Vanvn- Có thể nói Làng Nủ hôm nay là một làng miền núi kiểu mẫu, làng mà như một khu du lịch. Làng rộng rãi, khang trang, thoáng đãng, có điểm trường và nhà sinh hoạt cộng đồng, có đường bê tông, điện chiếu sáng cho làng, cho từng nhà. Từng ngôi nhà trong làng được thiết kế, xây dựng theo kiểu nhà sàn truyền thống của người Tày, kết cấu kiên cố, vật liệu xây dựng chất lượng cao, thi công trách nhiệm, tỉ mỉ, thận trọng, nhà nào cũng có sân sướng, vườn tược, hài hòa, hài lòng.

Bồi hồi nhớ lại
Tôi không đến được Làng Nủ ngày mồng mười tháng chín năm hai ngàn không trăm hai tư, ngày mà trận lở đất kinh hoàng khiến hàng triệu khối đất đá từ núi Con Voi đổ ập xuống làm cho 37 trong 40 ngôi nhà của làng cùng cả cánh đồng màu mỡ phút chốc bị vùi lấp trong đất đá, bùn nước, 67 người trong 158 người làng bị thiệt mạng hoặc mất tích.
Tôi cũng không đến được Làng Nủ thời điểm hơn 300 cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 316 (Quân khu 2) cùng các chiến sĩ công an, dân quân địa phương, cảnh sát cơ động, bộ đội biên phòng, cán bộ, nhân dân của xã Phúc Khánh, của huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai và những người còn sống sót của Làng Nủ trầm mình, vật vã chống đỡ mưa bão, vật vã trong hy vọng, tuyệt vọng để đào bới, tìm kiếm những người bị nạn bị chôn vùi trong tầng tầng bùn đất.
Song tôi đến được Làng Nủ ngày mà cả nước hướng về Làng Nủ, chung sức chung lòng cùng Làng Nủ vượt qua hoạn nạn. Ngày ấy trên cánh đồng Làng Nủ ngổn ngang sỏi đá, giữa đau thương mất mát trùm trời Thủ tướng Phạm Minh Chính đã khẳng định với người dân Làng Nủ, với người dân cả nước: “Phải để sự sống nảy sinh từ cái chết”, “Không để ai bị bỏ lại phía sau”…
Ngày ấy tấm lòng và của cải của người Việt khắp nơi trong cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè Quốc tế hướng về Làng Nủ, đổ về Làng Nủ. Ngày ấy người Làng Nủ tự bảo mình, bảo nhau: “Còn gốc còn mầm”, “Rừng gượng dậy vì rừng còn phải sống, trong hoang tàn phải dung dưỡng mầm xanh”. Ngày ấy tôi đã choáng ngợp, thực sự choáng ngợp và xúc động rơi nước mắt trước hàng đoàn xe đầy ắp hàng cứu trợ, đầy ắp tình người nối đuôi nhau ngược núi. Hối hả. Kiên nhẫn. Bất kể ngày đêm, gió mưa, đường xá khó khăn. Chỉ chăm chắm ước mong mang được những thứ nuôi sống người đến với những người đang quằn quại giành lại sự sống càng nhanh càng tốt.
Cách đây bốn mươi tư năm, vào một ngày cuối thu năm 1982 tôi đã từng chứng kiến một cuộc hội tụ lòng người, hội tụ nghĩa cử “lá lành đùm lá rách” của đồng bào các dân tộc xã Nậm Mòn, huyện Bắc Hà, đó là lần hỏa hoạn đã thiêu rụi ngôi nhà sàn cùng toàn bộ của cải của một gia đình người Tày ở thôn Nậm Mòn. Lần ấy tôi đã vô cùng xúc động, đã thấu được nghĩa đồng bào từ những con lợn, con gà, ống ngô, ống gạo gom góp giúp đỡ nhà bị nạn, đến hầu hết đàn ông, đàn bà trong, ngoài làng chung tay chung sức dựng lại ngôi nhà sàn vững chãi cho chủ nhà bị nạn. Lần ấy tôi đã trải lòng mình vào bài ký Nậm Mòn – mảnh đất tình người (bài ký thời điểm ấy đã được Đài Tiếng nói Việt Nam phát trên chương trình Người Việt Nam ở xa Tổ quốc) và bài thơ Lành rách đùm nhau, trong đó có những vần thơ da diết: “Lòng bàn tay cũng da/ Lưng bàn tay cũng thịt/ Của rừng bày ra/ Của nhà trao tay/ Gạo người Dao/ Gà, lợn người Mông/ Công sức người Tày/ Rượu người Nùng mềm môi mềm trăng…/ Nuốt nước mắt làng gom từng mảnh vỡ/ An ủi người qua mất mát, đớn đau”…
Và lúc này đây, khi bắt gặp “Những cặp mắt rưng rưng màu biên ải/ Những lòng thành như gió, gió lay lay”, những xe, những người nóng lòng cứu người, giúp người hoạn nạn tôi không biết làm sao bày tỏ được lòng mình. Cuộc mất mát của Làng Nủ quá lớn và để khắc phục hậu quả khôn lường này tinh thần “lá lành đùm lá rách”, “lá rách ít đùm lá rách nhiều” đã vượt khỏi phạm vi một làng, một xã, một huyện, một tỉnh và đánh động tới trái tim của cả đất nước, lan ra cả thế giới.
Trong những ngày này Làng Nủ đã nhận được sự giúp đỡ của mấy nghìn cơ quan, tổ chức, nhà hảo tâm và các cá nhân với số tiền nhiều tỷ đồng. Đặc biệt lần trở lại sau đó tôi đã được minh chứng một điều kỳ diệu, đó là chỉ mười ngày sau thiên tai, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, đồng hành của các đơn vị tài trợ, đặc biệt là Binh đoàn 12 – Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn (Bộ Quốc phòng) Cụm công trình tái thiết Khu dân cư Làng Nủ được khởi công xây dựng. Và với tinh thần quyết chiến quyết thắng những anh bộ đội Cụ Hồ đã bất kể thời tiết, bất chấp địa hình, thần tốc thi công, trong chưa đầy ba tháng đã làm nên một Làng Nủ mới rộng rãi, khang trang.
Bốn mươi ngôi nhà kiên cố cùng các công trình phụ trợ, điện, đường, sân chơi, điểm trường, nhà sinh hoạt cộng đồng, đảm bảo cho người dân của làng sinh sống ổn định, lâu dài là minh chứng cho sức mạnh đoàn kết, gắn bó, “thương người như thể thương thân”, minh chứng cho sức mạnh và sự tận tâm tận lực của người Việt với đồng bào của mình. Ngày ấy tôi đã bồi hồi bộc lộ lòng mình qua những vần thơ: “Làng Nủ ngập ngừng trước xuân/ Ngập ngừng sau ngày hoạn nạn/ Đau buồn nổi chìm khắp ngõ/ Sum vầy nhẹ từng bước chân/ Mâm cơm cúng làng đầu năm/ Tụ người đi qua vận hạn/ Bao mắt vẫn còn thảng thốt/ Khuyết tròn mòn dốc sau lưng/ Núi rừng khỏa lấp đau thương/ Ngập ngừng màu xanh gom góp/ Gió đưa mùi hương vấn vít/ Quanh người ước mong mùa về…”.

Nỗi niềm bày tỏ
Có thể nói Làng Nủ hôm nay là một làng miền núi kiểu mẫu, làng mà như một khu du lịch. Làng rộng rãi, khang trang, thoáng đãng, có điểm trường và nhà sinh hoạt cộng đồng, có đường bê tông, điện chiếu sáng cho làng, cho từng nhà. Từng ngôi nhà trong làng được thiết kế, xây dựng theo kiểu nhà sàn truyền thống của người Tày, kết cấu kiên cố, vật liệu xây dựng chất lượng cao, thi công trách nhiệm, tỉ mỉ, thận trọng, nhà nào cũng có sân sướng, vườn tược, hài hòa, hài lòng.
Nhưng…, muôn sự được trên đời vẫn có những cái “Nhưng” đáng suy ngẫm.
Ngày chứng kiến những người Làng Nủ còn sống sót lặng lẽ nhóm lửa trong những ngôi nhà mới với nét mặt vui chẳng ra vui buồn không ra buồn, những câu thơ mang tâm trạng đồng cảm, dự cảm trong tôi nhói lên: “… Đêm quần tụ có tiếng khóc chào đời/ Có nước mắt rơi cả ngàn năm trước/ Có quặn đau níu lòng người đang bước/ Có gầm ghè bão tố cuối rừng xa…”. Tôi cứ nghĩ theo thời gian, cùng với sự chung tay của xã hội, sự nỗ lực vượt lên của chính mình, vết thương do Mẹ Rừng gây ra cho người Làng Nủ sẽ sớm liền sẹo, song người Làng Nủ, nhất là những người cao tuổi, trong những đêm dài bên bếp lửa, lấy lửa soi vào lòng mình, lòng giời, lòng người, thấy cái nhận được từ cộng đồng dân tộc to lớn, hiện hữu đã và đang cho sự an lòng, nhưng những cái mất mát đau khổ vẫn len lỏi, chập chờn như ngọn lửa trong bếp. Đúng là làng mới cho khang trang, an tâm, quần tụ, nhà mới cho kiên cố, vững chãi, tiện nghi, đủ thì có đủ, thiếu thì vẫn thiếu, cái thiếu không chỉ là cái ăn cái mặc mà thiếu chèn lên thiếu là cái nhớ, cái thương, cái nghẹn ngào.
Ngước lên, nhìn quanh, thấy ngôi nhà bê tông cốt thép mái ngói, rộng thênh như một ngôi đình, là nơi việc nấu nướng, ăn uống, ngủ nghỉ, tiếp khách, tụ hội gia đình, bạn bè của cả nhà đều hợp lý hợp tình, song ký ức không xa về ngôi nhà sàn đời nối đời trú ngụ vẫn làm lòng người nhói đau. Ngày xưa người Tày làm nên ngôi nhà sàn là gắng hội tụ cả cánh rừng, ngôi nhà nào cũng có hàng chục loại cây đỡ nhau, luồn nhau, gác nhau, buộc nhau, che chở cho nhau để giữ hơi rừng hơi núi, ăn ở trong ngôi nhà sàn cũng là ăn ở với rừng. Và nữa! Chủ, khách ngồi bên cửa sổ là ngồi trước thân thiện, yên bình, là thấy phúc thấy lộc. Còn bây giờ!…
Ngồi trong nhà ngóng về phía cánh đồng thì cánh đồng bờ xôi ruộng mật nuôi sống nhiều thế hệ người làng đã thành cánh đồng trơ sỏi đá, cỏ còn không mọc nổi. Nhìn lên núi thì lo sợ phấp phỏng lũ ống, lũ quét đổ xuống bất cứ lúc nào. Lén nhìn bàn thờ thì lòng dạ quặn đau, nước mắt rơi lã chã khi gặp cả dãy bát hương còn mới song đã chật cứng chân nhang. Mâm cơm dọn ra, nhà mất cả cha mẹ, ông bà, nhà mất chồng mất con, nhà mất anh mất em thì nuốt sao cho nổi. Rồi vào trong làng, ra khỏi làng đều bắt gặp những khuôn mặt lầm lầm đau khổ. Rồi tiền của nhận từ những tấm lòng vàng nhiều đấy nhưng cứ rút dần nuôi miệng thì núi cũng lở, hết của người của giời rồi thì biết sống ra sao… Đó là những cái đau cái lo lúc chìm sâu, lúc bày ra bắt những con người đang cõng tầng tầng đau khổ phải đối mặt hàng ngày, khiến cho người làng luôn sống trong cảnh buồn vui lẫn lộn.


Và Làng Nủ hôm nay
Chuyến du hành về Làng Nủ đầu xuân Canh Tý chúng tôi gồm các anh: Nguyễn Trung Học – người tới với Làng Nủ từ thời đất nước còn bao cấp, Đoàn Ngọc Sáng – người đến với Làng Nủ từ ngày còn công tác ở Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lào Cai, Nguyễn Văn Học – người mong đi để biết, để hiểu thêm về làng Nủ hôm qua, hôm nay, và tôi – người viết văn, làm báo đã mấy lần đến Làng Nủ trước và sau cơn hoạn nạn.
Cô gái người Dao Hứa Thị Nhiêm – Phó trưởng Phòng Văn hóa – Xã hội xã Phúc Khánh đón chúng tôi ngay tại chỗ rẽ từ Quốc lộ 70 vào Làng Nủ. Sau khi cùng chúng tôi thắp hương tại Nhà Bia Tưởng niệm – nơi tụ hồn sáu mươi bảy người làng Nủ trong trận lũ kinh hoàng đã mãi mãi ra đi, nơi hội tụ lòng người làng Nủ, hội tụ lòng người bốn phương hướng về Làng Nủ hôm nay, Nhiêm đưa chúng tôi vào thăm nhà Tưởng niệm.
Ngày Làng Nủ xảy ra trận lở núi kinh hoàng, Hứa Thị Nhiêm đang làm Phó Chủ tịch UBND xã Phúc Khánh (cũ), cô đã có mặt ngay trong buổi sáng định mệnh của làng, đã cùng dân làng và các đồng chí lãnh đạo xã, huyện xông pha, tìm mọi cách có thể cứu giúp đồng bào, rồi đồng hành cùng mọi người suốt cả quá trình tìm kiếm nạn nhân cũng như việc xây dựng Làng Nủ mới. Nhiêm xúc động, rành rẽ tường thuật lại từ việc khởi nguồn tai họa, trong tai họa, sự cứu giúp kịp thời, bền bỉ, gian nan vất vả, cùng sự vào cuộc của cán bộ, nhân dân Làng Nủ, của xã, huyện, tỉnh, Trung ương, của hàng ngàn trái tim đồng bào trên cả nước hướng về Làng Nủ.
Nhiêm xúc động nói: “Lúc mới đầu khi lũ xảy ra ai cũng nghĩ cả làng bị chết hết, may mà nhanh chóng tìm được, gom được những người sống sót để cứu chữa, che chở”, “Buổi trưa, khi lãnh đạo huyện vào được hiện trường đã hỏi em, bây giờ cần tiếp tế gì nhất cho làng, em bảo cần nhất lúc này là cứu chữa người bị thương và có quan tài, vải xô để khâm liệm người chết. Đây là việc vô cùng khó, bởi lúc đó khắp các xã dọc sông Chảy đều chìm trong lũ, cũng may việc đề xuất của làng, của xã nhanh chóng được đáp ứng.”…

Chúng tôi lên thăm Làng Nủ mới.
Kể từ ngày mồng mười tháng chín năm hai nghìn không trăm hai tư kinh hoàng đến nay đã ngót năm trăm năm mươi ngày đi qua, thời gian đủ để cây cối hai mùa thay lá, hai mùa cho hoa, một mùa cho quả, cho con người nguôi ngoai những đau thương mất mát để tiếp tục cuộc sống của mình.
Vẫn ngôi làng rộng rãi, điện, đường, nhà văn hóa, điểm trường khang trang như ngày khánh thành làng. Vẫn những ngôi nhà sàn vững chãi, đầy đủ thiết bị phục vụ sinh hoạt cho con người như ngày người làng ngập ngừng bước vào ngôi nhà mới. Song theo thời gian, theo nỗ lực của từng người, của cộng đồng giúp sức, cuộc sống của từng người, từng nhà trong làng đã dần dần ổn định; nụ cười dần trở lại trên những khuôn mặt nặng trĩu âu lo; tiếng hát tiếng cười của các cháu nhỏ đã rộn rã trong hai điểm trường; những câu hát yêu thương đã ngập ngừng trên môi nam thanh nữ tú; tổ may thêu của làng đã có tám mươi lăm phụ nữ từ mười tám đến sáu mươi tuổi cần mẫn thêu những tấm hoa văn trên thổ cẩm để xuất khẩu ra thế giới…
Bí thư Đảng ủy xã Phúc Khánh Hoàng Quốc Hùng đến kịp lúc tôi đang tặng Làng Nủ 100 cuốn sách văn học rút ra từ tủ sách tôi đã cả đời sáng tác, gom mua và được bạn bè khắp cả nước đề tặng. Mọi người cảm động, từ ngày xảy ra hoạn nạn Làng Nủ nhận được tiền của, vật chất, tinh thần của rất nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân, song được nhận cả trăm cuốn sách đủ các thể loại của các nhà thơ, nhà văn thế này thực quả là lần đầu, Trưởng làng Hoàng Văn Diệp và Phó phòng Văn hóa – Xã hội xã Hứa Thị Nhiêm hứa sẽ trưng bày, lan tỏa món ăn tinh thần này đến với dân làng.
Ông Diệp đưa chúng tôi về nhà mình. Nhà ông nhìn ngay xuống cánh đồng bị lũ cuốn, rất may ngày định mệnh của làng, dòng sông đất đá sỏi bùn chỉ liếm đến chân sàn, người trong nhà kịp chạy lên lưng núi trước mặt nên tránh được thiệt hại về người, vợ chồng ông mới có cơ sống sót để kịp thời cứu giúp dân làng bị nạn ngay giây phút đầu tiên.
Ông Diệp thổ lộ với chúng tôi:
– Đồng bào còn vất vả lắm, song vẫn phải sống thôi, gượng dậy mà sống thôi.
– Sinh kế của Làng Nủ hiện nay và tương lai là gì?- Tôi hỏi.
– Vẫn phải trông vào rừng thôi, có rừng mới có nước sinh hoạt, trồng cấy, đồng làng mới có cơ cải tạo được – Ông Diệp trả lời.
– Song rừng là sinh kế lâu dài còn cái ăn cái tiêu hàng ngày?…- Tôi hỏi.
Ông Diệp trả lời rành rẽ:
– Phải trông vào nương ngô nương sắn đấy. Làng hiện có bảy héc ta trồng ngô, hai mươi héc ta trồng sắn. Rồi thu nhập từ khôi phục nuôi cá nước lạnh, chăn nuôi trâu, lợn, gà, vịt, từ thêu thùa thổ cẩm… Giàu có, đầy đủ như trước thì còn lâu lắm nhưng không phải lo đói lo rét như năm ngoái nữa.
Chúng tôi chia sẻ niềm vui với ông Trưởng làng, với làng, phàm là con người, bất cứ ở đâu, làm việc gì thì việc ăn, ở, ngủ nghỉ bao giờ cũng đặt lên hàng đầu, đồng bào Làng Nủ đã có những ngôi nhà chắc chắn, không lo đói rét là thuận lợi ban đầu và cũng là nền móng cho sự nhanh chóng hồi sinh.
Để khẳng định nỗ lực của đồng bào và sự quan tâm “không bỏ ai lại phía sau” của Đảng và Chính phủ, Bí thư Đảng ủy xã cùng ông Diệp dẫn chúng tôi ra tham quan cánh đồng làng đang được san tạo, cải tạo trả lại màu xanh cho đất theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, qua việc thực hiện Quyết định số 1710/QĐ-UBND ngày 30/5/2025 của UBND huyện Bảo Yên (thời điểm đó chưa bỏ cấp huyện).
Đúng là có sự đồng lòng, có tiền của, sức người, sức máy có khác, trước mắt chúng tôi cánh đồng hơn mười sáu héc ta năm ngoái còn là cánh đồng đá sỏi nay đã được phủ một lớp đất màu dày mấy gang tay, một con kênh thẳng tắp (có hai cây cầu bê tông bắc qua) chạy giữa cánh đồng đón nước từ đầu nguồn về phục vụ tưới tiêu.
Bí thư Hùng hồ hởi:
– Công trình cải tạo cánh đồng này hướng tới sự hồi sinh bền vững cho Làng Nủ, công trình mới thi công chưa đầy tám tháng song đã thực hiện được trên bảy mươi phần trăm khối lượng công việc. Sau khi công trình hoàn thành, xã sẽ chỉ đạo giao đất lại cho người dân để trồng cam V2, trồng dứa, khoai môn tím. Đất đai màu mỡ, đầy đủ nước tưới tiêu, cây cối trồng theo quy hoạch, theo mùa nào thức nấy, tiêu thụ sản phẩm kịp thời thì đồng bào không chỉ có thu nhập cao mà nơi này còn là điểm đến hấp dẫn của khách du lịch bốn phương.
Ông Diệp cũng không giấu nổi tự hào:
– Cũng may sau bão lũ nhà nào trong làng cũng còn rừng, nhất là rừng quế. Làng hôm nay có hơn bốn trăm năm mươi héc ta quế. Có rừng quế hai năm tuổi. Có rừng quế năm năm, bảy năm, chín năm tuổi. Rừng quế nào cũng cho con mắt nhà, con mắt làng nhìn vào.
– Tâm trạng của người làng với Thần Rừng hôm nay thế nào? – Tôi buột miệng hỏi.
Ông Diệp thật thà bộc bạch:
– Sợ lắm rồi. Sợ để mà kính trọng Thần, để mà gìn giữ rừng. Cuộc sống người Làng Nủ là cuộc sống tự lập, tự chủ, trong vòng vây núi muốn tự lập tự chủ buộc phải trông cậy vào rừng. Rừng cho nước nuôi cánh đồng, nuôi người, nuôi vật, nuôi rừng. Rừng cho gỗ làm nhà, cho củi sưởi ấm, cho củ, cho măng, rau, hoa quả, nhất là rừng quế cho tiền trước mắt, cho tiền lâu dài, giúp cho người làng tự làm tự ăn…
Tôi hiểu lòng của ông Trưởng làng, lòng của người dân Làng Nủ, bao năm qua lòng tham cùng nỗi lo cơm áo, con người đã tàn phá, kết liễu biết bao cánh rừng dọc bờ sông Chảy, trong đó có những khu rừng nguyên sinh của Làng Nủ, bây giờ nếu không trân trọng, bảo vệ, giữ gìn, nuôi dưỡng, không cho cây tựa cây, cây tựa người để rừng trở lại đúng nghĩa là rừng thì chắc chắn Thần Rừng còn nổi giận, lũ ống, lũ quét không chỉ xảy ra một nơi, một lần.
Chúng tôi chia tay Làng Nủ trong náo nức, háo hức, tình người, hy vọng, kỳ vọng đan xen. Mặt trời đã ngả hẳn về Tây, đã hiền lành như mắt ngựa, nong trời đã náo nức những đám mây tìm chốn ngủ, thung lũng đã nhuộm ánh vàng, những ngọn khói mỏng manh hờ hững trên những mái nhà đã nhắc người về, trâu về. Tôi đưa mắt bao quát cả một vùng rừng núi, thấy lòng dâng dâng cảm xúc. Làng Nủ đã từng chìm trong bể khổ tang thương. Làng Nủ đã vươn dậy trong nỗ lực của bản thân và sự đồng sức đồng lòng của bao người trên đất nước. Làng Nủ đã và đang nhọc nhằn đi trên con đường tìm lại ấm no, hạnh phúc. Cái đích của làng nhiều thứ đã được gặt hái, nhiều thứ vẫn còn trong khát vọng, song tôi tin với cái chí của người Miền Rừng, tấm lòng của những người vì Miền Rừng chắc chắn Làng Nủ sẽ trở lại sự bình yên như trước kia, sẽ đạt được ước mơ của hôm nay, ngày mai.
ĐOÀN HỮU NAM
Văn Nghệ Lào Cai















