Vanvn- Mười bảy bài viết (tiểu luận – phê bình) trong Duyên khởi đến cõi văn của Hoàng Kim Ngọc, theo tôi, là cách thức tác giả trung thành với sự lựa chọn dũng cảm và khó khăn khi nỗ lực tiếp cận văn chương bằng cách bóc tách và trình hiện được cái cốt lõi của nó tạo nên giá trị vĩnh hằng – đó là “mật mã nghệ thuật” (cái cốt lõi/ chân tủy của “mã văn hóa”) của nhà văn, của tác phẩm, của phong cách, của cá tính sáng tạo.

Viết từ cảm thức tôn giáo
Ý kiến của nhà văn Pháp A. Malraux (1901-1976): “Thế kỷ hai mươi là thế kỷ của tâm linh” luôn thấu suốt mọi thời đại, dân tộc, sắc tộc, thế hệ; càng đúng trong thế kỷ 21, khi tôn giáo gắn với văn hóa, tâm linh.
Quan sát thực tiễn văn học Việt Nam hiện đại chúng ta sẽ nhận ra một thực thể sáng tác mang dấu ấn (hay cảm thức) tôn giáo rõ nét. Vì sao? Có thể biện giải bởi nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, thế giới đang phát triển trong tình thế bất bình thường, nhiều hiểm họa và tai ương, ngút ngàn những bể dâu và mê lộ khiến cho con người có thể bất khả tri, xét về lý tính.
Chính trong bối cảnh đó, xét về yếu tố chủ quan, con người nỗ lực đi tìm nơi ấn náu của tinh thần đế tránh nguy cơ thất vọng, đổ bể đức tin. Không có gì hiệu năng – hiệu lực – hiệu quả hơn khi con người tìm đến tôn giáo (theo sự lựa chọn của tự do cá nhân bởi đạo/ tôn giáo nào cũng hướng con người tới “đạo đức”, hướng tới chân – thiện – mỹ, tới bình an, hoan hỷ). Cảm thức tôn giáo cũng có thể coi là cảm hứng (nhiệt hứng) trong sáng tác của các nhà văn từ Nguyên Hồng, Chu Văn, Nguyễn Khải, Nguyễn Xuân Khánh đến Vũ Huy Anh, Trần Thùy Mai, Lý Lan, Đoàn Tuấn, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Võ Thị Xuân Hà, Y Ban, Thùy Dương, Hồ Anh Thái, Đỗ Bích Thúy…
Sách mới Dấu ấn Phật giáo trong thơ đương đại Việt Nam (Hoàng Kim Ngọc tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Hội Nhà văn, tái bản 2026), là bằng chứng cho thấy rõ ràng các nhà văn Việt Nam đang có động hướng tinh thần viết (sáng tác và nghiên cứu) từ cảm thức (nhiệt hứng) tôn giáo. Cảm thức tôn giáo gắn chăt với văn hóa tâm linh. Việt Nam với hơn 8000 lễ hội/năm là một con số biết nói về đời sống văn hóa – tinh thần – tâm linh của người dân một đất nước không hề “vô thần”, như cách kháng cự của một số không ít người, trái lại luôn trung thành với quan niệm “vạn vật hữu linh”. Chí cần dựa hẳn vào tuyệt phẩm Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du chúng ta có thể nói về cảm thức tôn giáo (Phật giáo) trong cách nhìn và thể hiện nghệ thuật con người theo những quy luật bể dâu, tài mệnh tương đố, bỉ sắc tư phong, nhân duyên, ân oán, tiền kiếp, hậu vận,…
Tiếp cận “mật mã nghệ thuật”
Tiếp cận văn chương từ văn hóa đang là động hướng, đại lộ triển vọng cho nghiên cứu – lý luận – phê bình văn học hiện nay. Mười bảy bài viết (tiểu luận – phê bình) trong Duyên khởi đến cõi văn của Hoàng Kim Ngọc, theo tôi, là cách thức tác giả trung thành với sự lựa chọn dũng cảm và khó khăn khi nỗ lực tiếp cận văn chương bằng cách bóc tách và trình hiện được cái cốt lõi của nó tạo nên giá trị vĩnh hằng – đó là “mật mã nghệ thuật” (cái cốt lõi/ chân tủy của “mã văn hóa”) của nhà văn, của tác phẩm, của phong cách, của cá tính sáng tạo.
Mục đích đặt ra rõ ràng là quan trọng và kết quả nếu đạt được sẽ góp phần làm thay đổi diện mạo và chất lượng của nghiên cứu – lý luận – phê bình văn học hiện nay vốn đang chủ yếu nương theo phương pháp xã hội học – lịch sử, hoặc giả chạy theo các phương pháp được coi là tân kì du nhập từ phương Tây (song có thể là “cũ người mới ta”?!). Nhưng đến hiện đại cũng có nhiều cách thức, phương pháp, con đường.
Tôi thấy, tác giả đã thông minh khi chọn con đường “đến hiện đại từ truyền thống” (như tinh thần chủ đạo của một công trình quan trọng của nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đình Hượu ngày càng được quan tâm). Rõ ràng, Hoàng Kim Ngọc không phải là người phát kiến, vạch đường chỉ lối nhưng là người thực hành có hiệu năng – hiệu lực – hiệu quả trong sự viết nghiên cứu – lý luận- phê bình của mình, khi nhận thức sâu sắc “Lý thuyết thì xám xịt, còn cây đời mãi tươi xanh” (Gớt). Tôi quý trọng tinh thần dám nghĩ, dám làm của nhà nghiên cứu khi biết chọn cho mình một lối nẻo vào văn chương mới mẻ và linh hoạt, dù rất nhiều khó khăn đối mặt.

Nổi bật và đáng quan tâm nhất là tiểu luận Tinh thần hiện pháp lạc trú trong thơ Việt Nam hiện đại đặt ở đầu sách. Bằng cách sắp xếp không có tính cơ học hay ngẫu nhiên này, tác giả có ngụ ý trình hiện con đường, cách thức, phương pháp nghiên cứu – lý luận – phê bình văn học mà mình đã quan tâm, lựa chọn và theo đuổi trung thành như một tín niệm. Một luận giải thuyết phục độc giả: “Khái niệm “Hiện pháp lạc trú” là sống an lạc ngay trong giây phút hiện tại. “Hiện pháp” là bây giờ và ở đây, “Lạc trú” nghĩa là an trú trong hạnh phúc. Đức Phật dạy chúng ta rằng hãy biết tìm hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, sống hết mình trong sát na hiện tại chứ không phải tìm trong quá khứ hay tương lai. Bởi quá khứ thì đã qua mà tương lai thì chưa tới và có thể sẽ không bao giờ tới”. Tác giả đã dừng khá lâu và giành nhiều tình cảm cho tinh thần, sắc diện, tính thẩm mỹ của “dấu ấn Phật tính” trong thơ Bùi Kim Anh, Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Hồng Thanh Quang…
Trong tiểu luận này, tác giả cũng đã điểm danh một số cây bút thơ khác trong sáng tác có hơi hướng của “Phật tính”. Nhưng cách mở rộng giao diện này vô tình làm cho mục tiêu của bài viết có vẻ ngoài đủ đầy, song phần cốt lõi lại bị hạn chế khi cái “mật mã nghệ thuật” nếu bị dàn trải sẽ không trở thành điểm độc sáng. Như để bù đắp lại, tác giả đã tạo nên những “cú đấm nghệ thuật” gây ấn tượng hơn khi đi vào những “ca” cụ thể. Hoạt năng, sinh động, thậm chí có thể nói là bắt mắt của kiểu viết này phải kể đến bài phê bình Dấu ấn Phật giáo trong tiểu thuyết Câu chuyện của Nàng Thê (của Võ Thị Xuân Hà). Cuốn tiểu thuyết này tôi đã đọc và có bài viết đăng trên báo Văn nghệ (2022).
Trong bài viết của mình tôi cũng đã chạm đến vấn đề cảm thức tôn giáo (nhưng không dùng khái niệm “Phật tính”) của nhà văn khi viết tác phẩm này trong hình thức thần thực. Cách thẩm định tác phẩm của Hoàng Kim Ngọc khá thuyết phục: “Có thể nói, tác phẩm Câu chuyện của Nàng Thê đã cho người đọc tiếp cận với quan niệm của đạo Phật một cách rất tự nhiên, sinh động, sâu sắc. Đó là quan niệm về “duyên nợ”, “luân hồi”, “giải thoát”. Ngôn ngữ, hình ảnh trong tiểu thuyết này mang cảm quan của tinh thần thiền, đó là tự mình hướng tới cõi an yên trong tâm trí, hủy diệt cái Bi để kiến tạo cái Đẹp”.
Đi theo hướng tiếp cận đối tượng từ cảm thức tôn giáo, tác giả đã chạm đến Tín ngưỡng tâm linh trong tryện ngắn Y Ban, Tinh thần thiền và một số biểu tượng trong trường ca “Cúc” (của NSND Hoàng Cúc), Theo dòng “Nhật ký người xem đồng hồ” của Nguyễn Quang Thiều, Hạnh phúc và quan niệm hạnh phúc vủa “Than đỏ dưới tro tàn” (của Đỗ Bích Thúy). Theo tôi là một chùm bài tốt, nổi bật ấn tượng vì nó liên kết bền chắc bằng sợi chỉ đỏ của tác phẩm – viết từ cảm thức tôn giáo.

Lối viết gây hấn
Nhiều người trong văn giới công nhận sự mới mẻ, cập thời vũ, táo bạo với sự xuất hiện gần đây và lối viết của Hoàng Kim Ngọc. Như ai đó nhận xét, người này cứ thế bước ào vào văn chương. Tôi thì gọi lối viết của Hoàng Kim Ngọc là lối viết gây hấn, tạo cảm xúc cao trào khen, chê. Ở trên, như cách viết của tôi phần nhiều nghiêng về cổ súy tác giả. Nhưng khi bàn về “lối viết gây hấn” của Hoàng Kim Ngọc thì rõ ràng là vừa khen, vừa ngập ngừng. Vì sao?!
Tôi không nghĩ, tác giả đã quá phóng bút khi so sánh (mọi so sánh đều có thể khập khiễng) chó và người trong bài viết cuốn hút người đọc vì sự riết róng Những con chó mang phẩm chất người... (đã đăng báo chí trước khi đưa vào sách). Bài này khuôn vào hình tượng chó trong truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ. Không riêng tôi cứ vân vi sau khi đọc những tiểu đề như “Chó đã được nhân hóa với tư cách người và phẩm chất người”.
Ở đây, thiết nghĩ, thuộc về cách diễn đạt nhiều ngụ ý một triết lý dân gian “Cứu vật, vật trả ơn”. Tôi đã đọc kỹ truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ, cũng đã có bài viết đăng báo Văn nghệ (2018). Nhưng tôi không dùng cách thể hiện quyết liệt (sát sàn sạt) như Hoàng Kim Ngọc khi nói về chó với ý nghĩa là một “nhân vật”. Vì thế mà những kiến giải của tác giả khi đọc không tránh khỏi tranh luận: “Ông đã xây dựng những tình huống điển hình để chó không còn là loài vật nuôi mà đã được nâng lên thành tư cách người, phẩm chất người với những hành động việc làm thật đáng trân trọng”. Ai đó nhận xét đây là lối viết phá cách, táo bạo; tuy nhiên cũng không ít người lại nghiêng thích về sự chừng mực, nền nã. Thôi thì, “nhân tâm tùy mạng mỡ”, như cổ nhân răn bảo.
Lời kết
Duyên khởi đến cõi văn không phải là sự toàn bích. Tất nhiên. Nhưng khách quan và công bằng, theo tôi, làm ló rạng một cá tính phê bình (tôi không dùng hai chữ “phong cách” hào phóng và vô tư như tác giả thường hay sử dụng). Dường như Hoàng Kim Ngọc là một hỏa diệm sơn lúc nào cũng chực phun trào. Nhờ cái duyên khởi mà sinh thành duyên văn. So với những tập tiểu luận – phê bình trước đây của Hoàng Kim Ngọc, thì Duyên khởi đến cõi văn là một bước đột phá, ghi dấu ấn trong niềm đam mê chữ của một cây bút đang lên.
Hà Nội, 5.2026
BÙI VIỆT THẮNG
- Triển lãm “Quốc hội Việt Nam – Hành trình 80 năm xây dựng và phát triển”
- Đạo đức xuống cấp & tinh thần đạo nghĩa Lang Liêu
- Nhà thơ Hoàng Cát – người coi thơ là đặc sản của tâm hồn
- 1.300 năm trước, sự cai trị xã hội từng thuộc về nữ giới?
- Cải lương Tây Đô làm vở Người mẹ và thanh gươm của nhà thơ Phan Vũ















