Vanvn- Sau 1975, Nguyễn Đình Ảnh về văn nghệ Vĩnh Phú, công lao lớn nhất của ông là phát hiện, nghiên cứu, bồi dưỡng nhân tố mới của thơ ca. Nhiều nhà thơ thành danh hôm nay còn kể mãi về sự đóng góp quan trọng ấy trên con đường sáng tác nghệ thuật của họ: Trần Quang Quý, Hải Thanh, Ngô Kim Đỉnh, Nguyễn Hưng Hải, Vũ Thanh Thủy. Công bằng mà nói, Nguyễn Đình Ảnh là người công tâm, say mê cái hay, cái đẹp của nghệ thuật thi ca nên mới chăm chú phát hiện, cổ súy cho thi ca của thế hệ trẻ…

>> Bố của con như luôn còn đang sống – Kỳ 1
>> Bố của con như luôn còn đang sống – Kỳ 2
7. Nhà Lý luận phê bình, nhà thơ Vũ Nho:
– “… Trong khi làm thơ về danh nhân và những người cùng thời, Nguyễn Đình Ảnh đã bộc lộ chẳng những sức đọc, sức viết, xu hướng cảm xúc, mà còn thể hiện quan niệm về nghệ thuật, về sức mạnh thi ca, và bộc lộ chính mình”.
– “… Với người cùng thời, đặc biệt là với các bạn văn chương, Nguyễn Đình Ảnh ngoài tiếp xúc bằng tác phẩm, còn trực tiếp gặp gỡ, có khi lại cùng là bạn học, bạn đồng ngũ, bạn cùng cơ quan. Bởi thế mảng thơ này cũng rất thú vị. Nó cho thấy tấm lòng đôn hậu, tình cảm sâu đằm và cái chính là sự “liên tài” với những bạn viết. Những tên tuổi Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Đỗ Chu, Bùi Nguyên Khiết, Bùi Minh Quốc,… hiện lên trong những bài thơ với bao niềm trân trọng, yêu mến, tự hào.
Với Đỗ Chu, người làm văn xuôi:
“Văn mà cứ ngỡ là thơ
thấm vào hồn người thế đấy
tinh tế phóng túng tài hoa
đọc một lần là nhớ mãi”
(Đọc văn Đỗ Chu)
Với Hữu Thỉnh, bạn đồng hương Vĩnh Phú:
“Là tác giả của nhiều câu thơ đầy ma lực
nó cứ nhập vào người ta như thể nhập đồng
như những vòng sóng xao lên trên mặt nước
dẫu viên sỏi đã chìm mất hút dười lòng sông…
Những câu thơ cứ thế tôn anh lên”
(Qua Duy Phiên, nhớ Hữu Thỉnh)
Khi Nguyễn Đình Ảnh viết về danh nhân và người cùng thời, chính là khi anh thể hiện mình. Một nhà thơ ham đọc, ham suy tư, ngẫm nghĩ. Một tấm lòng luôn rộng mở. Một trái tim luôn hướng tới những điều thiện, những tâm hồn trong sáng, thanh cao. Một nhà thơ như thế xứng đáng được chúng ta tự hào, tôn trọng”.

8. Nhà thơ Nguyễn Hưng Hải:
– “…Thơ cũng như con người nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh “hiền như hạt lúa, củ khoai”. Chả thế mà khóc bạn, cả Phạm Tiến Duật và Trần Nhương đều “công bố” trên Báo Văn Nghệ, đại ý rằng: Nguyễn Đình Ảnh ra đi để lại một khoảng trống khá lớn trong lòng bè bạn, ấy là tình nghĩa, là những kỷ niệm đẹp về một thời cầm súng, là niềm vui, nỗi buồn sau chiến tranh…”
-“… Cảm giác lần đầu tiên được in thơ tại tạp chí Văn nghệ vùng đất Tổ cội nguồn khiến tôi lâng lâng như đi trên mây, trên gió và còn khắc sâu trong tâm trí đến tận bây giờ. Nghỉ hè năm ấy, về quê, đến Hội, gặp nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh, được ông động viên, khuyến khích tiếp tục gửi bài về cho Tạp chí, tôi đã dần bước qua sự tự ti, sợ sệt. Từ bấy, tôi trở thành cộng tác viên thân thiết của Hội Văn nghệ tỉnh, và nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh trở thành “thần tượng” suốt một thời sinh viên của tôi”.

– “…Cho đến nay, trong tôi vẫn nguyên một nhận xét: Nguyễn Đình Ảnh là nhà thơ biên tập “có nghề” vào loại nhất ở Vĩnh Phú (trước đây). Nhiều bạn bè nhưng có cảm giác Nguyễn Đình Ảnh là con người của những cô đơn và hình như càng cô đơn thơ ông càng hay. Ám vào đời ông là “xòe tay ngỡ gặp bạn/nắm lại hóa tay mình”, nhưng không vì thế mà sinh đố kỵ, hẹp hòi, kể công hay trách cứ. Bằng vào những năm tháng gắn bó, cùng ông làm thơ, đóng góp cho vùng đất Tổ và cả nước, tôi chưa bao giờ thấy Nguyễn Đình Ảnh gặp bài thơ hay mà ông bỏ ra, thấy cây bút sắc sảo hơn mình mà ghen tài, đố kỵ. Ông thường hay kể với tôi, ngày ông đưa Trần Quang Quý về làm thủ tục thi vào Trường viết văn Nguyễn Du, hai “thầy, trò” chỉ có mỗi một nải chuối lá làm quà cho phòng Đào tạo của Trường. Có thể nói ngay rằng, nếu không có sự giúp đỡ tận tình, mang cả uy tín của mình ra bảo lãnh, đất nước đã không thể có một nhà thơ sắc sảo như Trần Quang Quý hôm nay”.
– “Ông cũng là người được bạn bè lớp trẻ yêu mến. Khi ông ốm nặng, nhà thơ Phạm Tiến Duật đi xe máy từ Hà Nội lên thăm. Khi ông nằm xuống, nhà văn Nguyễn Trí Huân lặng lẽ khóc trước mồ. Lúc còn sống, ông hay kể về đám cưới của Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ, hay nhắc đến Đỗ Chu, Sao Mai… Với lớp trẻ, ngoài Trần Quang Quý, Văn Chinh, Nguyễn Tham Thiện Kế, Ngô Kim Đỉnh, ông còn thường xuyên nhắc đến Nguyễn Vĩnh Tiến, Hải Thanh, Phạm Việt Đức… Là nhà thơ được học hành cẩn trọng và chu đáo, lại tôi luyện trong khói lửa chiến tranh nên ông khá thận trọng trong biên tập và nhận xét tác phẩm của hội viên, của cộng tác viên. Chưa bao giờ thấy ông mang thơ của người này, người kia ra “đàm tiếu”.
– “…Nhớ đến ông, tôi thấy thấp thoáng ở Trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật Phú Thọ bóng ông vào ra hay đang đàm đạo chuyện thơ, chuyện đời với Nguyễn Hữu Nhàn, Kim Dũng, Đỗ Dũng, cả chị Doanh, chị Tuất, anh Nhật nữa. Như thế, ai dám bảo là Nguyễn Đình Ảnh “ra đi” khi mà thơ ông còn vang vọng khắp vùng trời đất Tổ”.
9. Nhà thơ Hải Thanh:
– “…Ông say thơ và ngẫm ngợi nhiều về thơ, về cái công việc nhọc nhằn này. Có lúc tưởng như ông quên hẳn xung quanh, nhưng đằng sau vẻ như khinh bạc, sau chút men cay, cuộc sống sôi động và dữ dằn, lại hiển diện trong câu chữ. Và đáng quý nhất, rõ nét nhất là hình ảnh những người thân thiết bên ông. Ông là nhà thơ của những tình thân. Đọc thơ ông thì khắc thấy.
Tôi càng lớn lên, càng thấy công việc làm thơ nhiều nghiệt ngã. Nhưng ít ra tôi đã học được ở ông cái sự quên, nhất là sự không ồn ào và khuôn phép. Người ta có thể không có dáng cao ngạo nhưng có cốt cách cao ngạo là thế”.
– “Một lần ông đọc câu thơ: Cứ vui như thế buồn như thế/ Ai biết ngày mai sẽ thế nào. Tôi nghe thuộc ngay nhưng hiểu thì chưa cạn nhẽ. Mãi sau tôi mới ngộ ra điều, phải qua nhiều truân chuyên lắm mới viết được câu không truân chuyên.
Thực lòng, có nhiều lúc tôi đã tỏ ra chán ngán, bất mãn trên những đoạn đời nhiều vấp váp. Ông đọc rồi bảo tôi, đừng viết thế, nó “bé” người đi. Làm thơ cần một sự sang trọng. Sang trọng là sao, đã như phơi trên dây gan ruột mình thì còn phải sang trọng thế nào nữa? Tôi lý luận. Ông nhẹ nhàng, ta năm đứa con còn lạ gì chuyện giường chiếu. Nhưng nói chuyện ấy vào văn chương thì có phải là tục tĩu không nào. Này nhé, ví dụ cụ thể trong “Sắc cầu vồng”: – Em ở trong xa cách/ như một sắc cầu vồng/ tôi sợ… nhỡ qua sông/ sắc cầu vồng biến mất! Sợ quái gì đâu. Nhưng mà bước qua đó thì còn ra thể thống gì nữa. Nó “sang” ở nghĩa ấy…”.

10. Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hùng Vương, nguyên Trưởng Chi hội Nghiên cứu – Phê bình Hội VHNT tỉnh Phú Thọ:
– “… Có lần Nguyễn Đình Ảnh căn dặn: “Tớ thấy các cậu chơi với nhau có trước có sau, thủy chung lắm, mảnh đất quê hương mình mấy ngàn năm có nhiều cái hay, viết cả đời, vẽ cả đời chẳng bao giờ hết được. Từ cây sơn, cây trám, cây chè, củ sắn, quả dọc đến truyền thuyết Hùng Vương, An Dương Vương… cái quan trọng là các cậu phải luôn nhớ núi Hy Cương là núi Chủ, nơi cao ngất ấy có Đền Hùng, lại có Tam Đảo, Ba Vì chầu về, có 3 con sông tụ lại. Văn học nghệ thuật Phú Thọ phải có tác phẩm xứng đáng với sông ấy, núi ấy”. Lời Nguyễn Đình Ảnh đã in dấu trong những trang viết của: Nguyễn Hưng Hải, Ngô Kim Đỉnh, Nguyễn Tham Thiện Kế, đến tác phẩm hội họa về trung du của Đỗ Dũng, Nguyễn Lưu, Quang Thái sau này”.
– “…Đấy là Nguyễn Đình Ảnh, con người của tình yêu chân chất, mỗi lần nở nụ cười như “mùa thu tỏa nắng”. Sau 1975, Nguyễn Đình Ảnh về văn nghệ Vĩnh Phú, công lao lớn nhất của ông là phát hiện, nghiên cứu, bồi dưỡng nhân tố mới của thơ ca. Nhiều nhà thơ thành danh hôm nay còn kể mãi về sự đóng góp quan trọng ấy trên con đường sáng tác nghệ thuật của họ: Trần Quang Quý, Hải Thanh, Ngô Kim Đỉnh, Nguyễn Hưng Hải, Vũ Thanh Thủy. Công bằng mà nói, Nguyễn Đình Ảnh là người công tâm, say mê cái hay, cái đẹp của nghệ thuật thi ca nên mới chăm chú phát hiện, cổ súy cho thi ca của thế hệ trẻ.
– “…Tâm sự ấy không chỉ riêng lẻ, mà còn là của nhiều nhà thơ trẻ ở đất Trung du đi qua năm tháng tuổi học trò, qua thời lính, còn bỡ ngỡ, ngại ngùng trước ngôi đền thi ca. Nhà thơ Hải Thanh cũng nói với tôi: “Nguyễn Đình Ảnh hồn hậu lắm, thơ lắm đấy, nếu không có hiểu biết sâu sắc về văn hóa Phương Đông thì ngồi đàm đạo với Nguyễn Đình Ảnh chỉ có im lặng”. Tôi hỏi vì sao? Hải Thanh nói: “Tiếng là thi sĩ nhưng thơ Nguyễn Đình Ảnh có tính triết lý sâu sắc của Á Đông, thâm trầm và lắng đọng nên cần phải có tư duy chiêm nghiệm khi đọc và nghiền ngẫm mới hiểu hết cái hay cái đẹp của thơ Nguyễn Đình Ảnh”. Bạn thơ Ngô Kim Đỉnh một lần cũng nói, đại ý: “Gặp Nguyễn Đình Ảnh chỉ nói chuyện về văn chương, bàn về con người văn chương; ông Ảnh rất tinh về câu chữ, đôi khi tôi được ông góp ý cho một vài từ rất đáng giá – kinh nghiệm quý của người làm thơ và yêu thơ…”.
– “…Hơi ấm cuộc đời và thơ ca của Nguyễn Đình Ảnh vẫn còn nồng nàn, bịn rịn trên vùng đất quê hương Nguồn cội và Trung du, kể cả khi người thơ đã “Giã biệt một ánh sao chiều”.
11. Nhà văn Ma Trường Nguyên:
“…Tôi đã đọc thơ Nguyễn Đình Ảnh và bây giờ đọc thơ Nguyễn Thị Lan Thanh. Càng đọc tôi càng thấy đúng như suy nghĩ về nghề của Nguyễn Đình Ảnh trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại đã viết: “Công việc làm thơ hình như có cái gì gần giống như công việc đi câu… Không phải cứ giành nhiều thời gian thì sẽ nhất thiết viết được thơ hay. Có khi đang đi trên đường, đột nhiên nảy ra một tứ thơ, thế là thảng thốt viết luôn ở trong đầu, về chỉ việc chép ra thôi… Nhưng để có được khoảnh khắc đó, phải nghiêm nhặt cả cuộc đời: Vốn sống dày dặn, tầm cao văn hoá và trái tim nồng ấm, để rung động xôn xao. Bởi vậy, theo tôi nghĩ, thơ chính là tiểu sử tâm hồn của thi sĩ vậy”…”.

12. Nhà văn Phùng Phương Quý:
“…Người chiến sĩ – nhà thơ, đã biến những xúc cảm thi ca thành cầu vồng bảy sắc lung linh tự tô điểm cho mình trên con đường thơ gập ghềnh mưa nắng. Cầu vồng nối hai bờ hư ảo, cũng ví như hai thái cực thịnh – suy đời người, cố mà đi qua cho tỏ rõ hào quang bé nhỏ:
“Chỉ cách một dòng sông
Mà hóa hai vùng đất…”
Sắc cầu vồng
Nguyễn Đình Ảnh đã biết được như vậy chưa lâu khi anh cảm thấy thời gian không thể chờ đợi khách thơ. Sẽ phải một lúc nào đó hồn phách và thể xác sẽ nối đời người thành cầu vồng bảy sắc. Trong bảy sắc cầu vồng đời anh, tôi nhận thấy màu tím trội hẳn lên trong ánh mắt những người bạn, người anh em, người thân của anh buổi tiễn biệt cuối cùng, mặc dù vẫn còn những đố kị thấp hèn, những thù hận tiểu nhân. Thì cuộc đời là như vậy, cầu vồng cũng có đến bảy màu cơ mà, phải không anh?…”.
13. Nhà giáo Bùi Thanh Ninh:
– “Từ khi còn học Trường cấp 2 Lâm Thao, chúng tôi đã mê đọc báo Văn học và Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Chúng tôi ky cóp số tiền ít ỏi của đời học sinh nhà quê nghèo cố mua mỗi tuần một tờ báo Văn học, mỗi tháng một số tạp chí Văn nghệ Quân đội. Và cùng mơ ước trở thành nhà văn, nhà thơ. Tôi và Toại tập tành viết truyện, Nguyễn Đình Ảnh thì mơ trở thành thi sĩ.
Không hiểu vì sao Ảnh cho rằng phải có hơi men và vầng trăng cùng bóng những cành tre nhẹ vờn nhau dưới đáy ao làng leo lẻo xanh thì “Nàng thơ kiều diễm” mới xuất hiện trong tim. Nên Ảnh không tìm nhà trọ ở ngoài phố mà vào trọ mãi tận xóm đầu của xã Thanh Minh, cách cổng bệnh viện Thị xã Phú Thọ vài trăm mét, hàng ngày lẽo đẽo vượt sân bay đến trường. Có những đêm trăng sáng, với lưng lửng cút rượu, nhúm lạc rang, một mình ngồi dưới khóm diễn, ngắm vầng trăng dưới ao nhà chủ vừa nhâm nhi độc ẩm vừa ngâm thơ. Ảnh mơ mộng và quyết trở thành nhà thơ từ những đêm như thế!”
– “Ảnh thành công sớm hơn tôi và Toại 3 năm. Năm học lớp 9, Ảnh đã có thơ in trên tạp chí Văn nghệ Quân đội.
Tôi nhớ hôm đó, đến gốc cây xà cừ cách lớp 30 mét, nhìn về hiên lớp tôi thấy hơi lạ. Các lớp khác người đứng lố nhố ở hiên, ở dưới sân.Tiếng cười đùa, trêu trọc nhau ồn ào. Riêng lớp 9A của tôi chẳng có bóng một bạn nào. Trong lớp cũng im phăng phắc. Hay lớp mình có sự cố gì. Tôi chạy gần vào lớp. Vào đến cửa tôi thấy các bạn ai nấy đều đứng ở vị trí của mình. Họ truyền tay nhau một cuốn sách gì đó. Tôi vào chỗ, ngoảnh xuống dưới giật lấy cuốn sách đang trong tay bạn Nhiệm. Đập và mắt tôi là chữ Nguyễn Đình Ảnh in trên góc trái 1 trang của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, dưới là hai chữ “Dưới nắng”. Tôi đọc chưa hết đã bị thằng Mối giật lấy…
Hôm nhận được nhuận bút, Ảnh mua một gói kẹo bột (hồi ấy kẹo vừng đã là loại kẹo sang, trẻ em hằng mơ ước), mỗi người chỉ được một chiếc. Vừa nhai kẹo vừa reo hò mừng cho Ảnh có thơ đăng Tạp chí văn học thuộc hạng sang trên Trung ương.
Hơi nóng trong bài thơ “Dưới nắng” còn ấm nóng mãi trong trái tim Nguyễn Đình Ảnh để anh cho ra lò… các tập thơ trong cuộc đời mình”.
14. Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương:
– “…Nguyễn Đình Ảnh yêu cuộc sống cũng như yêu người anh yêu: một tình cảm dịu dàng thấm đượm, nâng niu và trân trọng. Đừng tìm ở Nguyễn Đình Ảnh những cảm giác mạnh, những dằn vặt và mê đắm. Ngôn ngữ thơ anh không hoa mỹ, không cầu kì và cũng không gân guốc hay cạnh góc. Câu và từ của anh giản dị và chân chất, đó là ngôn ngữ của những câu ca dao, câu ví vùng đồi, của những câu hát Xoan, hát Ghẹo quê anh.
Rất rõ nét trong thơ Nguyễn Đình Ảnh là sự giản dị và chân thực. Rất rõ nét trong tình cảm của anh là tình yêu quê hương trung du, yêu mảnh đất với bao trầm tích văn hóa cổ, mảnh đất đã nuôi dưỡng anh và tạo dựng hồn thơ anh. Yêu quê hương và yêu con người. Yêu dịu dàng, yêu đằm thắm, yêu “thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu”, yêu như hương ngâu hương bưởi bay mênh mông thơm dịu cả đồng quê.
Thơ Nguyễn Đình Ảnh có sự suy nghĩ thâm trầm, lặng lẽ mà sâu sắc, nhận thức về cuộc sống với tư duy của một triết nhân để giữ được sự yên tĩnh của tâm hồn và một tấm lòng tươi mát.
Cùng với chùm thơ được in, tòa soạn Nhân dân Chủ nhật (số 20/1991) đã giới thiệu thơ anh: “Thơ Nguyễn Đình Ảnh trầm tĩnh, nhân hậu, bám sát vùng đồi núi trung du của Đất Tổ Hùng Vương và biểu lộ tình cảm thắm thiết với con người, cảnh vật trên vùng đất Phong Châu quê mình”
Nguyễn Đình Ảnh viết trong ghi chép về thơ (sổ tay) của anh: “Có lẽ quy luật của việc làm thơ muôn thuở là thế chăng: trước tiên và trên cả cái tài, bao giờ cũng là cái tình, cũng là cái tâm”.
Nguyễn Đình Ảnh là như thế!…”
15. Nhà văn Nguyên An:
– “…Nguyễn Đình Ảnh là một nhà thơ khiêm dung và gần gũi, ông đẹp vẻ đẹp nghiêm cẩn mà hiền hoà. Như bất cứ thi gia đích thực nào, sau vẻ ngoài trầm lắng của một vóc dáng cao gầy và gương mặt như đã lắm dãi dầu, với mái tóc cũng già trước tuổi, Nguyễn Đình Ảnh có cả một sự xao động như sóng vỗ bờ, thể hiện một nội lực và sự tự biết tiết chế…”.
– “…Chiêm nghiệm và băn khoăn của tác giả như thế, đã theo đi cùng mỗi cuộc đời người đọc. Nói như Hữu Thỉnh, là ta hãy đọc Nguyễn Đình Ảnh một cách “chậm rãi, thư thái và trong một trạng thái cô đơn càng tốt, sẽ ngấm hết các dư vị của thơ anh”, Hữu Thỉnh viết tiếp: “Đó là thứ thơ giàu tâm tình, ít trang trí, coi trọng về chất”…”.

16. Nhà thơ Ngô Kim Đỉnh:
– “…Những năm 90 của thế kỷ trước, tôi hào hứng học hỏi sáng tác thơ. Đôi khi “điếc không sợ súng” cũng tập tọng viết vài bài báo dưới dạng giới thiệu sách hoặc phản ánh này nọ. Có lẽ nhận thấy sở thích “bình loạn” ấy của tôi, nên nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh cũng thường nói kỹ hơn cho tôi nghe quan điểm thơ của ông về thời sự văn chương trong tỉnh, trong nước. Có nhiều cách tiếp cận tri thức văn học, nhưng qua cách “tâm tình văn nghệ” của ông, tôi nhận thêm ra nhiều điều thú vị. Qua ông, tôi thêm hiểu về thơ của những tác giả “trẻ và mới” mà nổi tiếng trong làng thơ Việt khi ấy: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Linh Khiếu, Mai Văn Phấn, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quyến, Nguyễn Ngọc Phú… và một số nhà thơ, nhà văn khác. Cùng một số người nữa, nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh đã như những người thầy đầu tiên truyền cảm hứng sáng tạo và tiếp thêm kiến thức văn học cho tôi dần nhận ra con đường để đi (và phải đi)… nếu muốn đến bến bờ của văn chương – nghệ thuật”.
– “…Tôi cùng đồng ý lời nhận xét của nhà thơ Nguyễn Hưng Hải mà khẳng định rằng: “Ông là nhà thơ được học hành cẩn trọng và chu đáo, lại tôi luyện trong khói lửa chiến tranh nên ông khá thận trọng trong biên tập và nhận xét tác phẩm của hội viên, của cộng tác viên. Chưa bao giờ thấy ông mang thơ của người này, người kia ra đàm tiếu”. Vâng, ông là nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh, nhà thơ của đắm đuối tình người – tình đất trung du”.
17. Họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng:
– “…Những năm công tác ở Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phú trước đây và Phú Thọ ngày nay đã hơn 20 năm thì có 15 năm công tác liên tục cùng nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh (năm 2000 nhà thơ nghỉ hưu theo chế độ). Có lúc tôi là cán bộ, là cấp phó của ông, tôi đều nhận thấy ở con người ông một tâm hồn thi sĩ, một nhân cách sống giản dị, nhường nhịn, thân mật và gần gũi. Công bằng mà nói ông là người có vốn kiến thức, chuyên môn sâu rộng. Là bạn học, bạn thân thiết và cùng công tác với các nghệ sĩ tên tuổi như: Phạm Tiến Duật, Lưu Quang Vũ, Đỗ Chu, Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân…”.
– “…Ở cương vị người đứng đầu Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, ông thường quan tâm và chăm lo bồi dưỡng đội ngũ sáng tác. Nhà thơ đặc biệt vui, quan tâm và khích lệ mỗi khi có tác giả trẻ nào đó có những thành công bước đầu trong sáng tạo tác phẩm. 4 năm làm Chủ tỉnh Hội, từ năm 1997 – 2000 cùng với Ban thường trực, ông tích cực tổ chức nhiều lớp năng khiếu sáng tác văn học. Mời nhiều nhà văn, nhà thơ tên tuổi của đất nước lên truyền đạt kinh nghiệm sáng tác cho các em. Mong muốn Hội VHNT tỉnh sau này sẽ có một đội ngũ văn nghệ sĩ tài năng, kế tục sự nghiệp VHNT của Phú Thọ, vùng đất cội nguồn của dân tộc – Đất Tổ Hùng Vương, cái nôi của nền văn nghệ kháng chiến”.

18. Nhà thơ Phạm Tiến Duật: (bài đăng Báo Văn Nghệ, tháng 11.2006)…
– “…Tình bạn giữa tôi và Ảnh kể đến giờ phút này đã ngót nửa thế kỉ, đã có thể gọi là dài. Và với tôi Nguyễn Đình Ảnh là người bạn có tất cả các chặng đường chung từ tấm bé: lớn lên cùng một quê, cùng đi học phổ thông, vào đại học cùng ngày, cùng trường, cùng khoa, nhập ngũ cùng một ngày, lên Tây Bắc cùng một lần (04/08/1964), cùng tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến ngày đại thắng, cùng làm VHNT”.
– “ Nguyễn Đình Ảnh làm thơ và có thơ in trên báo ngay từ khi còn là học sinh nhưng anh chỉ thật nổi tiếng khi mặc áo lính. Bộ đội Phòng không – Không quân ngày ấy tập hợp nhiều cây bút trẻ vạm vỡ: Đỗ Chu, Nguyễn Trí Huân, Lưu Quang Vũ, Thao Trường (Nguyễn Khắc Trường), Dương Duy Ngữ, Duy Khán và nhiều cây bút khác”.
– “Một điều đáng nói trước cả chuyện quân ngũ của Nguyễn Đình Ảnh là việc chúng tôi đã rơi vào một ngẫu nhiên đến kì lạ: chúng tôi đã được học chung một khoa, một khóa tại khoa Văn Đại học sư phạm Hà Nội với nhiều cây bút mà sau đó trở thành các cây bút chủ lực của cả một chặng đường dài văn học: những Ma Văn Kháng, Tô Nhuận Vĩ, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Khoa Điềm, Tô Hoàng,…
Có một dạo Nguyễn Đình Ảnh ký tên dưới một bút danh thơ bằng một bút danh dài: Lan Thanh – Nguyễn Đình Ảnh. Lan Thanh là tên vợ anh. Gần đây chị Lan Thanh có xuất bản sách với nhiều bài thơ giọng điệu rất đằm thắm. Nguyễn Đình Ảnh ra đi nhưng thơ anh còn ở lại và âm hưởng thơ anh còn vọng trong vần điệu của người bạn đời của anh, viết tiếp thay anh”.

Thay lời kết:
Con đã đọc kỹ và mạn phép “trích – dẫn” những lời nhắn nhủ, trao gửi, đánh giá và nhận xét gan ruột nhất từ 18 nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhà lý luận phê bình văn học, nhà nghiên cứu văn hóa… Họ là những bạn học, bạn văn, bạn chiến đấu, đồng nghiệp của bố mẹ, những người cùng thời (và cả một số người đến nay không còn nữa) từng đồng cam một thuở. Để thấy, bố đã có một đời sống học tập, quân ngũ và sáng tác văn học dù gian nan nhưng cũng uy hùng và tròn vẹn.
Con còn nhớ, khi đứa cháu ngoại chạy về khoe: “Ông ơi, bài thơ “Trước cổng trời” của ông được in trong sách giáo khoa Tiếng việt lớp 5, cháu vừa được học” đã làm bố vui lắm. Và con hiểu – dẫu khổ mấy thì cũng hãy nên tiến về phía trước, khi đã lựa chọn chính xác cho mình một mục tiêu lý tưởng cần vươn tới. Nhà văn nói riêng, người làm văn học nghệ thuật nói chung mới có khả năng dựng nên “tượng đài bất tử” trong lòng công chúng khi tác phẩm của họ mãi được nhớ tới, lưu truyền…
Và con thực sự hiểu vì sao bố của con luôn như còn đang sống!
NGUYỄN ĐÌNH ÁNH















