Vanvn- Đêm ấy mưa như trút, có lẽ cơn mưa ở núi cũng khác với cơn mưa nơi tôi sinh sống, những hạt mưa mạnh mẽ sầm sập dội vào mái của ngôi nhà cộng đồng khiến tôi mất ngủ, nằm nghe vũ khúc mưa mà ngỡ tiếng đàn văng lên từ đỉnh giời, tiếng đàn môi bên điệu múa hoa Ban cứ hiện lên khiến ý nghĩ tôi mơ hồ, trống trải… đêm cứ trôi về sáng không kìm hãm, không ràng buộc bởi bất cứ điều gì.

Tiếng mưa bắt đầu chậm chạm, ngớt dần…tôi ngửi thấy mùi trong veo của những giọt sương sớm, nghe thấy tiếng lép bép bốc ra từ củi lửa, có lẽ bà Mế Thái đang lục tục nhóm bếp. Tiếng gà gáy lan ra khắp bản, mặt trời bắt đầu đội núi mọc lên…
Bản Lác nằm trong thung lũng Mai Châu thơ mộng với màu xanh ngát của núi rừng Tây Bắc, của mây trời và của bát ngát cánh đồng đang thì con gái, những thân lúa mơn mởn như thiếu nữ Thái. Những con chim véo von đua nhau nhảy nhót trên đám cây già, con đường hoa Ban thổi sự lãng mạn vào từng mạch máu, chúng lan tỏa chảy dọc tâm hồn tôi.
Chẳng còn hơi hớm của đêm mưa nữa, chỉ có ngọt ngào tinh sương, yên bình. Cây Ban mùa này hoa đã tàn, trơ ra những thân khẳng khiu như ngón tay thiếu phụ, như đời người sau biết bao nhiêu biến cố, biết bao nhiêu tận hiến với mạch sống, cần khoảng thời gian ngơi nghỉ phục hồi cuộc hành trình.
Tôi lang thang thang một mình trên con đường xa lạ, hấng những giọt sương mai và thưởng thức làn gió nhẹ. Bỗng muốn đi sâu vào thôn bản, muốn được trèo lên chín bậc cầu thang nhà sàn, muốn ngồi nhấp ngụm nước màu cỏ của người bản địa, nghe vài câu chuyện dung dị…
Lấy điện thoại gọi cho Trung, cậu em vừa mới tốt nghiệp ra trường đang đợi việc, Trung, hai mươi hai tuổi sinh ra ở Mai Châu, học Hà Nội. Nghe điện thoại của tôi em rất hồ hởi, nhiệt tình, chỉ năm phút sau Trung đã có mặt cùng với chiếc xe Honda màu gạch cũ. Trung nói: em sẽ đưa chị đến một nơi mà có lẽ sẽ đúng với tâm trạng và nguyện vọng của chị lúc này.
Con đường đất ngoằn ngoèo vẫn còn ướt nhẹp vì trận mưa đêm, một bên là núi với rừng tre dựng thẳng, một bên là ruộng lúa xanh rì. Chúng tôi đến xóm Cha Long, Xã Mai Châu (Xã Toòng Đậu cũ). Tiếp tôi là một ông cụ dáng người nhỏ nhắn, lưng đã gù vì tuổi cao, nhưng tôi đã rất ấn tượng bởi sự nhanh nhẹn và nụ cười rất đẹp với hàm răng trắng, đều như những hạt bắp treo trên gác bếp.
Thật hiếm có một người nào ở quá tuổi “thất thập cổ lai hy” mà vẫn khỏe mạnh, tinh tường như vậy, ông vô cùng thân thiện mặc dù tôi là một người hoàn toàn xa lạ. Lúc tôi đến, ông đang dở tay làm nốt cái chuồng bò, nào đục, nào bào, nào dao… đôi tay ông khéo léo thoăn thoắt dũa những thân cây xù xì thành những thanh gỗ mượt mà, rồi ông cẩn thận tra thanh gỗ vào mộng để thành chắn song vô cùng tuyệt mĩ. Tôi khá bất ngờ trước một cụ ông tám mươi hai tuổi, lại có thể nhanh nhẹn và minh mẫn đến thế.
“Bà vào trong bản làm đám giúp rồi a, ông già rồi không đi giúp được đâu, ở nhà thôi”.
Ông vừa cười vừa nói, tay rót nước màu đỏ đỏ đựng trong chiếc chai nhựa và giục tôi uống.
Căn nhà sàn giản dị hết sức có thể, đây cũng là lần đầu tiên tôi được thực tế vùng đất, con người, văn hóa, ở một nơi xa lạ và hoang sơ thế này. Căn nhà với bảy bậc cầu thang gỗ dựng đứng, ông nói rằng: Nhà sàn truyền thống thường có 2 cầu thang, trước nhà có 7 bậc dành cho nam, đằng sau có 9 bậc dành cho nữ. Tôi chợt thấy màu của những bậc cầu thang này có lẽ cũng như màu của tuổi ông, chúng đã rêu phủ theo thơi gian.
Theo chân ông bước lên sàn nhà thì thấy một chiếc giường được trải ra từ những thân cây bương, cây tre, chúng được xếp khít lại với nhau dải lên trên chiếc chiếu đã cũ, gối chăn gấp gọn. Cũng nằm gọn trong căn nhà sàn nhưng thấp hơn vài bậc cầu thang là bếp với một chiếc nồi gang, tôi tò mò mở ra thì thấy bên trong có chừng nửa bát cơm trắng cùng 2 củ khoai lang nhỏ đã hấp chín. Ngước lên gác bếp là những củ sắn đã được hun khô bởi khói, ông nói:
“củ sắn khô này hễ hết gạo phải mang đi nghiền thành bột rồi nhào với nước thì mới nấu ăn được”
Cạnh bếp, mấy cái bát úp gọn ghẽ trong chiếc rá nhựa bên con mèo hiền lành cuộn tròn, đôi mắt nó lim dim…
Tôi nhìn ra cửa sổ thì thấy nào chuồng bò, chuồng gà…Những chú gà rừng tinh nghịch và hoang dã vừa mới nhảy lên mái chuồng bới ổ đẻ, ổ của chúng là những lá cây khô rơi rụng, là rơm là rạ, hơi ấm còn ôm lấy những quả trứng nóng hổi nằm yên trên nóc. Không gian thật yên bình.
Ông chia sẻ với tôi, nhà chỉ có hai ông bà, ban thờ tổ tiên thì ở nhà ngoài, nơi đây chỉ có ông bà sống với nhau thôi, bởi vì không muốn phiền đến con cái khi mình còn lao động được.
“Người dân bản sống tình cảm lắm cháu, nhà nào có đám thì cả làng sẽ đến giúp, là đám ma thì hễ ai đến lại chít chiếc khăn trắng lên đầu bày tỏ cái buồn với gia đình”.
Rồi ông say sưa kể cho tôi nghe chuyện ngày ông còn là một chàng trai hai mươi đầy sức trẻ, để tán và lấy được bà ông phải mất một con lợn hơn sáu mươi cân và “chọc sàn” nữa đấy. Tôi thắc mắc không hiểu “chọc sàn” nghĩa là gì thì ông giải thích: nôm na là chàng trai sẽ đến và dùng chiếc gậy chọc lên sàn nhà chỗ cô gái nằm ngủ, thế rồi hai người hẹn hò nhau thủ thỉ, tâm tình. Ông bảo, nói chuyện tìm hiểu nhau đến nửa đêm ấy, chứ ban ngày thì phải làm việc, phải lên nương, vào rừng kiếm củi, chỉ có tán nhau buổi tối thôi. Ông cười!
…Câu chuyện giữa chúng tôi đang rất say sưa và hào hứng, nhưng thời gian có hạn, dù rất luyến tiếc nhưng tôi phải phải rời đi. Chia tay ông Lò văn Vui, 82 tuổi. Tôi biếu ông một gói quà nho nhỏ hẹn ngày gặp lại. Ông hồn hậu nắm bàn tay tôi và nở nụ cười thật dung dị.
Chúng tôi tiếp tục sâu hơn nữa vào bản, vừa chạy xe Trung vừa nói: em sẽ đưa chị đến một nơi này nữa, có lẽ chị sẽ hiểu thêm về những con người hiền hậu, thật thà nơi đây.

Xe càng chạy càng ngược lên phía đỉnh đồi càng khó nhọc, có lúc tôi thấy nó lạch bạch chậm rì như khựng lại vì leo dốc, tai tôi ù đi bởi gió hay là bởi độ cao lúc ấy, tôi chỉ thấy mình đang rất gần với đỉnh giời, đưa tay ra chắc có lẽ tôi sẽ vén được màn sương đang giăng ở trước mắt. Đất đỏ bazan trơ ra những rễ cây, đất như màu máu chảy trong cơ thể tôi. Một cảm giác lạ lẫm, một cảm giác hồi hôp, lo âu, xen lẫn với sự tò mò. Trung đưa tôi đến một căn nhà nằm trơ trọi gần đỉnh núi. Bà cụ gầy gò mặc chiếc áo màu hồng nhạt đã sờn hết chỉ, chiếc váy thun màu đen dài quá mắt cá, với đôi chân đất bấu vào núi, bà dắt bò vào chuồng và đưa chúng tôi lên nhà.
Bà đã bảy mươi ba tuổi, là mẹ chồng của chị Vì thị Chiều, sinh năm 1980 ở xóm Nà Mo. Cả bản này chỉ có khoảng bảy mươi hộ dân nằm rải rác ôm lấy núi.
Gia đình chị Chiều chỉ có ba người, mẹ chồng, chồng và chị ở cùng nhau. Căn nhà rộng rãi và mới hơn so với căn nhà của ông Lò Văn Vui. Vợ chồng chị Chiều dựng ngôi nhà này cách đây mấy năm, anh chị có một cậu con trai sinh năm 2007 hiện đang đi nghĩa vụ quân sự tại Quảng Ninh. Nhắc tới con, chị vừa tự hào vừa xúc động, chị nói:
“đi thăm cháu 2 lần rồi em ạ, mỗi lần phải đi đến hai ngày đấy, say lắm, vất vả lắm…’.
Rồi chị cười, cái cười của người đàn bà núi rừng đầy lam lũ, những nốt chân chim xếp chồng lên khóe mắt, nhưng tôi thấy trong nụ cười, trong cái nhìn kia ánh lên những tia hi vọng. Hai vợ chồng chị đi rừng chỉ mong có đồng tiền để mai sau mong con mình học được một nghề gì cho đỡ khổ.
Tôi thật may mắn khi ghé chơi thì có đủ cả ba người ở nhà, anh chị cũng vừa mới đi làm về nên đang chuẩn bị thổi cơm, thế là chị mời tôi và Trung ở lại cùng ăn trưa cùng với gia đình luôn. Chị tất tả nấu rau, luộc vài con ốc máu sáng anh mới bắt mới được ở dưới suối.
“Các em đến đột xuất, nhà chẳng có gì ăn, thôi có gì ta ăn vậy nhé”.
Chị nhanh nhảu và hiếu khách
Bữa cơm của người dân tộc Thái đơn giản mà ấm áp, anh chị rót rượu mời tôi. Rượu anh ngâm từ mật ong lấy ở rừng về, thỉnh thoảng Trung và anh chị nói với nhau bằng tiếng Thái khiến tôi ngớ ra không hiểu gì. Chị còn khoe với tôi, chị hát tiếng Thái rất hay và thỉnh thoảng đi hát ở lễ hội, hay bản, xã, có liên hoan văn nghệ. Chỉ tiếc rằng chị nói được tiếng Thái mà không viết được chữ Thái…
Câu chuyện lai rai đến quá trưa, tôi phải trở về cho kịp chuyến hành trình tiếp theo, chia tay nhau trong tiếc nuối vì cả hai bên đều có rất nhiều điều muốn hiểu thêm về nhau. Lúc tôi ra về chị còn chạy vội vào trong bếp cắt cho tôi nải chuối vàng ươm và bảo:
“nhà nghèo chẳng có gì, chuối rừng đấy em, ăn ngon lắm”
và nhoẻn cười….
Chiếc xe máy xuống núi khuất dần cái bóng gầy guộc nhỏ thó của chị, lòng tôi cứ bâng khuâng…
Rời Mai Châu, tôi lặng lẽ gói theo kỷ niệm làm hành trang trở về phố. Kỷ niệm ấy dù ít ỏi nhưng có lẽ đó là món quà mà núi rừng đã ban tặng cho tôi, sự hồn hậu vố sẵn trong bản thể con người nơi đây, những cung đường đá, núi, những cơn gió nhẹ thổi ra từ bìa rừng… Tất cả đã và đang là sức mạnh để tưới tắm, để làm dịu nhẹ đi tâm hồn tôi, để tôi thêm thiết tha với cuộc sống vốn rất đẹp đẽ này.
LÊ NHI















