Vanvn- Mưa lại về trên đại ngàn Trường Sơn. Từ chiều, những đám mây xám từ phía biên giới kéo tới phủ kín núi rừng Nam Tây Nguyên. Mưa giăng trắng trời. Những cánh rừng già mờ đi trong màn nước. Con đường tuần tra biên giới trở nên lầy lội, trơn trượt. Thi thoảng, ánh chớp lóe lên giữa không trung như một lát cắt của ký ức, làm hiện ra rồi lại xóa đi những khuôn mặt đã nằm lại hơn nửa thế kỷ trước.

Đêm qua tôi không ngủ được.
Trong căn phòng nhỏ của đoàn công tác, tiếng mưa rơi trên mái tôn như tiếng bước chân người vọng về từ quá khứ. Chập chờn trong giấc mơ, tôi gặp lại đồng đội. Những chàng trai tuổi đôi mươi, những cô gái thanh niên xung phong tuổi vừa biết yêu. Họ vẫn trẻ như ngày nào. Vẫn ánh mắt trong veo. Vẫn nụ cười hồn hậu.
Từ xa vọng lại tiếng hát:
“Em đi san đường chiều em đi tải đạn…”
Bài hát Cô gái mở đường vang lên giữa rừng đêm. Những cô gái năm xưa khoác ba lô, tay cầm xẻng cuốc, tóc còn thơm mùi con gái. Họ hát giữa bom đạn, hát giữa cái chết cận kề. Họ hát như thể ngày mai đất nước sẽ hòa bình.
Nhưng rất nhiều người trong số họ đã không bao giờ có ngày mai.
Tỉnh giấc giữa đêm khuya, tôi nằm lặng nghe tiếng mưa và nghĩ về một món nợ.
Món nợ với đồng đội.
Thế hệ chúng tôi dấn thân vào cuộc kháng chiến với một suy nghĩ rất giản dị: đất nước cần thì lên đường. Khi ấy chẳng ai nghĩ đến công danh hay những gì sẽ thuộc về mình sau chiến tranh.
Nhưng chiến tranh là cuộc chia ly nghiệt ngã nhất.

Biết bao đồng đội đã gửi lại tuổi hai mươi nơi chiến trường. Họ ra đi khi chưa kịp có một mái nhà riêng, chưa kịp có một gia đình, chưa một lần được bế đứa con của mình.
Rồi họ nằm lại.
Nằm lại trong những cánh rừng Trường Sơn.
Nằm lại bên dòng Sêrêpốk.
Nằm lại trên những điểm cao biên giới.
Nằm lại ở những nơi mà đến hôm nay vẫn còn những ngôi mộ chưa có tên.
Còn chúng tôi may mắn trở về.
Có gia đình.
Có con cháu.
Có công việc, có sự nghiệp.
Có cơ hội được sống tiếp phần đời mà đồng đội mình chưa kịp sống.
Chính vì thế, trong sâu thẳm lòng mình, tôi luôn thấy mang một món nợ.
Không phải món nợ vật chất.
Đó là món nợ của người còn sống đối với những người đã ngã xuống.
Món nợ ấy không ai đòi, không ai nhắc. Nhưng nó hiện diện trong mỗi bước chân, mỗi suy nghĩ của những người lính còn mang trong tim ký ức chiến tranh.
Nhiều năm qua, tôi vẫn tự hỏi mình phải làm gì để trả món nợ ấy.
Rồi tôi hiểu rằng, sức mình đến đâu làm đến đó. Điều quan trọng nhất là cái tâm.
Có người góp tiền.
Có người góp công.
Có người dành cả đời đi tìm đồng đội.
Còn tôi, việc gì làm được thì làm.
Tôi viết về đồng đội.
Tôi đi tìm đồng đội.
Tôi cùng bạn bè, đồng chí vận động xây dựng những ngôi đền thờ, những bia ghi danh liệt sĩ.
Tôi tìm đến thân nhân của những người đã khuất.
Tôi góp phần đưa các anh trở về với quê hương.
Tôi luôn nghĩ rằng, khi tên tuổi một người liệt sĩ được khắc lên bia đá, khi gia đình biết nơi người thân mình yên nghỉ, khi một nén hương được thắp đúng phần mộ, đó là lúc người đã khuất được an lòng phần nào.
Nhìn lại chặng đường đã qua, tôi thấy mình chỉ mới làm được những điều rất nhỏ.
Hơn hai mươi cuốn sách đã được viết về đồng đội và chiến tranh.
Cùng với nhiều đồng đội, nhiều nhà hảo tâm, nhiều cơ quan, đơn vị, chúng tôi đã vận động xây dựng hàng chục đền thờ và bia tưởng niệm liệt sĩ dọc tuyến biên giới.
Hàng ngàn căn nhà tình nghĩa được trao tặng.
Hàng chục bệnh xá quân dân y được xây dựng.
Hàng chục ngàn phần mộ liệt sĩ được hỗ trợ xác định danh tính.
Hàng trăm hài cốt liệt sĩ được đưa về quê hương.
Mỗi công việc đều chứa đựng biết bao mồ hôi, nước mắt và nghĩa tình.
Nhưng mỗi lần đứng trước một nghĩa trang liệt sĩ, nhìn những hàng bia trắng trải dài đến tận cuối tầm mắt, tôi lại thấy những gì mình làm chỉ như hạt cát giữa sa mạc.
Làm sao có thể so sánh với sự hy sinh của đồng đội?
Làm sao có thể đong đếm được những mất mát mà các mẹ liệt sĩ đã gánh chịu?
Những người mẹ ấy tiễn con đi rồi đợi chờ suốt cả cuộc đời.
Có mẹ nhắm mắt vẫn không biết con nằm ở đâu.
Có mẹ bạc tóc bên hiên nhà, ngày nào cũng ngóng về cuối con đường làng.
Có mẹ ra đi trước khi tìm được phần mộ của con mình.
Sự hy sinh ấy lớn lao đến mức mọi việc làm của chúng tôi đều trở nên quá nhỏ bé.
Nhưng chính vì thế mà không thể dừng lại.
Mỗi lần lên đường tìm đồng đội, tôi luôn có cảm giác như đang thực hiện một lời hứa.
Lời hứa của người còn sống.
Lời hứa của những người lính trở về.
Hôm nay, khi đoàn công tác đi dọc tuyến biên giới Nam Tây Nguyên, qua những cánh rừng từng là chiến trường khốc liệt, ký ức lại hiện về nguyên vẹn.
Rừng vẫn đó.
Núi vẫn đó.
Dòng suối vẫn chảy như năm nào.
Chỉ có đồng đội tôi là không còn nữa.
Nhiều người vẫn nằm đâu đó dưới những tầng đất đỏ bazan.
Có thể ngay dưới những tán cây chúng tôi vừa đi qua.
Có thể ở một triền dốc phủ đầy cỏ dại.
Có thể trong một khu rừng chưa ai đặt chân tới.
Nghĩ vậy nên mỗi chuyến đi đều mang theo niềm hy vọng.
Biết đâu lần này sẽ tìm được thêm một người.
Biết đâu sẽ có thêm một gia đình được đón người thân trở về.
Biết đâu sẽ có thêm một nén hương được thắp lên sau bao năm chờ đợi.
Mưa ngoài trời vẫn rơi.
Tiếng mưa hòa cùng tiếng gió đại ngàn như một bản nhạc buồn của ký ức.
Tôi nhớ lại những khuôn mặt trong giấc mơ đêm qua.
Những cô gái thanh niên xung phong vẫn đang hát.
Những chàng trai tuổi đôi mươi vẫn đang cười.
Họ không già đi.
Chỉ những người còn sống là già đi theo năm tháng.
Và cũng chính vì thế, món nợ với đồng đội càng trở nên day dứt hơn.
Có lẽ đến cuối cuộc đời, tôi cũng không thể trả hết món nợ ấy.
Bởi sự hy sinh của đồng đội là vô giá.
Nhưng tôi tin rằng, chừng nào còn sức để đi, còn sức để viết, còn sức để tìm kiếm và kết nối nghĩa tình, tôi vẫn sẽ tiếp tục.
Không phải để được ghi nhận.
Không phải để kể công.
Mà đơn giản vì đó là trách nhiệm của người còn sống.
Trách nhiệm với những người đã nằm xuống cho Tổ quốc.
Mưa Trường Sơn vẫn rơi.
Ở đâu đó trong đại ngàn, tôi như nghe tiếng đồng đội gọi nhau giữa năm tháng.
Và tôi biết hành trình tìm các anh sẽ còn tiếp tục.
Bởi món nợ này là món nợ của tình đồng đội.
Một món nợ thiêng liêng không bao giờ có thể trả xong.
Nam Tây Nguyên, đêm 10.6.2026
TRẦN THẾ TUYỂN















