Bố của con như luôn còn đang sống – Ghi chép của Nguyễn Đình Ánh – Kỳ 2

Vanvn- Nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh là người sống có khát vọng, có lý tưởng, hay nói cách khác là tình yêu nước. Đây cũng là đặc điểm lớn nhất của thế hệ thơ chống Mỹ. Lúc trước, Văn Chinh có nhắc đến bài thơ “Chào đất nước” của Nguyễn Đình Ảnh. Đó có thể coi như là một khúc ca, cất cao lên, thay mặt cho cả một thế hệ, tuyên thệ, tuyên ngôn với đất nước này, với xứ sở này. Đấy là lý tưởng xã hội của văn nghệ sĩ. Nguyễn Đình Ảnh đứng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh thay mặt cho cả một thế hệ chào đất nước – ở đây không chỉ là chào đất nước mà còn đại diện một thế hệ nói lên trách nhiệm với đất nước.

Chân dung Nguyễn Đình Ảnh do họa sĩ Trần Tuy ký họa

>> Bố của con như luôn còn đang sống – Kỳ 1

 

Những thành tựu được bạn bè ghi nhận:

Những đánh giá về thành tựu của bố và mẹ trong nền văn học nước nhà qua thiện tình của anh em huynh hữu thật ấn tượng biết bao. Con xin mạn phép “trích – dẫn” một số “lời vàng – ý ngọc” trong những bài tham luận, thay nén tâm hương của anh em giới văn nghệ thăm viếng bố, cùng hẹn nhau hội ngộ, tri ân trong ngày kỷ niệm 20 năm ngày bố “ra đi mãi mãi”…:

Nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh gặp gỡ trao đổi về sáng tác với nhà thơ Tố Hữu ngày 18.4.1997. Ảnh Vân Trang

1. Nhà thơ Hữu Thỉnh: khi đó là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, trong bài phát biểu tại Hội Thảo cho rằng: “Nguyễn Đình Ảnh – Nguyễn Thị Lan Thanh là những cuộc đời lao động sáng tạo không mệt mỏi”.

– “Nói đến Nguyễn Đình Ảnh trước hết, phải nói đến anh cùng với Nguyễn Hữu Nhàn, Nguyễn Bùi Vợi – những người đã dựng nên Hội VHNT của Vĩnh Phú ngày đó. Phía đông thì có Bùi Đăng Sinh và Hoàng Tá. Các anh dựng nên cả một Hội VHNT, nếu không có những tên tuổi trụ vững nhất ấy, cái “tam giác” Nguyễn Đình Ảnh – Nguyễn Hữu Nhàn – Nguyễn Bùi Vợi thì không có Hội VHNT Vĩnh Phú ra đời, năm 1976. Họ làm cho hoạt động VHNT trở nên chuyên nghiệp, có sức mạnh và tên tuổi hẳn lên. Do vậy, công của Nguyễn Đình Ảnh, theo tôi, rất đáng phải được ghi nhận. Anh là một trong những người đầu tiên, đặt những viên gạch đầu tiên dựng nên ngôi nhà VHNT của Phú Thọ hôm nay, của Vĩnh Phú ngày ấy. Trước hết phải ghi công của Nguyễn Đình Ảnh trong ngày hội thảo hôm nay!

Nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh (1942-2006)

Cái thứ hai cần nói, Nguyễn Đình Ảnh là người sống có khát vọng, có lý tưởng, hay nói cách khác là tình yêu nước. Đây cũng là đặc điểm lớn nhất của thế hệ thơ chống Mỹ. Lúc trước, Văn Chinh có nhắc đến bài thơ “Chào đất nước” của Nguyễn Đình Ảnh. Đó có thể coi như là một khúc ca, cất cao lên, thay mặt cho cả một thế hệ, tuyên thệ, tuyên ngôn với đất nước này, với xứ sở này. Đấy là lý tưởng xã hội của văn nghệ sĩ. Nguyễn Đình Ảnh đứng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh thay mặt cho cả một thế hệ chào đất nước – ở đây không chỉ là chào đất nước mà còn đại diện một thế hệ nói lên trách nhiệm với đất nước.

Bên cạnh đó, Nguyễn Đình Ảnh còn có những cái giá trị khác – giá trị nhân văn, luôn lo âu về tình người, tình đời. Nguyễn Đình Ảnh có rất nhiều câu thơ hay: “Câu thơ mình viết cho mình/ Biết đâu thấu cả nhân tình thế gian”, theo tôi, cách đây mấy chục năm, câu thơ này đã có một tầm vóc về nhân văn. Hoặc: “Không yêu trăng hóa mảnh sành/ Yêu nhau nhìn đá cũng thành bông hoa” –  Đấy chính là Nguyễn Đình Ảnh. Phải nhìn ý tứ này theo cách nhìn của mấy chục năm trước, khi ấy Nguyễn Đình Ảnh mới ba, bốn chục tuổi thôi, mà nghĩ về đời, nghĩ về tình yêu, nghĩ về thơ ca như thế, là một cách nhìn trưởng thành lắm, chuyên nghiệp lắm. Chiêm nghiệm về cõi đời, Nguyễn Đình Ảnh có một loạt các bài thơ in ở phần cuối tuyển tập, viết về một loạt thơ chân dung những danh sĩ, từ cổ đại, cận đại đến hiện đại. Toát lên toàn bộ trong các bài thơ chân dung ấy là chất thế sự, chiêm nghiệm, triết lý. Và, ở điểm này Nguyễn Đình Ảnh rất mạnh so với thơ Vĩnh Phú khi đó. Anh viết: “Có khi lỡ hẹn một giờ/ Lần sau muốn gặp phải chờ trăm năm”, là hay quá chứ. Đấy là thế sự và đấy là văn hóa. So với anh em chúng tôi lúc ấy, Nguyễn Đình Ảnh là người hay nghĩ ngợi, chiêm nghiệm về đời sống khá sớm.

Và, đóng góp thứ tư của Nguyễn Đình Ảnh là anh không chỉ sáng tác, không chỉ quản lý; ngoài viết ra, anh Ảnh còn yêu thích dịch thơ – nghĩa là anh ấy muốn nhìn văn học dưới góc nhìn văn hóa. Một lần nữa chúng ta phải ghi công cho Nguyễn Đình Ảnh. Không ai nhắc đến, không ai đặt vấn đề văn hóa trong sáng tác sớm như Nguyễn Đình Ảnh. Chúng ta chỉ biết thơ là thơ thôi, văn là văn thôi, tiểu thuyết là tiểu thuyết thôi; nhưng văn, thơ, tiểu thuyết dưới góc nhìn của Nguyễn Đình Ảnh là góc nhìn văn hóa học. Văn hóa học nghĩa là gì? Nghĩa là tất cả phải trở thành văn hóa, tất cả phải kết tinh, phải trở thành cái gì không thể nào quên được, phải thành trăm năm. Bốn nội dung nhìn nhận của tôi về Nguyễn Đình Ảnh là như vậy!”.

– “Hôm nay, tôi vui mừng được trở lại đất Tổ Hùng Vương, trở lại Việt Trì, được gặp gỡ những người bạn gần 1/2 thế kỷ qua từng chia ngọt sẻ bùi, khó khăn, thiếu thốn; được dự một cuộc hội thảo khoa học về thơ Nguyễn Đình Ảnh – Nguyễn Thị Lan Thanh. Việt Trì với tôi là “Thành phố bạn bè”, đã hằn sâu trong ký ức: “Tôi đã ở sáu năm/ Trên miền đồi Gia Cẩm/ Nhà tập thể nửa gian/ Chưa bận con, ở tạm/ Tháng, một lần “tranh thủ”/ Đạp xe từ núi Đanh/ Chờ hết giờ hành chính/ Thủ trưởng cho khởi hành/ Hình như chiều thứ bảy/ Dốc thấp hơn ngày thường/ Vợ báo thêm xuất khách/ Tôi về thường nguội cơm/ Sáu năm tôi đi về/ Vui buồn cùng thành phố/ Việt Thanh và Việt Tú/ Việt Trì trong tên con”. Ở Việt Trì, tôi hiểu gia cảnh của anh Ảnh, chị Thanh; hiểu nhân cách và tài năng của Nguyễn Đình Ảnh. Anh Ảnh nay đã đi xa, Lan Thanh là người bạn đời của anh lại viết tiếp những trang viết còn dang dở, đi tiếp nỗi đam mê của chồng đã chọn. Và, đến hôm nay, tại Hội thảo khoa học này, chúng ta có thể khẳng định: Nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh, nhà thơ Nguyễn Thị Lan Thanh đã có một cuộc đời lao động sáng tạo không mệt mỏi với những đóng góp nhất định cho văn học nước nhà – điều mà không phải ai cũng có được”.

Nhà thơ Hữu Thỉnh phát biểu tại Hội thảo “Thơ Nguyễn Đình Ảnh – Nguyễn Thị Lan Thanh” tháng 11.2016

2. Nhà Lý luận phê bình Bùi Việt Thắng:

– “Tôi dám chắc hiếm có ở xứ sở nào mà thi ca thịnh vượng như ở nước Nam ta ngày nay. Tôi cũng dám chắc hiếm có ở xứ sở nào mà nhiều cặp vợ chồng nhà văn như ở ta ngày nay. Những cặp vợ chồng viết văn còn được ghi trong lịch sử văn chương nước Việt thời hiện đại rất nhiều: Vũ Ngọc Phan – Hằng Phương, Vũ Tú .am – Thanh Hương, Chế Lan Viên – Vũ Thị Thường, Bùi Minh Quốc – Dương Thị Xuân Quý, Hoàng Quốc Hải – Nguyễn Thị Hồng, Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh, Chu Lai – Vũ Thị Hồng, Lê Quang Trang – Trần Thị Thắng, Nguyễn Mạnh Tuấn – Hà Phương, Nguyễn Sỹ Đại – Trần Kim Hoa, Sương Nguyệt Minh – Vũ Minh Nguyệt, Nguyễn Thanh Mừng – Trần Thị Huyền Trang, Phạm Khải – Lê Hồng Nguyên,… Nhưng vợ chồng thi nhân và những trùng phùng duyên văn như Nguyễn Đình Ảnh – Nguyễn Thị Lan Thanh, lại không nhiều. Không nhiều nên hiếm và quý”.

– “Đọc thơ của hai nhà thơ chồng, vợ Nguyễn Đình Ảnh và Nguyễn Thị Lan Thanh, không riêng tôi, mà văn giới đều nhận ra cái ngọn lửa ấm áp của thơ ca được đốt lên trong lòng độc giả chính là tình cảm cố hương. Ở mỗi nhà thơ vợ, nhà thơ chồng, theo tôi, có hai phần thơ hay nhất: một viết về người thân yêu ruột thịt, một viết về tình cảm cố hương. Đây là phần sở trường của cả hai nhà thơ”.

– “Viết về cố hương với giọng thơ hào sảng, tươi sáng là nét đặc trưng trong thơ Nguyễn Đình Ảnh: “Nơi tôi sinh ra và tôi sống/ cũng là nơi bà Âu Cơ sinh ra trăm trứng/ giống Rồng và nòi Tiên/ dạy các con trồng mía trên bãi sông/ dạy đào giếng, trồng dâu, dệt vải”. Có lẽ gần 4000 ngày balô trên lưng hành quân qua nhiều miền đất Tổ quốc đã cho nhà thơ cái cảm thức, cảm hứng lớn về quê hương của mình. Đọc những bài thơ hay của nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh về cố hương thấy một tâm hồn, tấm lòng phóng khoáng, hào hiệp. Ông trải lòng mình với quê hương, nơi sinh thành, và rộng hơn là quê hương đất nước của đồng bào mình”.

– “Vì nghệ thuật không có “thời”, không hề cũ nếu nó làm ta ám ảnh, nghĩ khác, sống khác, xúc động khác. Ít nhất thì thu hoạch của riêng tôi sau khi đọc thơ của hai nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh và Nguyễn Thị Lan Thanh đã nhận ra vẻ đẹp giản dị của đời sống và thi ca. Trên đôi cánh của thi ca chúng ta có thể bay tới những chân trời mới”.

3. Nhà thơ Nguyễn Văn Toại:

– “Năm 1970, tôi đọc bài thơ Chào đất nước của anh in trên báo Nhân Dân. Khi tình cờ gặp lại nhau, anh chủ động vào chuyện: “Đó là giây phút mình kịp đón được cảm hứng của thời đại. Không dễ gì lặp lại!”.

– “…Ra khỏi quân ngũ, Nguyễn Đình Ảnh tìm về ngay với quê hương đất Tổ và sống hết mình với rừng cọ, đồi chè. Anh tự hào: “Tôi đã qua bao nhiêu khúc sông, bao nhiêu mảnh đất nhưng có một khoảng trời trong tôi thương nhớ nhất: – trung du”. Trung du là một đề tài khá quen thuộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại, thiết tưởng sẽ là một thách thức không nhỏ đối với các thế hệ cầm bút hậu sinh. Nguyễn Đình Ảnh đã không làm bạn đọc thất vọng”.

Ông Nguyễn Hữu Điền – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ gặp gỡ các nhà văn, nhà thơ quê hương Đất tổ tại Đại hội VI Hội Nhà văn Việt Nam ngày 17.4.2000 (Từ phải qua trái: Nguyễn Đình Ảnh, Trần Quang Quý, Nguyễn Hữu Điền, Nguyễn Trọng Tân).

4. Nhà thơ Trần Quang Quý: người trực tiếp tuyển chọn và biên tập “tuyển tập thơ Nguyễn Đình Ảnh”:

– “…Việc đi học của tôi lúc đầu khó khăn do cơ quan chủ quản muốn giữ người, nếu không có can thiệp của Hội văn nghệ tỉnh Vĩnh Phú. Nhà thơ Nguyễn Đình Ảnh lúc đó, đại diện cho Hội đạp xe đạp cọc cạch mấy chục cây số, qua đò sông Hồng sang thị trấn Hưng Hóa, huyện Tam Thanh (mãi năm 1996 mới có cầu Phong Châu qua sông Hồng) thuyết phục ông Chủ tịch huyện mới được Huyện đồng ý cho đi học. Sự kiện đó là bước ngoặt lớn cho con đường của tôi sau này”.

– “…Tuyển tập thơ thực sự là cuộc tổng duyệt tiểu sử tâm hồn thi sĩ Nguyễn Đình Ảnh. Vâng, anh đã quan niệm: “thơ chính là tiểu sử tâm hồn thi sĩ”. Thơ anh, giọng thơ hồn hậu, chân chất, sâu lắng và nhiều nghĩ ngợi, tâm sự về con người, về vùng đất trung du máu thịt, nhiều “kỳ tích” và trầm tích. Đó chính là cốt lõi của một tâm hồn giăng mắc những nỗi niềm, những day trở thầm lặng cố hương. Anh không cầu kỳ chữ nghĩa, không chạy theo những khuynh hướng xu thời. Thơ cứ thế, như một sợi dây đồng cảm tự thuở nào, kết nối tình người mộc mạc, hồn quê chân chất níu kéo một khuông trời…”.

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Đình Ảnh chụp hình lưu niệm ngày 19.5.1998

5. Nhà văn Tô Hoàng:

– “…Nguyễn Đình Ảnh và Phạm Tiến Duật hí hoáy làm thơ trong những cuốn sổ tay để tự đọc cho bạn bè nghe. Duật chưa hề có bài thơ nào được in trên báo cả. Riêng Ảnh đâu đã có hai, ba bài lục bát được in giấy trắng, mực đen đàng hoàng. Điều này cũng đủ kiêu hãnh lắm trước mặt bạn bè đồng khóa…”.

– “…Nhắc lại kỷ niệm cuộc đời sinh viên, anh Duật, anh Ảnh, anh Ngọc nói với chúng tôi: Sẽ thật là thiếu sót nếu không nói tới bối cảnh kỳ lạ của đời sống chính trị ở ngoài xã hội. Các anh chàng, cô gái lòng dạ đều ân hận vì sinh sau đẻ muộn, không được trải qua những ngày tháng “cơm vắt, ngủ hầm” cùng cha anh đã được xoa dịu bởi tiếng nửa nước trong kia kêu gọi. Sau tết âm lịch, vào khoảng tháng 2-1964 đã có lệnh đào hầm ngay trong sân trường. Sinh viên năm thứ nhất, năm thứ hai ráo riết học quân sự. Thi tốt nghiệp xong, không ai còn gặp Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vĩ ở đâu nữa. Mãi sau này mới hay, hai anh là học sinh miền Nam đã được Ban Thống nhất Trung ương quản lý để điều động trở lại nơi chôn rau cắt rốn. Phạm Tiến Duật, Nghiêm Đa Văn, Lâm Quang Ngọc đi theo đoàn văn nghệ của trường ra vùng mỏ Quảng Ninh biểu diễn cho thợ mỏ xem. Trên đường trở về tới Hải Phòng, lần đầu tiên họ nghe thấy tiếng còi báo động máy bay địch đánh Hòn Gai, Lạch Trường… Phạm Tiến Duật, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Đình Ảnh nhập ngũ, làm lính của sư đoàn 316 chuyên đánh rừng…”

Họa sĩ Nguyễn Đình Ánh – tác giả bài viết

6. Nhà thơ Hoàng Quý:

– “…Là nhà thơ thuộc thế hệ khai mở Hội Văn nghệ vùng đất Tổ sau chống Mỹ, nhưng Nguyễn Đình Ảnh nhiều khác. Anh yêu âm thầm những cái mới, cái khác mình, thậm chí ngược mình. Có thể, cái lối quen anh viết, anh trình bày, anh chịu nhiều ảnh hưởng từ dòng cổ điển là tất yếu. Tuy nhiên, anh là người chí ít biết trân trọng và cổ xúy những manh nha cách tân lúc ấy còn lạ lẫm trong thơ của những tác giả mới. Với những ý kiến, rằng, thơ anh quen thuộc quá, ông này nhát, trung dung… Tôi không đồng ý. Hãy thử đặt mình vào dòng xiết những thập niên trước khúc ngoặt đổi mới của văn học, thì mới có thể thấy cái cách tiếp nhận và sự cổ động đi trước của Nguyễn Đình Ảnh đáng quý biết chừng nào”.

– “…Thơ Nguyễn Đình Ảnh là thứ thơ điềm đạm, nhiều nội tâm. Đừng tìm ở đây cái lối nói ngoa ngôn, dạy dỗ, khoe trí, những rao giảng trịch thượng. Đọc thơ Nguyễn Đình Ảnh là song hành tâm sự anh, suy nghĩ anh, những thầm thì dịu dàng, những bày tỏ của tâm hồn hiền hòa, nhường nhịn:

“Khuya lắm rồi… có ngủ được đâu em

nghe náo nức… Mùa xuân đang gọi đấy

nước róc rách – dòng mương như biết nói

cây nảy mầm như đội cánh đồng lên

Ta lại đi trong màu xanh triền miên

của lúa, của khoai, của bầu, của bí

sau bao nhiêu đạn bom – màu cây giờ xanh thế

mây với trời, với đất, người ơi!”

(Mưa và cây)

– “…Nguyễn Đình Ảnh là thế. Định đưa in bài nào cũng e dè trước sau. Sự hiền lành giúp đời thơ anh luôn luôn trong trẻo. Thơ anh, tôi nghĩ không thuần một màu. Một nhà thơ từng bước ra từ cuộc chiến ngày nào, vừa là kẻ trong cuộc, vừa là chứng nhân, giã gạo, chơi vơi trong dòng xoáy ngày càng hung dữ, thô bạo, vẫn có thể tìm (dù chưa đậm) vài vết rạn vỡ hay gì đó trong sâu:

“Câu hát bỏ rơi đêm

hôn phối hư không cũ mềm bao ngả gió

em đứng đợi mưa phùn – phơi trái tim khắc khổ

nên suốt đời mắc nợ với mùa đông!…

Cứ khấp khởi: thu sang thì nắng ngọt

hay đâu mưa sã cánh chim trời

ngồi chiêm ngưỡng những mối tình chết hụt

hát vu vơ toàn ở chỗ không người

(Khúc ru giữa đất trời)

Để viết cho thấu đáo, cho đủ đầy về thơ anh cần một sự thấu hiểu về anh, nhân cách anh, cá tính anh, thậm chí cả những khúc nhôi anh, nếu không sẽ chỉ có thể vẽ hình hài mà bỏ quên hồn cốt. Tất nhiên, rồi những nhà phê bình sẽ làm điều đó. Ắt hẳn không phải tôi. Tôi chỉ là một nhà thơ quá đỗi nhạt nhòa, bởi vậy, tôi chỉ chấm phá những gì mà tôi giữ gìn như kỷ niệm”

– “Thưa anh! Anh vẫn như ngày nào, tin yêu những người trẻ tuổi và cổ động không ngừng cho tuổi trẻ. Thơ anh là dấu gạch nối, là gió lành cho thế hệ những người đi sau. Nếu những năm tháng nghiệt ngã kia thiếu tiếng thơ trong veo của thế hệ các anh, tuổi trẻ sẽ khắc khoải gì để nuôi những giấc thơ của thế hệ mình. Những kẻ lộng ngôn, khoác lác thì thời nào chả có. “Trên dòng xiết thi ca hôm qua và hôm nay, những bài thơ còn sống luôn luôn là số ít so với những bài thơ đã chết”. Anh đã nói thế. Anh lại nói: “Hãy gìn giữ cho lòng mình hồn nhiên như trẻ thơ, hãy yêu tận cùng những gì ta yêu và nói thẳng những gì ta ghét, Thơ sẽ từ đó bước ra”…”.

NGUYỄN ĐÌNH ÁNH

(Còn nữa)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *