Người con ưu tú của quê hương núi Vàng – Bút ký của Đinh Ngọc Lâm

Vanvn- Hàng năm hội làng được tổ chức hết sức quy củ, con cháu hội tụ về đông đủ thể hiện tình đoàn kết xóm làng, quan hệ giữa các dòng họ khăng khít, đầy tình nhân ái. Tình nghĩa với quê hương xóm làng của người Hoàng Sơn thật là sâu đậm. “Ai đi… tít tắp chân trời/ Tình quê, dáng núi – dáng người đợi trông”. Hai câu thơ của nhà thơ Thanh Thản – người con của Hoàng Sơn, tuy mộc mạc mà chan chứa tình người hiếu đễ với gia đình, dòng họ và quê hương.

Nhà văn Đinh Ngọc Lâm

Hoàng Sơn. Cái tên làng gợi cho ta một vùng đất trù phú – “núi Vàng”, một cuộc sống phong lưu, nhàn hạ. Nhưng khi tìm hiểu sâu về lịch sử của làng mới thấy nỗi vất vả, nhọc nhằn từ hơn 500 năm về trước, thấm đẫm mồ hôi nước mắt dân cày. Hồn cốt của ông cha trầm tích bao đời mới có được một ngôi làng giàu truyền thống rất đáng tự hào như ngày hôm nay. Một ngôi làng chật chội, thuộc vùng chiêm trũng, xưa kia người dân quần quật quanh năm mà vẫn đói nghèo.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, toàn dân theo Đảng – Bác Hồ vùng lên làm cách mạng, nhân dân Hoàng Sơn đã nhất tề tham gia cách mạng với ý chí quyết tâm cao độ. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cùng hai cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc biên giới phía Bắc và phía Tây Nam, làng Hoàng Sơn đã âm thầm chịu đựng sự hy sinh mất mát lớn lao, góp phần cùng cả nước viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc. Ngôi làng với 300 hộ dân mà có tới 129 người con đã hiến thân trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc – 129 liệt sĩ (chống Pháp 43; chống Mỹ và bảo vệ biên giới phía Bắc và Tây Nam 86); 29 thương binh (chống Pháp 4, chống Mỹ và bảo vệ biên giới 25); Nhà nước vinh danh 8 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, công nhận 2 lão thành cách mạng. Đến nay làng Hoàng Sơn có 5 vị Thiếu tướng và 41 cán bộ trung, cao cấp trong lực lượng vũ trang; nhiều cán bộ trung cao cấp trong các cơ quan Đảng và các cơ quan trong hệ thống quản lý nhà nước (trong đó có 1 cán bộ tương đương Bộ trưởng và 1

Thứ trưởng); về học hàm học vị: có 2 Phó Giáo sư – Tiến sĩ, 3 Tiến sĩ và 5 Thạc sĩ chuyên ngành… Với truyền thống hăng hái tham gia đánh giặc bảo vệ Tổ quốc, truyền thống hiếu học, nêu cao chí tiến thủ trên các lĩnh vực công tác của con em Hoàng Sơn đủ cho thấy tinh thần yêu nước, đức hy sinh cao cả của nhân dân làng Hoàng Sơn là rất đáng trân trọng. Người dân nơi đây có quyền tự hào về truyền thống của họ. Một trong những người con ưu tú, tấm gương tiêu biểu của làng Hoàng Sơn là Thiếu tướng Hoàng Văn Thạ – Phó Chính ủy, kiêm Chủ nhiệm chính trị Binh chủng Pháo binh của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tôi tìm đến gia đình cố Thiếu tướng Hoàng Văn Thạ. Được biết ba người con trai của ông đều đã theo ông về với tổ tiên. Gặp cháu đích tôn và những người thân trong gia đình ông tại một ngôi nhà cũ theo lối truyền thống nông thôn Việt Nam mới được sửa sang đôi chút, thể hiện một nếp sống giản dị. Ngôi nhà mà vị tướng già sau bao năm xa cách, cuối đời trở về tịnh dưỡng và chuẩn bị cho ngày về miền an lạc. Ngôi nhà của ông bà được con cháu thừa tự, sửa chữa chăm nom giữ gìn hết sức ngăn nắp, bàn thờ giản dị trang trọng, đèn nhang ấm cúng hàng ngày thể hiện một truyền thống nề nếp gia giáo. Ngắm nhìn chân dung Thiếu tướng Hoàng Văn Thạ, đôi mắt sáng nghiêm nghị, nhân diện toát lên vẻ cao thượng. Chàng trai làng Nguyễn Văn Thạ, người sớm giác ngộ theo cách mạng từ năm 1945 và từ đó đã từng bước tiến bộ trở thành tướng lĩnh trong quân đội. Ông thực sự là một tấm gương tiêu biểu, đầu đàn cho các thế hệ sau này của con em Hoàng Sơn noi theo.

Theo lời kể của ông Hoàng Xuân Khuyên sinh năm 1936 là cán bộ về nghỉ hưu tại Hoàng Sơn quê ông, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình, là em – con của cậu ruột Thiếu tướng Hoàng Văn Thạ, qua những tư liệu, những tình tiết do cháu nội Thiếu tướng Hoàng Văn Thạ cùng con cháu trong dòng họ kể và cung cấp, hiện lên chân dung một vị tướng có vóc người cao lớn, nghiêm trang với đôi mắt sáng, gương mặt đầy đặn, hiền từ, phúc hậu.

Ông Hoàng Văn Nghiễn làng Hoàng Sơn lấy bà Hoàng Thị Niệc (con gái họ Hoàng Xuân) sinh được 4 người con gái, chưa có con trai. Sợ không có con trai nối dõi tông đường nên bà Niệc hối thúc chồng lấy vợ hai. Người vợ hai tìm về cưới cho ông Nghiễn chính là em gái bà Niệc tên là Hoàng Thị Vầy (bà Niệc và bà Vầy là hai cô ruột ông Hoàng Xuân Khuyên). Năm 1926 bà Vầy sinh được một người con trai đặt tên là Hoàng Văn Thạ. Một thời gian sau đó bà cả Niệc sinh tiếp 1 người con trai đặt tên là Hoàng Văn Khuếnh (ông Khuếnh mất vào khoảng đầu những năm 1960). Bà Vầy sinh tiếp 2 người con gái sau ông Thạ. Theo phong tục ở làng, con vợ cả là anh, con vợ hai sinh trước cũng phải chịu ở vai em. Thế là ông Thạ có 4 chị gái, 1 anh trai và 2 em gái. Gia đình ông Nghiễn đông con nên đời sống rất chật vật, đói nghèo. Lớn lên, hai chị gái lớn đi lấy chồng. Tiếng là anh nhưng ông Khuếnh còn ít tuổi, ông Thạ lớn hơn có sức vóc nên phải gồng mình gánh vác công việc gia đình. Ngoài việc nhà, ông vác cày sang làng bên cày thuê, công việc cực nhọc và vất vả, nhiều khi chiều tối gọi đò không được, ông Thạ vác cày bơi qua sông Sào Khê về nhà. Để kiếm thêm tiền giúp gia đình, ông Thạ còn học thêm nghề cung bông, đến kỳ nông nhàn vác đồ nghề đi làm thuê quanh vùng. Nhà nghèo không có điều kiện đi học vì quanh vùng lúc đó chưa có trường dạy Quốc ngữ, muốn học Quốc ngữ phải trọ học xa nhà. Trong làng có mấy người dạy chữ Nho, ông tranh thủ xin học lấy ít chữ Nho làm vốn. Cách mạng Tháng Tám thành công, các tổ chức Cứu quốc được thành lập, ông Thạ tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc. Tích cực hoạt động, lập nhiều thành tích xuất sắc, tháng 10 năm 1946 đoàn viên Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hoàng Văn Thạ được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay), tháng 2 năm 1947 ông đã được công nhận là đảng viên chính thức. Là một đảng viên trẻ tuổi có sức khỏe, với tinh thần nhiệt tình cách mạng, đảng viên Hoàng Văn Thạ luôn nổi bật trong mọi hoạt động, ông tích cực học chữ Quốc ngữ, dẫn đầu trong các cuộc biểu tình, cổ động biểu dương lực lượng, vận động nhân dân tham gia phong trào cách mạng, rải truyền đơn, căng biểu ngữ, dán áp phích tuyên truyền, vận động nhân dân đóng góp ủng hộ cách mạng.

Năm 1948, vừa tròn 22 tuổi ông Thạ vào bộ đội thuộc huyện đội huyện Gia Khánh tỉnh Ninh Bình. Chiến sĩ Hoàng Văn Thạ nổi bật về thể lực, thông minh tháo vát, tích cực trong mọi hoạt động, Tỉnh đội Ninh Bình lấy ông lên đơn vị bộ đội chủ lực. Năm 1951 ông được đề bạt làm chỉ huy Đại đội bậc Phó rồi lên chỉ huy Đại đội bậc Trưởng. Ông đã chỉ huy Đại đội chủ lực của Tỉnh đội tham gia Chiến dịch Tây Nam Ninh Bình, đánh nhiều trận, diệt nhiều địch. Sau đó Đại đội trưởng Hoàng Văn Thạ được cử sang Trung Quốc học nghiệp vụ pháo binh ngắn hạn với mục đích để tăng cường hỏa lực đánh quân viễn chinh Pháp tại căn cứ quân sự Điện Biên Phủ. Năm 1954 đơn vị pháo binh của ông đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ cho đến ngày toàn thắng. Tháng 2 năm 1956 ông được điều về Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam giữ chức vụ Tiểu đoàn bậc Phó, rồi lên Tiểu đoàn bậc Trưởng, sau đó ông được điều động về Trường Sĩ quan Pháo binh. Từ khi vào bộ đội có điều kiện được học văn hóa, ông Thạ đã rất nỗ lực học tập, với tư chất thông minh cùng với đức cần cù nên ông đã tiến bộ rất nhanh. Vững về kiến thức văn hóa đã giúp ông tiếp thu về kiến thức quân sự một cách nhanh chóng, vững vàng. Với khả năng tư duy chiến thuật nhanh, vận dụng trong chỉ huy tác chiến ở đơn vị một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện tình huống chiến trường, đạt hiệu suất huấn luyện cũng như chiến đấu cao nên ông Thạ luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Tháng 6 năm 1961 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 364, phong quân hàm Đại úy, sau đó được điều về Phòng cán bộ Binh chủng Pháo binh. Tháng 6 năm 1963 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó phòng Tổ chức Bộ tư lệnh Pháo binh, thăng quân hàm Thiếu tá. Tháng 8 năm 1966 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng phòng Tổ chức Bộ tư lệnh Pháo binh, thăng quân hàm Trung tá. Tháng 2 năm 1971 ông được điều vào mặt trận Quảng Trị chỉ huy trực tiếp lực lượng pháo binh tham gia đánh địch trong chiến dịch Đường 9 – Nam Lào. Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ông được điều động trở lại cương vị Trưởng phòng Tổ chức Bộ Tư lệnh Pháo binh. Tháng 12 năm 72 ông được điều động về làm Chính ủy Trung đoàn 45 thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh. Tháng 9 năm 1973 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Pháo binh, thăng quân hàm Thượng tá, năm 1974 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Binh chủng Pháo binh, sau đó ông được cử sang Liên Xô học. Tháng 5 năm 1976 ông tốt nghiệp Học viện Pháo binh – Quân sự thuộc Đại học Liên Xô (theo Giấy chứng nhận được dịch từ tiếng Nga). Tháng 8 năm 1978 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Binh chủng và được thăng quân hàm Đại tá.

Trong quân đội ông Hoàng Văn Thạ luôn tận tâm với công việc theo nhiệm vụ trên cương vị chức trách được giao. Ông đã gác tình riêng, gửi lại quê hương vợ và 3 người con trai. Ông ít có điều kiện gần vợ và các con. Khi hòa bình, đất nước thống nhất, thỉnh thoảng ông được về thăm quê, sống nặng tình nặng nghĩa với xóm làng nên mỗi lần về là ông lại tranh thủ đến thăm hỏi anh em họ hàng, bà con. Ông quan tâm đến các di sản của làng do các thế hệ tiền nhân để lại, ông thường khuyên răn, dạy bảo con cháu về lẽ sống, khuyến khích con cháu trong họ chăm chỉ học hành, sống tốt, yêu thương nhau, cùng nhau xây dựng quê hương, đất nước. Gặp lại những người trong họ, trong làng ông thân mật, cùng nhau ôn lại quãng đời gian nan vất vả năm xưa. Thiếu tướng Hoàng Văn Thạ luôn giữ khuôn phép đạo nhà, người chị dâu – vợ ông Khuếnh con bà cả Niệc mặc dù ít tuổi hơn nhưng ông vẫn gọi bằng chị với thái độ tôn trọng. Người làng bảo nhau: bác Thạ làm to mà vẫn giản dị, gần gũi bà con anh em. Ông thường nói: “Về hưu tôi sẽ về quê với các bác, các chú các thím cho vui. Còn làm được gì cho làng thì các bác các chú các thím cho tôi cùng tham gia với. Ai có con đi bộ đội, có sức khỏe muốn làm lính pháo binh thì bảo tôi. Tôi rèn rũa cho” – Rồi ông cười. Ông Thạ cười hiền lành, người làng bảo nhau: “Bác Thạ hiền từ mà rất có tướng làm Tướng”. Sau 27 năm (1948 – 1985), từ một người lính địa phương chưa được học chữ Quốc ngữ, chiến sĩ Hoàng Văn Thạ đã từng bước trưởng thành vững chắc, có trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị – quân sự, bản lĩnh lãnh đạo – chỉ huy quân sự vững vàng, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, trên vai mang quân hàm Đại tá. Tháng 12 năm 1985 Đại tá Hoàng Văn Thạ được Nhà nước thăng quân hàm Thiếu tướng. Người làng Hoàng Sơn tin tưởng và mong mỏi vào người con ưu tú của quê hương nay đã thành sự thật. Vị tướng đầu tiên của quê nhà là tấm gương sáng của làng quê “Núi Vàng” để con cháu noi theo. Đến hôm nay trên vai áo bốn người con của làng Hoàng Sơn tiếp tục được mang quân hàm Tướng (Thiếu tướng QĐND Hoàng Văn Lượng, Thiếu tướng CAND Hoàng Cao Tánh, Thiếu tướng QĐND Hoàng Văn Thuận, Thiếu tướng QĐND Đinh Công Phương).

Quá trình 43 năm cống hiến trong quân đội, Thiếu tướng Hoàng Văn Thạ đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Huân chương Chiến thắng hạng Nhì; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất; cùng nhiều Huy hiệu, danh hiệu Chiến sĩ thi đua, Bằng và Giấy khen các cấp trong quân đội; năm 2012 ông được tặng Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng.

Về đời tư, ông Hoàng Văn Thạ lấy bà Hoàng Thị Mẳn (khác ngành họ), ông bà sinh được 3 người con trai lần lượt tham gia quân đội, không dựa dẫm vào cha mình, tự lập phấn đấu, đều là sĩ quan trong lực lượng vũ trang. Tiếc rằng họ đều mất sớm vì bệnh tật. Đó cũng là điều thiệt thòi và đau xót của gia đình và dòng họ. Chín cháu nội của ông (4 gái 5 trai) lớn lên đều trưởng thành, có gia đình riêng, có công ăn việc làm, đều là những công dân tốt. Một cháu nội của ông là Hoàng Văn Thọ theo đường binh nghiệp mang quân hàm Trung tá ở tuổi 40, kỳ vọng Trung tá Hoàng Văn Thọ sẽ phấn đấu nối tiếp con đường binh nghiệp của ông nội mình.

Làng Hoàng Sơn có núi Vàng ở phía Bắc như một cỗ ngai ôm lấy xóm làng, đến giờ người trong các dòng họ thường xuýt xoa: tiếc hai đầu núi mang hình tay ngai ấy đã bị nổ mìn lấy đá từ thập niên 70, 80 thế kỷ trước. Mất đi một cảnh quan thiên phú kỳ diệu của làng. Có người bảo: “Giá không phá mất hai tay ngai ấy thì Hoàng Sơn đã có tướng từ lâu rồi”. Nói vậy có vẻ như tin vào tâm linh, song đấy cũng là một cách thể hiện sự tin tưởng vào truyền thống rất đáng tự hào của ngôi làng có lịch sử bề dày truyền thống từ rất lâu đời. Làng có đình, có chùa, có miếu có đền được giữ gìn tôn nghiêm và luôn được chăm sóc tôn tạo. Hàng năm hội làng được tổ chức hết sức quy củ, con cháu hội tụ về đông đủ thể hiện tình đoàn kết xóm làng, quan hệ giữa các dòng họ khăng khít, đầy tình nhân ái. Tình nghĩa với quê hương xóm làng của người Hoàng Sơn thật là sâu đậm. “Ai đi… tít tắp chân trời/ Tình quê, dáng núi – dáng người đợi trông”. Hai câu thơ của nhà thơ Thanh Thản – người con của Hoàng Sơn, tuy mộc mạc mà chan chứa tình người hiếu đễ với gia đình, dòng họ và quê hương.

Thiếu tướng Hoàng Văn Thạ, người đã giữ trọn lời hứa với quê hương. Sau 43 năm xa làng xóm ông đã trở về. Ông về với mảnh đất đã sinh ra ông, về với những nhọc nhằn vất vả, lam lũ xưa kia đã làm nên cốt cách một con người bình dị có nghĩa, có nhân. Vẫn theo lời kể của ông Hoàng Xuân Khuyên, của những người cháu trong làng ở lứa tuổi con ông. Là “Tướng” mà bác ấy vẫn khiêm nhường, vẫn giản dị hòa đồng. Từ khi về hưu đến cuối đời ông vẫn giữ tác phong quân đội về giờ giấc, về nếp sống sinh hoạt. Ông ngủ đúng giờ, sáng dậy sớm tập thể dục và dạo bộ quanh làng, ra cánh đồng hít thở không khí trong lành, thanh thản ngắm nhìn không gian làng xóm, hoài niệm về tuổi ấu thơ, tìm lại dấu xưa của một thời mẹ cha lam lũ, một thời lớn lên gánh gồng công việc đồng áng giúp gia đình mưu sinh. Cuộc sống sinh hoạt bên người vợ thôn quê, cùng con cháu sum vầy làm cho ông nguôi dịu dần những ám ảnh ác liệt, căng thẳng của những năm tháng chiến tranh. Ruộng đồng phì nhiêu, cảnh sắc xóm làng đổi mới, người quê vui tươi phấn khởi với cuộc sống no đủ, thanh bình. Ông bắt nhịp với cuộc sống xóm làng nhanh chóng, nhẹ nhàng, mặc dù ông đã ở lứa tuổi lên lão của làng. Mọi phong trào làng nước ông đều tham gia. Hoàng Sơn có lệ cứ sáng mùng một tết Nguyên Đán là cả làng ra đồng tát nước lên ruộng cầu may, mong cho mùa màng tốt tươi. Chẳng khi nào vắng mặt vị tướng già trên cánh đồng làng, xắn quần tới gối ông cùng bà con tát nước rất khoan thai, hòa cùng tiếng cười dân dã. Ngày thường ông đảo vòng quanh xóm, đến với họ hàng, thăm hỏi, động viên anh em con cháu. Khách làng xóm đến nhà chơi được ông bà niềm nở tiếp đón. Gọi là đến nhà “Ông Tướng” mà chẳng ai thấy ngại, ra về còn cảm thấy ấm lòng.

Ngày 9 tháng 11 năm 2011 bà Hoàng Thị Mẳn sau một tháng yếu đau đã từ trần. Kể từ đó sức khỏe Thiếu tướng Hoàng Văn Thạ có biểu hiện giảm sút. Ông trầm tư hơn. Những ngày cuối đời ông ít đi dạo quanh làng, buổi sáng ông thường đi bộ ra đầu làng, dừng lại bên này cầu qua sông Chanh ông đứng ngắm cảnh xóm làng, nhìn rất lâu về phía núi Vàng rồi ông trở về. Ít dạo quanh làng phần vì buồn, phần vì ông cũng yếu dần. Bà con anh em thỉnh thoảng vẫn đến thăm ông, vẫn ân cần chu đáo nhưng ông vẫn có vẻ cô đơn. Con cháu luôn cạnh ông mà ông vẫn trầm ngâm. Ai cũng hiểu rằng ông thương bà Mẳn, người vợ chịu thương chịu khó vất vả thay chồng nuôi con trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, bù trì cho bà chẳng được bao lâu thì bà lại ra đi trước ông. Thỉnh thoảng ông nhắc lại một câu với người thân: “Bà ấy khổ quá!”. Ông là người nặng tình nặng nghĩa với gia đình, họ mạc, xóm làng. Con cháu thương ông cứ khuyên ông ít ra ngoài để giữ sự an lành cho ông. Vào một buổi sáng, Hoàng Văn Dơn một thương binh chống Mỹ gọi Thiếu tướng Hoàng Văn Thạ là bác họ đã ngăn ông không lên đầu làng nữa, ông bảo với anh: “Để bác đi cho thoải mái”. Hôm đó ông đứng trên bờ đê rất lâu rồi trở về. Như có điềm chẳng lành, khi thấy bóng ông về đến đầu ngõ, dáng vẻ liêu xiêu, anh Dơn chạy vội ra đỡ thì đã muộn. Ông ngã vì đuối sức. Phần vì đã muộn, phần vì anh Dơn ốm yếu không đủ đỡ trọng lượng của bác mình. Ông đã ngã và bị gãy xương một bên chân. Được chữa lành, từ đó ông Thạ yếu dần. Tháng 4 năm 2014 ông bị ốm nặng, con cháu đưa ông lên Viện 108 của quân đội. Dù yếu đau đến mấy, vị tướng già vẫn lặng lẽ chịu đựng, con cháu ít khi nghe thấy tiếng kêu rên. Sau một tháng tận tình cứu chữa và chăm sóc, do tuổi cao sức yếu, Thiếu tướng Hoàng Văn Thạ đã trút hơi thở cuối cùng vào hồi 4h 57 phút ngày 31 tháng 5 năm 2014 tại Viện 108 – Hà Nội, hưởng thọ 89 tuổi. Tang lễ của ông được Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Binh chủng Pháo binh và gia đình tổ chức, cử hành trọng thể theo nghi thức quân đội. Thi hài ông được hỏa táng tại nghĩa trang Văn Điển, tro cốt được đưa về nghĩa trang quê nhà. Bà con làng Hoàng Sơn đón ông về nơi đất mẹ với tấm lòng thành kính, tiếc thương vô hạn. Hình ảnh Thiếu tướng Hoàng Văn Thạ bình dị mà vẫn mãi là tấm gương sáng nơi quê nhà.

Thiếu tướng Hoàng Văn Thạ, một trong số rất ít cán bộ quân đội cấp tướng trong danh sách tướng lĩnh của quê hương Ninh Bình ở thập kỷ 80 thế kỷ trước. Là vị tướng đầu tiên của quê hương Hoàng Sơn thuộc xã Ninh Tiến, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (nay là thôn Hoàng Sơn, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình sau sáp nhập tỉnh 2025). Ông là niềm tự hào của gia đình, dòng họ và quê hương Hoàng Sơn. Hình ảnh, tiểu sử và những trang viết về ông hiện diện trong bộ sách “Tướng lĩnh Ninh Bình thời đại Hồ Chí Minh” đã góp phần làm nên bức “Tượng đài tướng lĩnh” của miền đất Cố đô địa linh nhân kiệt. Là một miền sáng trong lịch sử quê hương Ninh Bình mang ý nghĩa giáo dục truyền thống, hun đúc thêm hào khí Hoa Lư – Đinh Tiên Hoàng Đế cho muôn đời con cháu mai sau.

ĐINH NGỌC LÂM

Văn Nghệ Ninh Bình

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *