Vanvn- Khi viết về biên cương, miền núi những năm gần đây, bên cạnh các cây bút đã thành danh như Ma Trường Nguyên, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Hữu Quý, Trần Hữu Việt…, xuất hiện một số tác giả trưởng thành từ chính đời sống thực tiễn vùng cao, mang đến những góc nhìn gần gũi, giàu trải nghiệm. Tác giả Hà Minh Hưng ở Lai Châu là một trong những gương mặt như thế.
Với tập bút ký Người giữ “hồn” biên giới gồm 17 bài bút ký khác nhau, Hà Minh Hưng đã ghi chép một cách tỷ mỉ, khoa học những lát cắt đời sống nơi biên cương mà cụ thể là miền đất Lai Châu và kiến tạo một không gian nhân văn, nơi con người, văn hóa, lịch sử và khát vọng phát triển cùng hòa quyện trong nhịp sống của các đồng bào quanh vùng biên giới phía Bắc Việt Nam đương đại.

Đọc Người giữ “hồn” biên giới, điều dễ nhận thấy là toàn bộ các bài ký trong tuyển tập được hình thành từ những chuyến đi dài hơi, bền bỉ và trực tiếp. Tác giả hiện diện ở những bản làng xa xôi nhất của Lai Châu, từ Sin Hồ, Mường Tè, Nậm Nhùn đến Pa Ủ, Ka Lăng, Thu Lũm, Mù Cả, Nậm Ban, Mường Cang… Anh gặp gỡ giáo viên cắm bản, chiến sĩ biên phòng, trưởng bản, già làng, nông dân, học sinh vùng cao; lắng nghe câu chuyện của họ rồi chuyển hóa thành những trang ký giàu sức gợi.
Tên sách Người giữ “hồn” biên giới gợi mở một cách tiếp cận đặc biệt. Nếu nhiều tác phẩm viết về biên cương thường nhấn mạnh nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thì Hà Minh Hưng hướng ngòi bút tới yếu tố sâu xa hơn: giữ gìn “hồn” biên giới. “Hồn” ấy là gì? Đó là tiếng trống trường giữa mây núi, là ánh đèn lớp học vùng cao, là những cánh rừng thiêng người Hà Nhì gìn giữ qua nhiều thế hệ, là niềm tin của đồng bào Mảng vào cuộc sống mới, là những đứa trẻ được bộ đội biên phòng đỡ đầu đến trường, là ký ức lịch sử còn vọng sóng ở Vũng Rô…
Trong bút ký Người giữ “hồn” biên giới, tác giả dành nhiều trang viết về những giáo viên vùng cao ở Sin Hồ, Mường Tè. Hình ảnh những thầy cô vượt hàng chục cây số đường rừng để vận động học sinh đến lớp trở thành biểu tượng của lòng tận tụy. Tại điểm trường Tả Ngảo (Sin Hồ), tác giả ghi lại câu chuyện những giáo viên bám bản sau trận lũ quét năm 2018, khi nhiều ngôi nhà bị cuốn trôi nhưng việc học vẫn được duy trì (tr.92-95). Ở Mù Cả (Mường Tè), các thầy cô tiếp tục đến từng nhà vận động học sinh sau thiên tai, coi việc giữ học trò ở lại lớp là nhiệm vụ quan trọng nhất (tr.98-103).
Điều đáng chú ý là tác giả khắc họa hình tượng các nhân vật hết sức bình dị và gần gũi hiện lên qua những chi tiết đời thường: đôi ủng lấm bùn, con đường “đường chó chạy”, bữa cơm vội giữa núi rừng, những đêm ngủ lại bản xa. Chính sự chân thực ấy tạo nên sức thuyết phục cho tác phẩm.

Một trong những mạch chủ đề nổi bật của tập sách là hành trình thoát nghèo và phát triển bền vững của đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong bút ký Khát vọng Nậm Ban (tr.104-113), Hà Minh Hưng kể câu chuyện đổi thay của người Mảng đây là một trong những dân tộc ít người nhất Việt Nam. Nậm Ban hiện lên như vùng đất từng chìm trong đói nghèo, rượu chè và tập quán lạc hậu. Tác giả theo dấu những người lính biên phòng, cán bộ cơ sở, những đảng viên tiên phong để ghi nhận quá trình chuyển biến nhận thức của người dân. Các nhân vật như Lý A Quân, Chìn A Chăn hay Bí thư Chi bộ Lò A Ty… được xây dựng như những “điển hình tiên tiến” với đầy đủ những trăn trở, thất bại và nỗ lực vượt lên chính mình. Nhờ vậy, câu chuyện về phát triển cộng đồng trở nên sinh động và gần gũi với người đọc hơn bao giờ hết.
Ở Về Mường Cang hôm nay (tr.143-150), tác giả tiếp tục khai thác chủ đề xây dựng nông thôn mới. Hình ảnh cây cầu Nà Chằm không đơn thuần là công trình giao thông mà trở thành biểu tượng của niềm tin giữa chính quyền và nhân dân. Qua câu chuyện của Bí thư Đảng ủy xã Lìm Văn Khơi cùng những người dân hiến đất làm đường, người đọc cảm nhận rõ quá trình vận động quần chúng được thực hiện bằng sự kiên trì, gắn bó và trách nhiệm. Đây là điểm mạnh của Hà Minh Hưng: anh luôn tìm thấy chiều sâu con người phía sau những con số thống kê hay thành tích phát triển kinh tế – xã hội.
Nếu chỉ dừng lại ở phản ánh đời sống kinh tế – xã hội, tập sách sẽ khó tạo nên dấu ấn riêng. Giá trị nổi bật của Người giữ “hồn” biên giới nằm ở việc tác giả dành nhiều tâm huyết khám phá chiều sâu văn hóa của các cộng đồng dân tộc. Bút ký Chuyện người Hà Nhì giữ rừng (tr.124-133) là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của tập sách. Từ những khu rừng thiêng ở Ka Lăng và Thu Lũm, tác giả đi sâu lý giải mối quan hệ giữa người Hà Nhì với tự nhiên. Những nghi lễ cúng rừng, những điều cấm kỵ trong rừng thiêng, truyền thuyết thần rừng và ý thức cộng đồng trong bảo vệ môi trường được tái hiện sinh động.
Đặc biệt, tác giả nhận ra rằng luật tục của người Hà Nhì không chỉ là tín ngưỡng dân gian mà còn là một cơ chế bảo tồn sinh thái hiệu quả. Nhờ niềm tin văn hóa ấy, nhiều khu rừng nguyên sinh vẫn được gìn giữ qua hàng trăm năm. Cách tiếp cận này gợi nhớ đến những trang viết của Nguyên Ngọc trong Rừng xà nu hay các bút ký Tây Nguyên, nơi văn hóa truyền thống được nhìn như một nguồn lực tinh thần của cộng đồng. Tuy nhiên, Hà Minh Hưng chọn lối viết gần với báo chí điều tra thực địa, giàu tư liệu và ít chất huyền thoại hơn.
Một trong những đóng góp đáng kể của tập sách là xây dựng hình tượng người lính biên phòng thời bình với nhiều chiều kích mới. Trong Sao xanh Pa Ủ (tr.114-123), bộ đội biên phòng hiện lên như những người gieo “mùa xanh” trên đất khó. Họ giúp dân phát triển chăn nuôi, trồng trọt, giữ nước đầu nguồn, vận động trẻ em đến trường, xây dựng đời sống văn hóa mới. Đến Chuyện những ông bố mới mang quân hàm xanh (từ tr.151-157), hình tượng ấy tiếp tục được mở rộng. Những chiến sĩ biên phòng nhận đỡ đầu trẻ em nghèo, nuôi dưỡng các em như con trong gia đình. Đây là một góc nhìn giàu tính nhân văn, phản ánh sinh động chương trình “Nâng bước em tới trường” và mô hình “Con nuôi đồn biên phòng” đã được triển khai hiệu quả ở nhiều địa phương.
So với các tác phẩm viết về biên phòng như Dọc đường biên giới của Trần Hữu Việt hay một số tập ký của Nguyễn Hữu Quý, Hà Minh Hưng dành nhiều sự chú ý hơn tới những công việc đời thường của người lính. Nhờ vậy, hình tượng nhân vật trở nên gần gũi, chân thực.
Một điểm nhấn đáng chú ý khác là bút ký Vũng Rô, nơi ký ức còn vọng sóng (tr.134-141). Từ không gian danh thắng Vũng Rô hôm nay, tác giả dẫn người đọc trở về với tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển và những chuyến tàu Không số huyền thoại. Cuộc gặp gỡ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Đắc Thạnh giúp lịch sử hiện lên qua lời kể của nhân chứng. Điều đáng quý là tác giả đã kể lại lịch sử theo các dữ kiện có thật. Anh đặt ký ức chiến tranh trong đối sánh với nhịp sống hòa bình hiện tại. Những con sóng biển Vũng Rô hôm nay dường như vẫn mang âm vang của những chuyến tàu năm xưa. Chính sự giao thoa giữa quá khứ và hiện tại đã tạo nên chiều sâu cảm xúc cho tác phẩm…

Từ góc độ thể loại, Người giữ “hồn” biên giới cho thấy sự vận dụng linh hoạt những đặc trưng của bút ký hiện đại. Trước hết là tính xác thực tư liệu. Hầu hết các bài viết đều có hệ thống địa danh, nhân vật, sự kiện cụ thể. Đây là nền tảng quan trọng tạo nên độ tin cậy của tác phẩm. Thứ hai là khả năng tổ chức điểm nhìn linh hoạt. Tác giả thường bắt đầu bằng một chuyến đi, một cuộc gặp hoặc một cảnh quan cụ thể, rồi từ đó mở rộng sang những vấn đề văn hóa, lịch sử, xã hội. Cấu trúc ấy giúp bài viết giàu tính khám phá. Thứ ba là ngôn ngữ giàu chất văn. Hà Minh Hưng có sở trường miêu tả cảnh sắc miền núi. Những đoạn viết về sương núi, rừng già, dòng suối, bản làng thường giàu nhạc tính và cảm xúc. Tuy vậy, tác giả vẫn giữ được tiết chế cần thiết của một cây bút báo chí. Thứ tư là khả năng phát hiện chi tiết điển hình. Nhiều hình ảnh nhỏ trong sách có sức ám ảnh lâu dài: con đường đến trường sau lũ, cây cầu nối hai bờ suối, khu rừng thiêng Hà Nhì, ánh đèn lớp học giữa mây núi, tiếng sóng Vũng Rô vọng về từ lịch sử… Những chi tiết ấy trở thành điểm tựa để tác giả khái quát những vấn đề lớn hơn của đời sống vùng biên.
Nhà thơ Phan Hoàng từng nhận xét về tập sách: “Người giữ “hồn” biên giới vì thế không chỉ là tác phẩm văn chương, mà còn là một bản trường ca về lòng trung thành, niềm tin và tình yêu đất nước. Nó khiến ta nhận ra rằng, giữa bạt ngàn gió núi và sương mây, vẫn có những con người bình dị đang âm thầm thắp lửa, gìn giữ linh hồn biên cương cho hôm nay và mai sau.” Nhận xét ấy đã chỉ ra đúng giá trị cốt lõi của cuốn sách: sức hấp dẫn nằm ở những sự kiện rất đời thường và ở chiều sâu đời sống con người.
Người giữ “hồn” biên giới là tập bút ký giàu giá trị tư liệu, đậm chất nhân văn và mang hơi thở đương đại. Tác phẩm đã xuất sắc phản ánh diện mạo đổi thay của vùng biên Lai Châu, góp phần không nhỏ vào việc lưu giữ những giá trị văn hóa, lịch sử và tinh thần của các cộng đồng cư dân nơi phên dậu Tổ quốc.
Qua ngòi bút Hà Minh Hưng, biên giới hiện lên như một không gian sống động của những con người bình dị đang âm thầm cống hiến. Họ là giáo viên cắm bản, chiến sĩ biên phòng, già làng, trưởng bản, người nông dân, những đứa trẻ vùng cao… Chính họ đang gìn giữ “hồn” biên giới bằng lao động, trách nhiệm, tình yêu quê hương và niềm tin vào tương lai.
Trong bối cảnh văn học viết về miền núi và biên cương đang cần thêm những tiếng nói từ thực tiễn đời sống, Người giữ “hồn” biên giới của Hà Minh Hưng là một đóng góp đáng trân trọng. Tập sách khẳng định sức sống của thể loại bút ký trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống đương đại, đồng thời cho thấy khả năng kết nối giữa báo chí và văn học, giữa tư liệu và cảm xúc, giữa câu chuyện của một vùng đất với những giá trị mang ý nghĩa rộng lớn đối với cộng đồng và đất nước.
LÊ GIA HOÀI
- Nhà văn Văn Biển kể chuyện Hồ Giáo nuôi trâu
- Nhà văn Từ Kế Tường: Trang sách về những cô gái tuổi hoa
- Ra mắt “AI trong kỷ nguyên khai sáng toàn cầu” của Michelle Nguyễn
- Linh thiêng đền Kiếp Bạc trong di sản tư liệu thế giới
- Năm 1961 tìm thấy một thanh kiếm cổ niên đại 2.000 năm ở chân núi Nưa, nay “cất giữ” ở đâu?















