Một đời vấn vương mùi hương ký ức – Tản văn của Tặng Vũ 

Vanvn- Chỉ một tiếng hô: “Mưa…” được phát ra, không kể già trẻ gái trai, hàng xóm ùa ra, người chổi, người cào, người quét phụ giúp nhau. Không khí khẩn trương, náo động hơn cả lễ hội sân đình đầu năm. Bà tôi móm mém nhai trầu ôn tồn: “Đói cho sạch, rách cho thơm con ạ! Mình nghèo vật chất nhưng dạ mình trong sạch, tình nghĩa xóm làng nương tựa nhau mà sống, đâu có bỏ được đâu con!”

Nhà văn Tặng Vũ 

Chiều phai nắng. Phía chân trời buông hoàng hôn ráng đỏ, giọt nắng cuối ngày hanh hao rơi lọt thỏm vào khoảng không vô định, từng đám mây lững lờ, lác đác như kẻ bộ hành độc bước trên lộ trình dài xa xăm mà chưa thấy điểm dừng chân an trú. Tôi bon bon trên con xe chiến mã đã đồng hành suốt những tháng ngày rong ruổi trên hành trình tha phương, gửi phận mình nơi miền đất hứa.

Chiếc xe máy vẫn thân quen, con đường đi cũng thân thuộc. Bất giác, làn gió nhè nhẹ thổi qua chân tóc khẽ đưa mùi hương ngòn ngọt vuốt ve mơn man da mặt rồi quyện tròn vào sống mũi đánh thức miền ký ức từ thuở nào khiến tôi chậm lại ngẩn ngơ mùi hương rơm mới của cánh đồng lúa đương vào vụ gặt lúc ánh chiều tà, mùi ký ức phảng phất nơi miền cố hương.

Những ai sinh ra từ miền quê nghèo, trải qua tuổi thơ cơ cực chắc hẳn không thể quên mùi hương dịu ngọt này. Mùi của hạnh phúc tròn đầy hay lưng tròng ngấn lệ đã ám ảnh bao kiếm người tha hương. Tôi luôn thầm cảm ơn tuổi thơ đầy ắp những buồn vui đã dìu dắt nâng bước vào đời. Cũng bởi con người ta sống trên đời, không có ký ức, không có hoài niệm sẽ tẻ nhạt và hẩm hiu biết chừng nào?

Quê hương tôi là miền đất lúa chiêm trũng thẳng cánh cò bay. Mái chùa, sân đình, cây đa, giếng nước, con đê xanh thắm xanh màu hiện lên mồn một như ca dao, như tục ngữ trong lời hát ru của bà, của mẹ. Dòng sông Hóa hiền hòa như dải lụa mềm nặng đỏ phù sa uốn lượn bên lở bên bồi ôm ấp lấy miền quê đậm đà tình nghĩa. Nước trên sông có khi thay đổi từng dòng, còn lòng chung thủy sắt son chân chất của người dân quê lúa khó có thể nào đổi thay.

Gốc đa trên con đê đầu làng chứng kiến bao cuộc chuyển mình, trở dạ của làng quê – nơi gửi gắm bao trầm tích của xóm làng, bao hỷ nộ ái ố để rồi tái sinh ra muôn vàn điểm tựa cho kẻ lữ thứ đau đáu nhớ về.

Hình ảnh người nông dân chân chất quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” cần mẫn cấy hái chăm bẵm 2 vụ lúa để sản sinh ra hạt ngọc trời đã từng ghi dấu “quê hương chị hai 5 tấn” được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen năm 1965, khi năng suất lúa của tỉnh Thái Bình đạt 5 tấn/ha, đánh dấu mốc lịch sử về năng suất lúa của miền Bắc. Tên gọi đó đã đi vào thơ ca như một minh chứng sinh động của hậu phương vững chắc và trở thành biểu tượng cho những người phụ nữ anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang của vùng quê lúa, những người đã góp phần quan trọng vào sản xuất nông nghiệp, cung cấp lương thực cho cả nước, đặc biệt trong giai đoạn chiến tranh.

Quay gót tuổi thơ về những ngày mùa, làng xóm tôi luôn rộn ràng tiếng nói cười rôm rả. Cánh đồng lúa mới ngày nào còn xanh thời con gái, nay đã trải một màu vàng tươi của mùa màng bội thu. Khi mặt trời ngái ngủ phía đằng đông, làn sương sớm mỏng tang đọng trên bông lúa căng mẩy, con đường dẫn ra cánh đồng còn tờ mờ sáng.

Mẹ tôi và các bác gái đã quẩy đôi quang gánh cắt lúa từ độ nào. Chẳng mấy chốc từng hàng lúa được cắt ngọt, phơi mình trên cánh đồng. Bố tôi và các bác trai quanh xóm sau khi nhấp ngụm trà nóng dưới gốc đa và nhẩn nha điếu thuốc lào, thổi làn khói bồng bềnh vấn vít trên không trung và tan ra khi vạt nắng đầu ngày chiếu tới. Ấy cũng là lúc, những người đàn ông lực điền thủng thẳng xén từng hàng lúa đã cắt sẵn, cột lại thành từng bó to rồi khuân vác lên xe thồ. Thời tiết mưa thuận gió hòa nên được mùa, nụ cười hạnh phúc hiển hiện rõ trên từng khuôn mặt của những người nông dân.

Khi mấy đứa tôi ngủ nướng tỉnh giấc thì bố đã chở những chuyến xe lúa đầu tiên về nhà. Quệt giọt mồ hôi lăn dài xuống chiếc áo bạc màu ướt đẫm, bố mỉm cười lấy trong túi áo trước ngực những con muồm muỗm béo ú, núng nính bắt được khi xén lúa đưa cho tôi. Với đứa trẻ quê ngày đó, đây là một món ăn mà chẳng sơn hào hải vị nào sánh bằng. Đầu bếp nghiệp dư tại gia từ ấy mà khởi phát, tụi tôi lúi húi cầm bật lửa ra gốc rơm để nướng, mùi thơm tỏa ra khi muồm muỗm cháy sém kích thích thính giác. Đứa nào đứa ấy mắt lim dim, chúi mũi hít nấy hít nể, nuốt nước bọt ừng ực chờ thưởng thức.

Tin tôi đi! Vị ngọt thanh, ngầy ngậy khi cắn miếng muồm muỗm được nướng chín vàng, những dòng sữa ứa ra trong khoang miệng rồi nhồm nhoàm nhai sẽ khiến bạn muốn ăn hoài, ăn mãi. Có đận, thằng Tý hậu đậu nướng sao để cháy sém cả cây rơm, may mà chú Năm phát hiện dập tắt kịp. Mặt trời đứng bóng, bố mẹ đi gặt về nghe tin, như một điều tất yếu, mông thằng Tý nổi hằn cả mấy đường lươn. Trẻ con mà! Mau giận và cũng nhanh quên lắm. Mọi thứ thoảng nhanh như mưa bóng mây ngoài ngõ.

Những bó lúa đưa về được máy tuốt xình xịch cho ra những thúng thóc vàng óng, những đống rơm xác xơ tỏa ra vị dịu ngọt khiến ta hít hà không thôi. Cảm giác được nhảy lên đống rơm mới tuốt lúa mà tận hưởng mùi hương, cảm nhận độ êm ái hơn ga đệm trên giường là trò chơi tiêu khiển khiến mấy đứa nhỏ khó cầm lòng tay chân mà yên vị.

Tranh của họa sĩ Quỳnh Thơm

Tình làng quê nghĩa xóm tối lửa tắt đèn có nhau đâu chỉ thể hiện qua lời nói. Cái nghĩa ân tình đơn giản chỉ là những ngày mùa, hàng xóm chia nhau, nhà này xúm xít hộ nhà kia rồi ngược lại và công việc cấy hái, thu gặt dẫu vất vả cực nhọc, rồi đâu cũng vào đấy, nhẹ tựa lông hồng. Khoảng thời gian phơi thóc, chạy mưa thì càng thú vị hơn.

Trời đang chang chang nắng, bỗng mây đen từ đâu kéo đến. Chỉ một tiếng hô: “Mưa…” được phát ra, không kể già trẻ gái trai, hàng xóm ùa ra, người chổi, người cào, người quét phụ giúp nhau. Không khí khẩn trương, náo động hơn cả lễ hội sân đình đầu năm. Bà tôi móm mém nhai trầu ôn tồn: “Đói cho sạch, rách cho thơm con ạ! Mình nghèo vật chất nhưng dạ mình trong sạch, tình nghĩa xóm làng nương tựa nhau mà sống, đâu có bỏ được đâu con!”

Cuộc sống không phải lúc nào cũng màu hồng, và con đường đi đôi khi có gập ghềnh, trắc trở. Người dân quê tôi cũng vậy. Công việc cấy hái không phải lúc nào cũng thuận lợi. Có năm lúa trên đồng còn đang đỏ đuôi mà bão giông ào ào kéo tới quăng quật, thét gào rồi trút nước. Cánh đồng lúa đương đến độ thu hoạch không đủ sức chống chọi với mẹ thiên nhiên đổ ràn rạt, khắp cánh đồng chỉ còn lại biển nước lênh đênh trắng xóa đã giấu nhẹm đi sự hồi sinh từng tồn tại. Nuốt nước mắt vào trong, bà con trong xóm chẳng ai nói ai rằng ra đồng “cứu được những gì trong cái mất”. Lon gạo, mớ rau, con cá trong những ngày chống bão chia sớt cho nhau là động lực để mọi người vượt qua những ngày vần vũ.

Hình ảnh làng quê cứ dìu dặt kéo về lắng đọng trong tâm khảm của một kẻ quá giang nơi viễn xứ. Bất chợt đấy! Nhưng ấm áp biết chừng nào! Mùi hương ký ức không chỉ là mùi thơm của rơm mới, vị ngọt thanh của thức quà quê kiểng, cái dại dột của tuổi ấu thơ, mà là tình nghĩa xóm làng đã ngấm vào trong tiềm thức như hơi thở của cuộc sống.

Ánh đèn đường đô thị bật sáng, tiếng còi xe ô tô tải của thương lái thu mua lúa thóc cho tôi quay trở về thực tại. Hành trình lại bắt đầu, cất gói ký ức cũ càng giữ vào một khoảng trong tim để làm hành trang bước tiếp.

Đâu ai xa xứ mà không nhớ quê nhà. Đâu ai khắc khoải mà không tìm về nhớ thương. Đâu ai vấn vương mà không cảm thương kỷ niệm.

Thương! Thương hoài, thương mãi miền quê!

TẶNG VŨ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *