Vanvn- Lâu nay, tôi có nghe nói đến chuyện ông Eugène Poilane, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp đưa cây cà phê vào trồng ở Khe Sanh, Quảng Trị từ năm 1926. Năm 2026 là tròn 100 năm cây cà phê Khe Sanh được ông Eugène Poilane trồng xuống đất này. Duyên do là vậy, tôi bèn dành thời gian đi tìm dấu tích ông Eugène Poilane ở Khe Sanh và trong các tài liệu của Pháp, Hoa Kỳ.
Thời gian và chiến tranh đã xoá hết mọi dấu vết nhà cửa, sân kho cà phê… của ông Eugène Poilane ở Khe Sanh, chỉ còn lại những địa điểm mà việc xác định phải nhờ vào ký ức của những người cao tuổi. Theo người dân ở đây cho biết, những địa điểm này nằm ở vùng đất xung quanh hồ Khe Sanh, bên cầu Khe Sanh. Lên vùng đồi xanh thẫm cây rừng, vào một ngôi nhà trên đồi, tôi gặp bà Lê Thị Em, 92 tuổi và chính là gặp đúng một trong những đầu mối mà tôi cần tìm. Bà chỉ tay ra vạt đất cao phía trước nhà rồi kể, mấy năm trước, người ta đến xúc đất ở đó lên xe để chở đi làm đường ở nơi khác, làm bày ra phần mộ của ông Eugène Poilane.

Lúc đó, anh Võ Văn Chương, cháu ngoại của bà đã bốc hài cốt ông Eugène Poilane để an táng ở vị trí mới cạnh đó, bên bụi tre. Theo hướng bà chỉ, tôi lần qua mấy hàng cây cao, vòng đi vòng lại mới tìm ra bụi tre và thấy mộ ông Eugène Poilane. Mộ không có nấm, nằm chìm với mặt đất, chỉ có hàng gạch xếp xung quanh mộ theo hình chữ nhật, trước mộ có đặt một cái bình và một cái dĩa nhưng không hương, không hoa, cho thấy đây là một ngôi mộ vắng chủ. Được bà Em cho biết, chị Hồ Thị Lựu (vợ anh Võ Văn Chương) đang mở quán giải khát bên bờ hồ Khe Sanh là người biết chuyện bốc mộ này, tôi tìm ra quán gặp chị. Tôi làm khách uống nước ngọt giải khát để vừa đỡ mệt, vừa tiện bắt chuyện với chị. Khi tôi hỏi chuyện bốc mộ ông Eugène Poilane, chị Lựu mở máy điện thoại di động của chị cho tôi xem ba tấm ảnh chụp cái tiểu sành đựng hài cốt ông Eugène Poilane. Do bị phân huỷ bởi thời gian, hài cốt chỉ còn mấy mẩu xương ống, xương mụn, riêng một hàm răng giả gần như còn nguyên, có những cái răng mạ vàng.
Thời điểm chụp được ghi ở góc bên phải ba tấm ảnh này là ngày 22.11.2021, cho biết ngày bốc mộ ông Eugène Poilane chính là ngày này, khoảnh khắc chụp là buổi trưa. Chị Lựu chia sẻ thêm: “Ông nội chồng tôi đã viết một bản chép tay về chuyện đời ông Eugène Poilane, giao cho vợ chồng tôi cất giữ, phòng khi có người cần hỏi đến”. Bất ngờ trước thông tin này, tôi nhờ chị dẫn đường tới nhà ông Võ Văn Thương, ông nội chồng chị ở khóm 3b, thị trấn Khe Sanh, chị vui vẻ nhận lời. Khi tôi và chị Lựu đến, lúc gần trưa, ông Thương đi vắng. Buổi chiều tôi lại tìm đến, ông Thương có nhà. Ông
Thương nay đã 89 tuổi nhưng trông còn khoẻ và minh mẫn. Trong thời gian từ năm 1941 đến 1945, cha mẹ ông đã đến làm thuê trong đồn điền cà phê của ông Eugène Poilane. Ông đã sống với cha mẹ tại đồn điền này từ lúc ông mới 5 tuổi đến 9 tuổi. Khi lớn lên, không sống trong đồn điền này nữa, thỉnh thoảng, ông vẫn đến nhà ông Eugène Poilane chơi. Ông Thương là một nhân chứng sống hiếm hoi còn lại về cuộc đời ông Eugène Poilane cũng như về 100 năm cà phê Khe Sanh. Xem qua bản chép tay vắn tắt (non trang rưỡi giấy khổ nhỏ) của ông Thương viết về đời ông Eugène Poilane, tôi muốn ông Thương kể thêm những “ký ức sống” về chuyện người khởi nguồn cà phê Khe Sanh. Ông Thương kể ngọn ngành: “Năm 1926, ông Eugène Poilane đến trồng cà phê tại Khe Sanh.
Nhà ông dựng sau quán nhà bà Hoa, bên cầu Khe Sanh hiện nay. Nhà 1 tầng, dài khoảng 80m. Sau nhà có con suối chảy qua. Còn vạt đất nằm phía trên nhà bà Em hiện nay là địa điểm sân phơi cà phê và nhà kho của ông Eugène Poilane ngày trước. Ông có bà vợ đầu là người Pháp (tên là Melle Yvonne Bourdeauducq – chú thích của người viết), có 3 con, 2 gái 1 trai. Hai con gái tên là Y von và Y ranh. Con trai tên là Félix, chết năm 1968 vì bị đạn pháo tại sân bay Tà Cơn. Ông và vợ đầu sau đó đã ly dị. Vợ thứ hai tên là Ba, quê ở Vĩnh Linh, Quảng Trị, có 2 con gái là Ma ghi và Ty ty. Vợ thứ ba là bà Đặng Thị Nam (tài liệu của Pháp viết là Dong Thi Nam – chú thích của người viết), người
Tày, người Thổ gì đó, ở ngoài Bắc, Lạng Sơn, Cao Bằng, có con trai tên là Răng, chơi với tôi hồi nhỏ, các con sau thì tôi không nhớ. Cuối đời, ông sống với bà Đặng Thị Nam tại đồn điền gần cầu Khe Sanh”. Từ lời kể của ông Thương về bà Đặng Thị Nam, sau đó, tôi đã liên hệ, đối chiếu khi đọc bài viết “Các loài cây ăn quả ở Đông Dương” của Eugène Poilane trên Journal d’agriculture tropicale et de botanique appliquée (Tạp chí Nông nghiệp Nhiệt đới và Thực vật học Ứng dụng, Pháp), số 11, tháng 11.1965 (bài có trong Thư viện học thuật Persée, Pháp: https://www.persee.fr), có đoạn, khi viết về cây mận, Eugène Poilane cho biết: “Vợ tôi – quê ở Thất Khê – nói rằng người vùng đó nhân giống mận bằng chồi rễ”, chứng tỏ, bà Đặng Thị Nam quê ở thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định (cũ), tỉnh Lạng Sơn.
Ngày 20.4.1964, ông Eugène Poilane bị bắn chết khi đang ngồi trong xe ô tô Citroën màu vàng của ông chạy trên đường 9. Ông là nạn nhân của chiến tranh. Ông bị bắn, có thể do bị nhầm là người Mỹ. Ông Thương lúc này 28 tuổi đã đi đưa tang ông Eugène Poilane, nhớ lại: “Tôi có đi theo đưa đám. Họ gánh đi, mình chạy theo. Quan tài ông ngoài là gỗ, trong là thiếc, hai lớp. Ông được an táng tại vườn gần nhà, gần cầu Khe Sanh. Sau khi đất nước thống nhất, con ông có về tìm mộ nhưng không tìm được. Ngày 24.12.2024, có người cháu của ông Eugène Poilane về gặp tôi. Tôi đưa người cháu này lên viếng mộ ông Eugène Poilane. Người cháu này đã thắp hương và lạy như người mình vậy đó”. Theo ông Thương chỉ dẫn, tôi đã đến chỗ vạt đất phía sau quán bà Hoa (232, Lê Duẩn, Khe Sanh), địa điểm nhà ông Eugène Poilane ngày trước. Chỉ thấy những hàng tre, những lùm cây xanh um tùm, những cây chuối mọc hoang và miên man cỏ dại. Dưới cây cầu bê tông nhỏ bắc ngang, con suối hoang vu chảy qua lặng lẽ tháng năm.

Ngoài nguồn ký ức nhân chứng sống và đi thực địa, tôi tìm thêm dấu tích về ông Eugène Poilane trong các tư liệu của Pháp và Hoa Kỳ. OpenEdition Journals là nền tảng xuất bản học thuật trực tuyến có uy tín tại Pháp, chuyên lưu trữ và phát hành các tạp chí khoa học đa ngành, trong đó có tạp chí Revue d’ethnoécologie (Sinh thái học nhân văn). Số 20 năm 2021 của tạp chí này đã đăng bài “Cuộc đời và sự nghiệp của Eugène Poilane (1888-1964)” của Ariadna Burgos và Benoît Carré. Số này còn đăng bài “Bối cảnh xã hội-văn hoá và sinh thái của rừng ngập mặn Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX theo Eugène Poilane” của Ariadna Burgos, Benoît Carré, Françoise Aubaile-Sallenave và Sovanmoly Hul. Thư viện học thuật Persée, Pháp (đã dẫn trên) có lưu trữ một số bài viết về Eugène Poilane và bài viết của Eugène Poilane.
Trang web https://ncbg.unc.edu của Vườn Thực vật Bắc Carolina, thuộc Đại học Bắc Carolina, Hoa Kỳ đã đăng bài giới thiệu về các mẫu nấm và thực vật có mạch do Poilane thu thập, hiện được lưu giữ tại kho lưu trữ của Đại học Bắc Carolina… Theo các tư liệu này, ông Eugène Poilane sinh ngày 16.3.1888 tại Pháp, trong một gia đình nông dân rất nghèo. Ông đã sớm nuôi mộng về những cuộc phiêu lưu và khám phá thế giới. Dù thể trạng yếu, năm 19 tuổi, ông đã nhập ngũ, tham gia Trung đoàn pháo binh thuộc địa số 3 tại Toulon. Năm 1909, ông sang Nam Kỳ, làm việc tại Pháo đội số 7 miền núi, sau đó là tại Xưởng hoả khí Sài Gòn.
Năm 1914, ông gia nhập một đơn vị hạ sĩ quan và nhận nhiệm vụ trồng thầu dầu. Thường xuyên đến Vườn Bách thảo Sài Gòn, năm 1918, ông đã có cuộc gặp gỡ “định mệnh” với Auguste Chevalier (1873-1956), một nhà thực vật học Pháp kỳ cựu sang Việt Nam để thành lập Viện Khoa học Sài Gòn. Nhận ra thiên hướng ưa quan sát và yêu thiên nhiên của Eugène Poilane, Auguste Chevalier đã xin cho Eugène Poilane được chuyển về làm việc tại Viện Khoa học Sài Gòn. Auguste Chevalier đã dạy Eugène Poilane cách thu thập mẫu thực vật, ghi chú chi tiết rồi gửi về Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Pháp ở Paris (MNHN) để xử lý, phân loại, đưa vào nghiên cứu. Từ năm 1919, Eugène Poilane trở thành nhà khảo sát thực vật, năm 1922 làm nhân viên kiểm lâm và từ năm 1928 làm cộng tác viên chính thức của MNHN.
Đến Khe Sanh lần đầu năm 1918, Eugène Poilane bị mê hoặc bởi thảm thực vật tươi tốt ở đây và cho rằng đất đỏ ở đây tuyệt vời như đất ở Tuscany, nước Ý. Năm 1926, ông quay lại Khe Sanh để trồng những cây cà phê Chari đầu tiên xuống mảnh đất này. Ông đã đi nhiều nơi ở Việt Nam và Đông Dương để khảo sát, sưu tập thực vật và tìm hiểu hệ sinh thái rừng ngập mặn. Rất nhiều loài động thực vật đã được đặt theo tên ông: poilaneana, poilanei, poilanii và hai chi mới: Poilania (thuộc họ Cúc – Asteraceae) và Poilaniella (thuộc họ Thầu dầu – Euphorbiaceae). Theo cơ sở dữ liệu của MNHN, ước tính có 20 đến 30% mẫu vật trong bộ sưu tập của Eugène Poilane là tiêu bản định danh (types nomenclaturaux), tức là những mẫu chuẩn gắn liền vĩnh viễn với tên khoa học của các loài.
Trong một bản thảo do ông viết, ông bày tỏ rằng, Việt Nam là “đất nước mà tôi yêu quý và coi là của mình, tôi không còn là người Pháp, mà là người Đông Dương”. Ông từng thổ lộ rằng, khi lìa đời, ông muốn được chôn cất, với tư thế đứng thẳng, trên núi ở vùng Khe Sanh. Ông ngưỡng mộ Alexandre Yersin, bác sĩ, nhà vi khuẩn học và nhà thám hiểm người Pháp gốc Thuỵ Sĩ ở tinh thần say mê khám phá tự nhiên giống như ông: “Tôi biết khá rõ bác sĩ Yersin, người có tiếng là khắc khổ, tiết độ, mộc mạc và bền bỉ hiếm thấy, rất cứng rắn”.
Auguste Chevalier, người thầy của Eugène Poilane đã đánh giá cao về học trò của mình: “Một trong những niềm tự hào của cuộc đời tôi là đã phát hiện ra con người can đảm này và biến ông thành người học trò xuất sắc của mình… Khi bắt đầu cộng tác với chúng tôi vào năm 1919, ông mới chỉ khoảng 30 tuổi, khỏe mạnh và đầy khí thế. Và quả thực, ba mươi năm sống tại Viễn Đông, trong đó có gần hai mươi năm liên tục băng rừng, leo núi, gần như không ngơi nghỉ, cũng không hề làm ông nản chí. Sốt rét và lỵ mạn tính cũng không thể cản bước ông.
