươi tuổi. Người dân xóm tôi gọi bà là bà Năm Thiểu, ít người biết tên họ, tuổi tác cụ thể của bà. Ấn tượng của tôi với bà Năm không phải vì bà câu kéo chài lưới giỏi, cũng không phải bà tháo vác chuyện nhà cửa ruộng nương, mà là cách kiếm sống đặc biệt của bà: Mò hến. Tại sao không phải là cào, đãi như người ta, mà là mò? Xưa, hến dưới sông Bổn Sồ dày đặc, người giỏi chỉ cần xách rổ xuống sông một tiếng đồng hồ kiếm vài giạ hến là chuyện thường. Hến là loại dễ chế biến thành những ăn ngon miệng, như hến xào củ hành, hến kho tiêu, hến nấu canh chua bắp chuối, hến nấu canh cải trời, mướp, rau tập tàng…
Đặc biệt là hến vớt ruột ra để nóng hổi vậy cuốn bánh tráng, rau sống, chấm mắm cá cơm, là mồi nhậu tuyệt vời của các ông trong lúc nông nhàn. Hến bắt lên ăn không hết thì chở ra chợ huyện bán, hoặc đổi chác hàng hoá cần thiết về cho gia đình. Nói chung, bắt hến không phải là cái “nghề” của bất cứ ai ở cái xóm Vàm Kinh Bổn Sồ heo hút này ngoài bà Năm Thiểu. Mấy chục năm sống bằng những con hến dưới sông, bà nuôi người con trai khôn lớn, mua được mảnh đất cất nhà (trước đây bà ở đậu trên đất người ta), đủ thấy tính “chuyên nghiệp” ở bà. Nhưng tại sao bà không cào, đãi hến như người ta cho nhanh là lại mò? Rồi bà bán cho ai khi dưới sông đầy hến, nhà nào cũng có thể xách rổ xuống sông mươi phút là có hến ăn rồi? Đó mới là điều đặc biệt ở bà. Là vì, bà chỉ mò hến, mò quanh năm suốt tháng, mò ngày mò đêm. Nước cạn sát, bà lần theo mép nước mà mò, bà không biết lội nên không dám đi ra xa. Nước lớn một chút, bà men theo gốc bần, lùm ô rô để mò.
Chính vì “mò”, nên bà chỉ chọn những con hến lớn để bắt, những con nhỏ “thả” lại sông. Và cũng vì vậy, hến bà bắt được luôn là hến loại đặc biệt, và dĩ nhiên, hến của bà Năm là lựa chon số một của người mua. Người dân ở địa phương muốn ăn hến bà Năm bắt phải đặt hai ba bữa trước mới có. Ngoại tôi kể, hồi bà Năm và đứa con trai vài tuổi mới lẩn quẩn ở cái xóm vàm này trên chiếc tam bản, không rèm, người dân xóm vàm luôn dòm ngó, đề phòng. Không ai biết bà từ đâu tới, nước sông gạo chợ, bắt hến để đắp đổi qua ngày. Hai mẹ con bà cứ vậy, “lềnh bềnh” trên sông hết ngày qua tháng nọ, mưa gió thì dắt díu nhau chạy lên bờ xin người ta đứng trú ngoài hiên cho đến tạnh mưa thì trở xuống sông… trôi, trôi miệt mài như những giề lục bình. Một người dân thương tình, cho bà mượn cái doi phía trước nhà cất tạm căn chòi để che mưa, che nắng. Từ đó, bà chính thức là công dân của Kinh Bổn Sồ này. Ngoại tôi nói thêm, bà Năm tính tình trầm lắng nhưng thông minh và sắc sảo lắm.

Chuyện rằng, trong xóm có một gã dê xồm, thấy cô năm “gái một con” không chồng nên thường ve vãn. Hễ thấy cô Năm bắt hến chỗ nào là gã ngồi chồm hổm trên bờ nhìn xuống thao láo. Giận, cô năm nói vọng lên khi thấy gã vừa hớt tóc bảnh bao:
– Thấy anh hớt tóc mà em khóc lu bù
Tưởng đâu thầy thông, thầy ký, ai dè ở trong… tù mới ra…
Gã này cũng không vừa, đốp chát:
– Dầu nay anh chưa đặng chữ quan tha
Đầu anh hớt, chứ hớt đầu… cha nàng sao nàng buồn.
Cô Năm cười mỉa mai:
– Xời… Buồn thì mắc mớ gì em phải buồn
Chỉ tội nghiệp cho kẻ cùng đường… nói ngang.
Lần khác, thấy cô Năm ngồi bán hến ở chợ chồm hổm, gã dạo một vòng rồi đến chỗ cô Năm cố ý chọc ghẹo:
– Hến bao nhiêu một… con, vậy em?
Ngước lên, cô năm cười ý nhị:
– Dạ, mười… dầm một con, anh muốn mua mấy con?
Nghe nói, sau lần đó, gã kia không dám bén mảng lại gần cô Năm nữa vì… chạy mặt!
Tôi nhớ như in, những ngày mưa, nhất là mưa chiều, tôi thường để ý bà Năm lầm lủi bưng cái nồi gang cũ kỹ, lọm khọm đi từ trong ngọn* ra, trên lưng là chiếc áo mưa, không, miêng ni – lon trắng choàng qua cổ, thắt lưng buộc bằng dây chuối và cái nón lá tưa vành, chỉ đủ che cái chỏm đầu. Bà ngồi dưới tán gừa già gie ra mé sông, chờ nước cạn thêm một chút. Cái lạnh trên người bà thấm vào tôi, buốt giá. Hình ảnh thật mong manh, chợt ẩn, chợt hiện, chợt hư, chợt thực trong mưa gió dễ gây một nỗi buồn mênh mông, vời vợi. Hình ảnh dễ làm người ta liên tưởng đến thân phận của loài cò… Cũng những buổi chiều mênh mang mưa gió đó, tôi thường ngóng cụ, ngóng chỉ để được nghe cụ rao bán hến, tiếng rao rất lạ, và buồn. Dáng cụ liêu xiêu trên con đường mòn trơn trợt khi mới từ dưới sông lên, cái quần vải ú đen và chiếc áo bà ba màu nước tro vá chùm vá đụp dính chặt vào thân thể teo gầy, nhăn nhúm. Cụ run bần bật. Và, cái dáng liêu xiêu đó bước dài theo chiều mưa băng bàn chân Giao chỉ móc cời, móc hít, từ trong cổ họng thoát ra ngoài cái miệng thâm tím một tiếng rao:
– Hế ế… ến…
Tôi chỉ nghe được chữ hến, không có “hơ”. Bởi, thay thế cái tiếng bổ trợ kia là một chuỗi dài những âm thanh khác, âm thanh của sự ứ nghẹn, không thành tiếng, nhưng nhìn miệng, người ta biết cụ đang “hơ”. Tiếng rao đứt đoạn đó hình như cụ cũng cố gắng lấy hơi để rao thật lớn, nhưng buồng phổi người già chỉ chứa đựng không khí để cụ phát ra từ “hến”, còn lại là hai hàm răng liên tục đập vào nhau mà người ta gọi là “đánh bù cạp”. Mỗi lần nhớ lại tiếng rao hến nửa chừng của cụ, nó như chư chiếc roi vô hình, quất một nhát thật đau, thật rát vào tuổi thơ đói nghèo của tôi, vì sau đó, tôi đã “kế thừa sự nghiệp” mò hến của cụ để kiếm tiền ăn học. Nghe kể, trong những ngày cuối đời, khi nằm thoi thóp chờ theo ông bà, thỉnh thoảng cụ Năm cũng “nhớ nghề”, lấy hơi rao, nhưng bây giờ, đó chỉ là hơi gió, cạn dần, cạn dần…
Bây giờ, sông Bổn Sồ cạn kiệt những loài thuỷ sản mang tính đặc trưng vùng miền, cá tôm ốc hến muốn ăn phải mua ở các vùng khác mang về. Người ta thuốc, người ta cào điện, người huỷ hoại môi trường với đủ các phương cách hiện đại. Những đoàn khách du lịch thỉnh thoảng ghé các quán ven sông Cổ Chiên hay sông Bổn Sồ, họ được chủ quán tư vấn các món thịt gà, vịt, heo, bò, dê… Khách trề môi, những thứ đó chỗ tôi bán đầy, chúng tôi cần là những món thuỷ sản tươi sống bắt dưới sông này kia kìa. Đâu ra? Thế thì “gian” vậy, đem những sản phẩm mang từ nới khác về ướp lạnh ra dể chìu lòng khách. Khách ăn một lần thì… vẫy tay chào, không hẹn ngày trở lại.
Chiều nay, tôi ra ngồi bên bờ sông đầy gió trước nhà mình nhìn dài theo bãi đất cạn, hồi ức trở về, quay quắc. Tôi nuối tiếc, và trong tâm khảm bật lên hai chữ “phải chi” đầy xót xa. Phải chi sông Bổn Sồ còn trong sạch như nó vốn đã từng; phải chi con người đừng vô tâm, thậm chí ác độc khi phá huỷ một cách tàn nhẫn hệ sinh thái sông nước ngọt tự nhiên trước nhà tôi bằng thuốc sâu, cào điện, thì bây giờ, những đoàn du lịch nội địa hay quốc tế có thể thong dong lướt ngang dòng sông quê tôi trải nghiệm những sinh hoạt cộng đồng rất đặc thù của của cư dân hai bên bờ Cửu Long như giở chà, câu tôm, đăng, lưới cá, lặn mò ốc gạo, cào hến… Du lịch trải nghiệm có cơ hội phát triển ngay chính địa phương mình với những mô hình mang tính “bản sắc” vùng miền. Giờ thì, cây gừa già chơ vơ gie ra mé sông hồi xưa đã đổ sụp mất; con sông đã vào mùa hến nhưng vắng ngắt, nhưng đâu đó trong hư không hình như vẫn còn lẩn quẩn hình dáng một loài cò. Và, tôi nghe trong cơn gió vừa đi ngang sông có tiếng rao “hế ế…n” đứt đoạn, ngần ngật và buồn tênh.
ĐÀO NGỌC VINH















