Vanvn- Trong sáng tạo văn học nghệ thuật, tính cá thể hóa lại càng quan trọng, vì đó là cái nhìn nghệ thuật thế giới và cách thể hiện nó theo một nhãn quan rất riêng tư, đó là những cá tính sáng tạo quyết định sự phát triển văn học nghệ thuật của mọi thời đại, mọi dân tộc, mọi thế hệ. Người ta nói, mục đích biện hộ cho phương tiện, là có cái lý cái tình và ngụ ý sâu xa của nó.

1. Gần đây tôi đã đọc và có ấn tượng Hà Vinh Tâm trên báo chí trung ương và địa phương trước khi gặp tác giả. Cứ nghĩ, con người miệng nói tay làm, đầu óc chật căng ý tưởng này hẳn rất nồng nã, ăn sóng nói gió, lúc nào cũng như một hỏa diệm sơn, chỉ chực phun trào, phát hỏa năng lượng dư thừa thành con chữ sục sôi. Gặp thì cảm nhận thêm sự nền nã, tinh tế, đằm thắm trong cách sống và viết. Ai biết Hà Vinh Tâm cũng công nhận cái nhiệt hứng bừng bừng nghề dạy học, đã đành; lại cũng nhận ra ở cô giáo dạy Văn này một tình yêu văn chương như thuộc về bản năng, bản tính, bản nguyên, và quan trọng hơn cả là bàn lĩnh; biết cách yêu và biết cách nuôi dưỡng, duy trì, vun xới, phát động, nhân lên, lan tỏa, phát huy tối đa hiệu năng – hiệu lực – hiệu quả sức mạnh của chữ nghĩa.
Ở chị, công việc dạy môn Văn trong nhà trường phổ thông luôn gắn với hoạt động văn chương ngoài xã hội. Nói các khác, Hà Vinh Tâm là một ví dụ điển hình của ý thức và khát vọng nhuần thấm sống với văn chương cùng thời. Viết là biểu hiện của một tư duy mẫn tiệp và mạnh mẽ, song viết dồi dào cảm xúc lại không phải là độc quyền của bất kỳ ngòi bút nào trong lĩnh vực lý luận, phê bình. Phẩm chất đầu có được do rèn luyện, tu dưỡng, tích lũy, nạp vào, là hàm lượng văn hóa; phẩm chất sau là trời phú, bản năng, năng lực trực giác bẩm sinh. Một ngòi bút nếu chan hòa được cả hai phẩm chất trên sẽ luôn dồi dào triển vọng. Tôi nghĩ, Hà Vinh Tâm thuộc số không nhiều này.
Tính từ bài đầu tiên trình làng văn (viết năm 2003 với bài tản văn Mưa xuân quê hương, Tạp chí Văn học và tuổi trẻ, số 2 năm 2003 đến 2026, Hà Vinh Tâm đã xuất bản hơn 30 tác phẩm (hơn 25 cuốn in chung, in riêng 2 tập thơ, 1 tản văn và 2 tập tiểu luận- phê bình văn học đáng đọc). Tôi đặc biệt quan tâm tới phần “riêng” của Hà Vinh Tâm, lại càng quan tâm tới phần phê bình văn học (bài viết đầu tiên Chữ tình và nàng Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du tham gia Hội thảo 240 năm sinh Nguyễn Du, ngày 1.12.2005, tại Hà Nội và được in trong Nghiên cứu Truyện Kiều những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2009, tr.657- 662). Một công việc khó khăn ngay cả với nam giới, huống hồ là nữ nhi thường tình. Nhưng có lẽ, Hà Vinh Tâm thuộc số nữ nhi… không thường tình.

2. Bốn mươi hai (42) tiểu luận – phê bình được đưa vào hai tập sách Ẩn số của ngôn từ (15 bài, in 2020) và Đánh thức mã gen văn học từ góc nhìn thể loại (27 bài, in 2026), là một tập hợp có tính chủ đích rõ ràng, cố kết, nói cách khác là có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, xuyên thấm cả hai tác phẩm – nhằm truy tìm “Ẩn số của ngôn từ” và “Đánh thức mã gen văn học” của bất kỳ tác phẩm văn chương nào được tiếp nhận.
Có người nhận xét, tác giả dường như đặt ra mục tiêu quá lớn, nhiều tham vọng vốn đã được nhiều thế hệ phê bình văn học coi là phương châm, động lực viết khi nỗ lực đi tìm “mã văn hóa” của văn chương. Nếu như Hà Vinh Tâm, tôi nghĩ, có đặt ra mục tiêu lớn và có thạm vọng, thì càng tốt, đáng khuyến khích, vì nếu mất thì không mất gì, nhưng được là được tất cả. Vả lại “không thành công cũng thành nhân”, như tiền nhân răn dạy.
Tìm “Ẩn số của ngôn từ” (ý tại ngôn ngoại) đã khó, càng khó hơn khi “Đánh thức mã gen văn học từ góc nhìn thể loại” (hiểu là “mã văn hóa” của văn học). Nhưng tôi khâm phục tinh thần dũng cảm, dám nghĩ dám làm của tác giả. Tôi hình dung, Hà Vinh Tâm khác nào một người miền sơn cước cất công đi tìm trầm (ngậm ngải tìm trầm). Tâm thế và hành động vì chữ nghĩa thật rõ ràng và dứt khoát.
Nói “Ẩn số của ngôn từ” và nói “Đánh thức mã gen văn học” nghe có vẻ to tát, nhưng suy đến cùng là tìm ra, chỉ ra cái hồn cốt, chân tủy (mã văn hóa) của câu chữ, cấu trúc của hình tượng và giọng điệu, nhịp điệu ngôn từ. Nếu như, Hà Vinh Tâm trong thực hành viết đã chạm được vào những phương diện quan trọng nói trên, thì hẳn khúc xạ và độc sáng qua những bài viết về văn chương, nhà văn cùng thời từ Trần Hữu Thung, Hữu Thỉnh, Chu Lai, Phan Thế Phiệt, Nguyễn Duy, Nguyễn Ngọc Tiến, Lê Thành Nghị, Võ Minh, Nguyễn Thị Phước, Phan Hoàng, Vũ Thanh Lịch, Lê Hồ Quang, Kim Hòa…
Những bài viết kiểu này găm lại được trong óc người đọc vì trước hết là sự đồng điệu, đồng cảm. Nói cách khác, theo tôi, Hà Vinh Tâm viết về những gì đang sinh sôi, sinh thành của văn chương linh hoạt và sinh động hơn viết về những gì đã trở thành cổ điển, mặc nhiên công nhận. Theo cách nói của nhà bác học Nga M. Bakhtin thì chỉ có những kẻ biến đổi mới hòng hiểu được sự biến đổi.
Trong Y học hiện đại thế giới đang có xu hướng phát triển “Y học cá thể”, hiểu là chuyển hướng điều trị bệnh theo “bàn đồ gen” của từng cá nhân, đây là một dự án xuyên quốc gia, tầm nhân loại vì có đến 8 tỷ người thì có 8 tỷ vân tay và “gen” khác nhau. Tương tự, trong Giáo dục hiện đại, các nhà hoạch định chính sách cũng có xu hướng nương theo định hướng, đường lối “Giáo dục cá thể”. Nghĩa là lấy học sinh làm nhân vật trung tâm của việc dạy và học trong nhà trường theo tinh thần nhân văn, dân chủ, khai phóng, phát huy tối đa năng lực, sở trường của mỗi cá nhân mỗi một học sinh như một cá thể chủ động, một giá trị không lặp lai. Nhưng đó là đứng từ phương diện lý tưởng, tương lai mà nói. Hiện chúng ta có khoảng 19 triệu học sinh phổ thông các cấp (từ Tiểu học đến THPT) thì chiến lược “Giáo dục cá thể” không hề dễ dáng, cần thời gian, công sức và tiềm lực kinh tế hùng mạnh. Nói cách khác, cần một cuộc cách mạng trong lĩnh vực giáo dục.
Trong sáng tạo văn học nghệ thuật, tính cá thể hóa lại càng quan trọng, vì đó là cái nhìn nghệ thuật thế giới và cách thể hiện nó theo một nhãn quan rất riêng tư, đó là những cá tính sáng tạo quyết định sự phát triển văn học nghệ thuật của mọi thời đại, mọi dân tộc, mọi thế hệ. Người ta nói, mục đích biện hộ cho phương tiện, là có cái lý cái tình và ngụ ý sâu xa của nó. Mục đích của tác giả là “Đánh thức mã gen văn học” được hiện thực hóa trong những tiểu luận về nghề dạy học, cụ thể là môn Văn, một trong ba môn học quan trọng của bậc phổ thông (Toán – Văn – Ngoại ngữ). Từ căn cứ này, tôi quan tâm đọc và đánh giá cao phần viết thứ hai “Gợi mở cách đánh thức mã gen văn học trong chương trình ngữ văn hiện nay” (in trong Đánh thức mã gen văn học từ góc nhìn thể loại).
Có thể coi là sự đúc kết bước đầu về phương pháp đánh thức mã gen văn học trong dạy học Ngữ văn ở Chương trình giáo dục phổ thông 2018 qua 5 giải pháp cơ bản sau:
1/ Kiến tạo không gian đối thoại liên ngành và xuyên thế hệ (hiểu là chuyển từ độc thoại sang đối thoại – chữ in nghiêng do tôi nhấn mạnh – BVT);
2/ Tổ chức hoạt động dạy học trải nghiệm và sân khấu hóa (hiểu là quan tâm tới học và hành);
3/ Ứng dụng công nghệ và chuyển đổi công nghệ, chuyển đổi số trong sáng tạo văn học (hiểu là tinh thần cập nhật thực tiễn);
4/ Nâng cao tư duy phản biện và truy vấn những vấn đề nhân sinh (hiểu là đòi hỏi cao với đối tượng học Văn bậc phổ thông);
5/ Phát huy vai trò truyền cảm hứng của người giáo viên – “Nghệ sĩ” trình diễn và truyền lửa (hiểu là vai trò dẫn dắt của giáo viên).
Đọc xong tiểu luận này, tôi nghĩ, liệu có bao nhiêu phần trăm giáo viên dạy môn Văn ngay ở bậc đại học, chưa nói đến bậc phổ thông, có thể thấm nhuần và thực hành được trong nghề nghiệp hiện nay?! Nói thẳng ra đây là một cuộc vượt vũ môn gian nan kéo dài trong nhiều năm qua của ngành giáo dục ở ta, dẫu biết rằng “Đánh thức mã gen văn học” trong học sinh không phải một ý tưởng, một giải pháp đơn thuần mà là một yêu cầu tự thân và cấp bách của dạy học Ngữ văn trong bối cảnh mới” như khẳng định của tác giả.
Tiểu luận công phu này cũng làm phát lộ tinh thần đón đợi lý thuyết tiếp nhận nghệ thuật làm cốt lõi – nguyên tắc “đồng sáng tạo” giữa chủ thể sáng tạo (nhà văn) người truyền dẫn sáng tạo (giáo viên) và người tiếp nhận sáng tạo (học sinh – độc giả). Phần viết này xác nhận tác giả đã đi những bước tự tin trên đường biên giữa khoa học giáo dục và cơ chế vận hành của việc dạy và học môn Văn trong nhà trường phổ thông với mục đich khai phóng – hình thành những nhân cách, phẩm cách mới trong một không gian văn hóa nhân văn, đồng thời xác tín nguyên lý văn chương có sứ mệnh “nhân đạo hóa” cuộc sống và con người thời dại.

3. Giới khoa học (Khoa học cơ bản hay Khoa học nhân văn) đều quan tâm tới “Tính hệ thống”, nói cách khác là “Tính biện chứng” của quá trình nghiên cứu. Tôi thực sự thích thú khi nhận ra Hà Vinh Tâm đã nhiệt hứng và nhẫn nại tiếp cận “Cách đọc hiểu và giải mã văn bản văn học từ góc nhìn thể loại” (Phần thứ nhất trong sách Đánh thức mã gen văn học từ góc nhìn thẻ loại).
Trong lĩnh vực văn học, “thể loại là nhân vật chính” theo quan điểm của M. Bakhtin. Vì thế, nghiên cứu văn học từ góc nhìn thể loại là một phương pháp hữu dụng và có thể đạt tới tối ưu cùng với các phương pháp khả thủ khác như lịch sử – xã hội, loại hình, cấu trúc… Tác giả đã nương theo đặc trưng thẩm mỹ của các thể loại thơ, truyện thơ, trường ca, ký, truyền kỳ, truyện ngắn, tiểu thuyết để giải mã các văn bản văn học. Dĩ nhiên, Hà Vinh Tâm không phải là người phát kiến, lập thuyết mà chỉ là người vận dụng sáng tạo, điều này hẳn chúng ta còn rất thiếu vắng nên cần thiết bổ sung, bù đắp kịp thời. Nếu được như thế, cũng đã là thành công bước đầu.
Đọc Hà Vinh Tâm, tôi mường tượng mình đang ở trong một khu vườn xanh tốt, không phải nhờ sự hiện diện của nhiều cây cổ thụ tỏa rợp bóng mà nhờ vào nhiều giống cây non tơ, mới lạ, bắt mắt, ấn tượng gần gũi bởi các bài viết có năng lực bắt nhịp đời sống văn chương qua thơ Hữu Thỉnh (Câu hò xứ Thanh), Nguyễn Duy (Đò Lèn), tạp văn về Hà Nội của Nguyễn Ngọc Tiến (tiêu biểu Đi ngang Hà Nội, Đi dọc Hà Nội), thơ Phan Hoàng (Bước gió truyền kỳ), thơ Nguyễn Thị Phước (Nối đêm), truyện ngắn Vũ Thanh Lịch (Người đàn bà hát gọi mặt trời); về phê bình Lê Thành Nghị (Khoảng giữa những giọt sương), phê bình Lê Hồ Quang (Âm thanh của tưởng tượng); về tiểu thuyết Chu Lai (Mưa đỏ), tiểu thuyết Võ Minh (Lốc xoáy), truyện ngắn Nguyễn Thị Kim Hòa (Giấc mơ đá vỡ)…
Cách viết và thành công của Hà Vinh Tâm là tạo sinh những mầm, những nụ, những hoa, những quả đầu mùa đang vào độ chín nhưng đã kịp cùng lúc ửng hồng trong khu vườn văn được chăm sóc kỹ càng và công phu của mình gây dựng nên.
BÙI VIỆT THẮNG