Các chuyến đi của ông tổng cộng dài đến hàng chục nghìn cây số, phần lớn được thực hiện bằng đường bộ và thường là trong những vùng hiểm trở, đầy thú dữ như hổ, nơi mà chưa một nhà tự nhiên học nào từng đặt chân đến. Ông đã lần lượt thám hiểm toàn bộ Đông Dương: từ Nam Kỳ đến Cao Miên, từ An Nam, Lào đến Bắc Kỳ. Ông là một trong những người đầu tiên chinh phục đỉnh Phan- xi-păng (cao 3.200m), điểm cao nhất Đông Dương, cũng như các dãy núi xung quanh. Năm 1935, ông đã từ Lào Cai đi bộ dọc theo biên giới Trung Hoa đến sông Mêkông, băng qua vùng “vô chủ” cực kỳ hiểm trở.
Những chuyến đi đó đã mang lại số lượng phát hiện thực vật vô cùng phong phú” (“Những khả năng phát triển cây ăn quả ở Bắc Đông Dương theo các cuộc thám sát và thử nghiệm của R. Miéville và E. Poilane, Ghi chú của ông Auguste Chevalier”, đăng trên tạp chí Revue de botanique appliquée et d’agriculture coloniale (tạp chí Thực vật học ứng dụng và Nông nghiệp thuộc địa), số 251-253, năm thứ 22, tháng 7-9 năm 1942, trang 363-391, bài có trong Thư viện học thuật Persée, Pháp).
Eugène Poilane đã để lại 50.000 tấm tiêu bản thực vật, hai sổ tay ghi chép thu thập được ghi chú cẩn thận (Poilane 1919, 1922), hai bản thảo: “Ghi chép của một người nông dân” (không ghi năm) dài 428 trang và “Hồi ký của tôi” (Poilane 1947-1950) dài 46 trang; chín quyển sổ học sinh viết tay (không ghi năm), nhiều thư từ, cùng các “buổi trò chuyện gia đình” được trình bày thành những câu chuyện nhằm nâng cao nhận thức cho người dân địa phương về cách xây dựng làng mạc hoặc phòng chống nạn cháy rừng.
Trong hồi ký của mình, Eugène Poilane đã bày tỏ niềm tôn kính đặc biệt dành cho thiên nhiên: “Người Công giáo tin vào một vị thần mà họ định danh, còn tôi ngưỡng mộ một tổ chức mà vì không biết rõ hơn nên tôi gọi là Bà mẹ thiên nhiên”. Gần trăm năm nay, kể từ ngày Eugène Poilane trồng lên những cây cà phê đầu tiên ở Khe Sanh, Bà mẹ thiên nhiên ở đây đã tạo nên hương vị cà phê Khe Sanh ngon nức tiếng trong nước và lan toả ra nước ngoài. Một chỉ dẫn địa lý đã được xây dựng cho cà phê Khe Sanh.
Năm 2026, tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ hội Vì Hòa bình lần thứ hai. Đây cũng là dịp tròn 100 năm hình thành và phát triển vùng cà phê Khe Sanh (1926 – 2026). Còn gì ứng hợp bằng việc đưa các hoạt động kỷ niệm 100 năm cà phê Khe Sanh vào chương trình khung của Lễ hội Vì Hòa bình, như một lời tạ ơn đối với Bà mẹ Thiên nhiên mà Eugène Poilane từng ngưỡng mộ; đồng thời ghi nhận những đóng góp của ông trong việc tìm kiếm, khảo nghiệm và hình thành vùng trồng cà phê ở Khe Sanh; tôn vinh những người trồng, chế biến, kinh doanh cà phê – những người đã chung tay phát triển cà phê trên “miền đất quả vàng” Hướng Hoá (cũ), làm nên thương hiệu cà phê Khe Sanh nức tiếng hôm nay. Đó là một thương hiệu không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn chứa đựng ký ức lịch sử, sức sống của núi rừng và khát vọng hòa bình. Từ chiến địa khốc liệt năm xưa, Khe Sanh hôm nay đang trở thành điểm đến của hòa bình, hợp tác và phát triển. Vì thế, tour du lịch cà phê Khe Sanh đã chọn slogan mang thông điệp nhân văn sâu sắc: “Make coffee, not war” (Pha cà phê chứ không phải chiến tranh). Cà phê Khe Sanh, cà phê của hòa bình! Cà phê Khe Sanh, cà phê của thịnh vượng, mai này!
NGUYỄN HOÀN















