Khi ký ức được viết bằng ánh sáng – Tiểu luận Hoàng Đăng Khoa

Vanvn- Tiến sĩ Nguyễn Hoàng (bút danh Hoàng Nguyên) sinh năm 1959 tại Hà Nội; Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội. Tác phẩm thơ đã xuất bản: “Hoa trạng nguyên” (Nxb Hội Nhà văn, 2021); “Bút mực” (Nxb Hội Nhà văn, 2023); “Mưa bụi” (Nxb Hội Nhà văn, 2024); “Những hoàng hôn” (Nxb Hội Nhà văn, 2025).

Tiến sĩ Nguyễn Hoàng bút danh Hoàng Nguyên

Nhan đề “Những hoàng hôn” đã là một tuyên ngôn nghệ thuật: không phải chỉ nói về thời khắc trong ngày, mà là về một “trạng thái tinh thần”. Con người, sau bao trải nghiệm, dừng lại giữa ranh giới giữa sáng và tối, để soi ngẫm chính mình, soi ngẫm thế giới mà mình đã đi qua. “Những hoàng hôn”, trong tập thơ này, không buồn tê tái ủy mị theo kiểu “nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng” như tâm cảnh của nàng Kiều, mà chỉ là những khoảng lặng tâm hồn. “Những hoàng hôn”, trong đây, cũng không phải là dấu chấm hết, mà là một độ lùi cần thiết để ngọn nhìn hướng tới tương lai có thể sâu hơn xa hơn. Cái nhìn của thi tập, vì thế, là cái nhìn của người từng trải, lịch duyệt văn hoá, biết yêu và biết chấp nhận “chết trong lòng một ít” (mượn chữ của Xuân Diệu), biết trì níu và biết buông bỏ.

Từ bài thơ mở đầu đến bài thơ cuối cùng, “Những hoàng hôn” dựng nên một bản đồ cảm xúc phức hợp, ở đó thời gian và không gian không đơn tuyến mà đan xen, xoắn bện, chuyển hóa. Cái “hoàng hôn” ở Bản Sen, ở Hoàng Liên, ở Hồ Gươm hay ở một ký ức giao thừa nào đó đều là những sắc độ khác nhau của cùng một tâm thế: người lính – người con – người thơ – người tình – người trở về. Đó không phải là những hoàng hôn ngẫu nhiên, mà là những hoàng hôn đã được chứng nghiệm, được ghi lòng tạc dạ, được “vật chất hoá” bằng thi ca.

Tập thơ gây ấn tượng trước hết bởi giọng điệu tự nhiên chân thành. Không bi lụy, cũng không tráng ca. “Tôi vẫn nhớ những hoàng hôn vắng lặng/ Ngồi nhớ nhà dưới bóng mấy khóm tre” (Những hoàng hôn). Cái nhớ ấy là tiếng vọng của thời gian, của một kẻ phong trần lãng tử đang hồi cố một không gian khuất bóng. Ký ức luôn là nhiên liệu của sống, của thơ.

“Những hoàng hôn”, tập thơ của Hoàng Nguyên

“Những hoàng hôn” được kết cấu như một hành trình, từ đồng bằng ra biên giới, từ phố về bản, từ hiện tại về quá khứ… Ở đó, người đọc thú vị khi bắt gặp những bài thơ về đời lính biên thuỳ: “Một cành lau”, “Mưa Bản Sen”, “Lửa cháy trời biên”, “Đêm Noel của lính”… Những bài thơ này không phải tái hiện hiện thực chiến tranh bằng âm vang sử thi, mà chỉ lắng ghi âm vọng chiến tranh bằng chi tiết đời sống, bằng cái nhìn gần gũi của người trực chiến. Phía sau lớp chữ nghĩa của “Một cành lau” là một tinh thần tự nguyện dấn thân, một thứ lý tưởng được hun đúc, chưng cất qua dòng lịch sử. Trong “Mưa Bản Sen”, âm thanh của mưa không chỉ là nhạc nền cho nỗi cô đơn, mà còn là hồi ức về những năm tháng gian khổ mà đong đầy thương nhớ. Còn “Lửa cháy trời biên” là một bức tranh nhiệt độ, nơi đó ngọn lửa vừa sưởi ấm vừa giữ niềm tin, như một biểu tượng cho khát vọng miên viễn của con người.

Giọng thơ người lính trong “Những hoàng hôn” không chỉ dừng ở những bài “về lính”, mà còn thấm sang những bài tình, bài về quê, về thành phố…, thành một thứ khí quyển sánh quyện của thi tập. Bởi trong quan niệm của tác giả, người lính cũng là người tình, là người con, là người công dân, là kẻ vừa mơ mộng vừa mộng mị giữa đất nước thời của mình. Khi viết về Hà Nội, về Hồ Gươm, những câu thơ mang một niềm xúc động khó giấu. Hà Nội hiện lên như một biểu tượng của ký ức mà tâm thức luôn hướng về như một miền hương cố. “Đi gùi nước Hồ Gươm” trong bài “Chiều mơ” là một thi ảnh độc đáo: “Đem được Hồ Gươm về đây nhỉ/ Thiếu nước ba lô lính đi gùi”. Thi sĩ không chỉ nhớ cảnh, mà còn muốn “mang theo” cả cảnh ấy, như thể gùi về một phần linh hồn của thành phố quê hương.

Chất dân gian, hiện thực đời thường trong tập thơ được xử lý bằng ngôn ngữ bình dị nhưng tinh tế. Hoàng Nguyên từ chối “bóp méo ngôn ngữ hàng ngày một cách nghệ thuật” theo cách Thuỵ Khuê định nghĩa thơ. Bởi anh tin vào sức mạnh vẻ đẹp của cái chân mộc. Những hình ảnh như “bếp lửa”, “điếu cày”, “quà quê”, “bát nước mưa”… xuất hiện trong nhiều bài, là thứ ngôn từ làm ấm lại những khoảng cách, là sợi dây kéo người đọc về gần hơn với đời sống thực.

Thi tập dành dung lượng thích hợp để dung chứa một mảng trữ tình sâu lắng: tình yêu và hoa. Hoa ở đây là biểu tượng của cái đẹp, đồng thời là ký hiệu, là mật ngữ của ký ức. Mùi hương trong “Hoa ngọc lan” trở thành mùi hoài niệm, mùi mất mát, và đến lượt thơ nhờ dưỡng chất ấy mà sinh sôi. Cấu trúc tuần hoàn, “chuyển hoá bảo toàn năng lượng” ấy vốn quen thuộc trong thi ca, nhưng ở thơ Hoàng Nguyên nó mang sắc thái riêng: nhẹ nhàng, trong trẻo, và nghiêng về suy tưởng.

Đi sâu hơn vào thi giới “Những hoàng hôn”, lại thấy hoa và hoàng hôn là hai mô-típ lặp lại và soi chiếu lẫn nhau. Hoa là ánh sáng ban ngày còn sót lại; hoàng hôn là bóng tối đang nuốt dần thứ ánh sáng ấy. Một bên là khởi đầu, một bên là kết thúc; nhưng cả hai, trong thế giới thơ này, đều là khoảnh khắc giao thoa: đời sống và cái đẹp tương phùng để kịp lưu dấu. Vì thế, tập thơ vừa phảng phất u hoài, vừa rạng rỡ. Nó như một khu vườn cuối chiều, trong đó mọi thứ đang chuyển sắc mà vẫn nguyên hương.

Tập thơ cũng cho thấy ý thức rõ rệt về thời gian. Các bài đều ghi năm, ghi địa danh, như một kiểu nhật ký thơ. Điều ấy cho thấy “Những hoàng hôn” không phải là một tuyển tập ngẫu nhiên, mà là một “bảo tàng cảm xúc”. Mỗi bài như một hiện vật, một chứng tích, một mẩu ký ức được lưu giữ với đầy đủ thông tin: nơi chốn, thời gian, hoàn cảnh. Có thể xem đây là một thái độ “tư liệu hóa cảm xúc”, một cách gìn giữ cái riêng tư bằng chứng từ công khai. Người đọc vì thế có thể đọc tập thơ như đọc một cuốn biên niên – một “lịch hoàng hôn” của một đời người.

Tầng dưới những bài thơ về hoàng hôn, người đọc nhận ra một chiều sâu tâm linh. Trong “Giao thừa lính” chẳng hạn, giữa khung cảnh biên giới, người lính thắp nén hương nhỏ mà lòng sáng lên. Với ý nghĩa này, “Những hoàng hôn” còn là thơ của tạ ơn, của đốn ngộ, của nỗ lực chiu chắt gìn giữ thiên lương giữa ba đào thế cuộc.

Nhà LLPB Hoàng Đăng Khoa, tác giả bài viết

Từ góc nhìn thi pháp, tập thơ của Hoàng Nguyên là sự hòa giải giữa hai cực: cá nhân và cộng đồng. Cái “tôi” của người viết luôn đặt trong mối tương liên tương thông với cái “ta” của thế hệ, của quê hương, của đất nước. Khi nói về mình, anh cũng đang nói về người khác. Khi viết về người khác, anh lại soi thấy mình. Vì thế, những bài thơ trong tập không chỉ kể chuyện một người lính vùng biên, hay một người Hà Nội cụ thể, mà còn là lời tự sự chung của cả một lớp người.

“Những hoàng hôn”, vì vậy, là một tấm bản đồ tinh thần, trên đó quá khứ và hiện tại, chiến tranh và hòa bình, thành phố và thôn bản, tình yêu và lý tưởng… cùng hiện diện trong một trường nhìn nhất quán. Người đọc sẽ tìm thấy ở đây không chỉ những cảnh đời thuộc về “thời xa vắng”, mà còn cả chính mình của hiện tại, trong cái run rẩy của hoàng hôn, trong mùi hương của hoa ngọc lan, trong tâm thế của một người vừa sống vừa yêu, vừa đi vừa ngoái lại.

Đi hết tập thơ, ta như vừa đi qua một cuộc trở về. Bên ta văng vẳng tiếng thở của đất trời ải Bắc, của hoa đăng Hà thành, của muôn mặt đời thường lưu thủy hành vân, và hơn hết là của một người thơ đa mang đa cảm, luôn hướng về ánh sáng của lòng nhân, lòng trung. Nếu có thể gọi tên tinh thần của tập thơ bằng một câu, có lẽ đó là: Những hoàng hôn được viết bằng ánh sáng.

HOÀNG ĐĂNG KHOA

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *