Vanvn- Ai rồi cũng đi qua kiếp người với cách của riêng mình. Có người đó là cuộc rong chơi, có người lại là cuộc vật vã và có người thì như chiếc lá vàng rơi… Còn nhà thơ Hoa Níp đi qua kiếp người giống như một vệt sao băng mang theo bao điều dang dở.
Sự tiếc thương chia sẻ của nhiều người, đặc biệt là những tấm lòng của bạn hữu văn nghệ sĩ dành cho Hoa Níp dường như vượt qua khuôn khổ đời thường. Có lẽ chính sự thấu cảm đó đã giúp cho Hoa Nip phục sinh và gia đình chúng tôi vượt qua được nỗi đau kinh hoàng điên dại.
Nhân dịp tròn 10 năm Hoa Níp đi xa, tôi là Trần Vinh thân sinh của cố thi sĩ Hoa Níp, xin có những giải bày chia sẻ cùng mọi người.

Trần Quang Minh Giảng và bút danh Hoa Níp
Vợ chồng tôi đều là giáo viên dạy văn nên đặt tên con trai đầu lòng là Minh Giảng. Từ năm học lớp 2, Minh Giảng đã biết làm thơ. Lên lớp 3 Minh Giảng từng có thơ đăng báo và có tiền nhuận bút để khao cả nhà. Học đến cấp 2 Minh Giảng tiếp tục làm thơ với bút danh là Phong Khê. Thơ của Phong Khê lúc đó được nhận xét là “rất già dặn”, có những bài nặng trĩu suy tư.
Khi vào Đại học ở thành phố Hồ Chí Minh, Trần Quang Minh Giảng bắt đầu lấy bút danh là Hoa Nip. Nhà thơ Hoa Níp vốn vô cùng đam mê những điều mới lạ, rất thích tìm hiểu về nước Mỹ, nước Anh qua sách báo phim ảnh. Vì đam mê nên Hoa Níp đã lấy tên truyện ngắn “Nàng là nước Mỹ” đặt tên cho bản thảo tập truyện ngắn. Hai tiếng “nước Mỹ” trở thành một tính từ để nói về những giá trị muốn vươn tới. Đối với nước Anh, Hoa Níp cũng thường xuyên tìm đọc và xem những bộ phim của điện ảnh xứ sở sương mù. Mê đến nỗi Hoa Níp đã viết bản thảo tiểu thuyết “Rốc Shakespeare”.
Tuy nhiên, vùng đất xa lạ mà Hoa Níp say đắm nhất chính là “Lục địa đen” nơi có con sông Nile dài nhất thế giới chảy qua. Từ tình yêu và niềm tin mãnh liệt về dòng sông Nile, Hoa Níp tin rằng không có dòng sông Nile sẽ không có nền văn minh Ai Cập cổ đại và cả vùng sa mạc Sahara chỉ là hoang mạc không bóng người. Chính vì vậy mà đất nước Ai Cập có biệt danh “Món quà của sông Nile”. Cảm xúc về hoang mạc – sông Nile – Ai Cập đã mê hoặc Hoa Níp.
Sông Nile giúp cho hoang mạc nở hoa. Sông Nile sản sinh ra nền văn minh Ai Cập. Sông Nile là con đường kết nối giữa thực tại với thế giới bên kia nơi có “Cánh đồng lau sậy” – thiên đường cho sự tái sinh. Trong cảm xúc mê hoặc đó, bút danh Hoa Níp đã ra đời. “Hoa” là ba chữ cái đầu của từ “hoang mạc” và cũng có nghĩa bóng là dòng sông nở hoa trên hoang mạc. “Ni” là hai chữ cái đầu của sông Nile, ghép với chữ “p” cuối của Ai Cập thành ra chữ “HOA NIP”. Bút danh này lúc đầu chỉ là “Hoa Nip” nhưng về sau nhiều người tự thêm dấu sắc vào cho dễ đọc mới thành ra “Hoa Níp”.

Quan điểm văn chương của Hoa Níp
Có thể nói Hoa Níp chịu ảnh hưởng lớn nhất về quan điểm sáng tác và cách tân đổi mới văn chương cũng như nhân cách lối sống từ ba nhà thơ nhà văn nổi tiếng là Nguyễn Quang Thiều, Phan Hoàng và Trần Nhã Thuỵ.
Vào năm 2011 trước khi Hoa Níp đi dự Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII, tôi hỏi Hoa Níp:
– Con rất có năng khiếu cả thơ và văn xuôi. Vậy con muốn mình được gọi là nhà thơ hay nhà văn?
Con trai trả lời ngay:
– Nhà thơ bố ạ! Nhà thơ Hoa Níp!
– Vì sao?
– Vì nhiều thứ lắm bố ạ. Nói về nền tảng truyền thống thì từ thời vua Lê Thánh Tông đã có hội Tao Đàn rồi. Được trở thành nhà văn hay nhà thơ đều rất tuyệt vời, tuy nhiên con thích làm nhà thơ hơn là vì nhà thơ luôn được viết ra những cảm xúc, nỗi niềm của chính mình. Viết không có cảm xúc, không thật lòng thì không thành thơ được. Còn nhà văn thì thường tưởng tượng ra cảm xúc của nhân vật, của người khác để mà áp đặt. Người ta cho đó là quyền hư cấu. Con thấy bản chất của sáng tạo thơ và văn khác nhau nhiều lắm.
Khi đó tôi rất vui vì con trai đã có nhận thức rõ ràng để dấn thân vào thế giới thi ca. Và cũng từ hôm đó, tôi bắt đầu trân trọng gọi con trai của mình là “Nhà thơ Hoa Níp”!

Gia đình xoay chiều theo Hoa Níp
Bản thân tôi từ khi còn nhỏ cũng đã đam mê văn chương. Vợ chồng tôi lập thân bằng nghề dạy văn. Chúng tôi từng suy ngẫm về câu thơ xưa của thi sĩ Viên Mai: “Lập thân tối hạ thị văn chương” và cũng rất thấu hiểu câu thơ “Cơm áo không đùa với khách thơ” của Xuân Diệu. Đó là sự thật nghiệt ngã giữa việc dấn thân vào văn chương với nỗi lo sinh kế.
Vì vậy vợ chồng tôi chỉ muốn con trai của mình phải có một cái nghề kiếm sống, đủ sức làm trụ cột cho gia đình trước khi dấn thân vào văn chương. Có nền tảng kinh tế thì văn chương càng có điều kiện thăng hoa.
Tuy nhiên, sự đam mê văn chương như một thứ định mệnh mà Hoa Níp không thể cưỡng lại được.
Đến lúc biết chắc Hoa Níp sẽ không đi theo sắp đặt, vợ chồng tôi đành phải “xoay chiều” tạo điều kiện để Hoa Níp theo đuổi sự nghiệp văn chương. Khi mọi sự chuẩn bị cho một nền tảng giúp Hoa Níp được tự do sáng tạo đã sẵn sàng thì bất ngờ tai hoạ ập xuống, tất cả đều dở dang.

Thơ Hoa Níp – điềm báo định mệnh
Đối với nhà thơ Hoa Níp thì hiện tượng thơ vận vào người là rất rõ ràng. Khi đang học Đại học tại thành phố Hồ Chí Minh, Hoa Níp đã đoạt giải trong một cuộc thi với bài thơ “Một ngày bình yên”.
“Một ngày,
nhặt được nỗi buồn
người ta đánh rớt trên đường đông vui
một ngày,
nhặt được tiếng cười
trên môi lũ trẻ mồ côi đánh giày
một ngày,
vét được cơn say
từ trong đáy cốc loay hoay gạo tiền
một ngày,
nghe được bình yên
trong cơn hoảng loạn, cuồng điên, vội vàng
một ngày,
may vội khăn tang
đeo vào trí nhớ để nàng quên tôi…
một ngày kia, rất xa xôi”.
Vừa đọc bài thơ tôi đã rợn người rồi nói với Hoa Níp: “Thơ khá hay nhưng nên sửa lại mấy câu cuối. Đang bình yên sao lại nỡ “một ngày may vội khăn tang…”?
Hoa Níp cũng nhận ra cái sự bẻ quặt rợn người đó nhưng chẳng hiểu sao lại không sửa được. Thì ra đó chính là điềm báo trong thơ đã vận vào người.
Đến bài thơ “Bao giờ đến được cánh đồng”, Hoa Níp không có ý định đưa bài này vào tập thơ đầu tay. Và không ngờ đó lại là bài thơ dùng để khắc lên phần mộ của Hoa Níp:
“Đời còn lắm cuộc nhiễu nhương
đành thôi nép lại bên đường cho xong
bao giờ đến được cánh đồng
quay đầu nhìn lại bóng hồng phôi pha…”.
Mỗi lần nhìn ngôi mộ của Hoa Níp đã “nép lại bên đường” vợ chồng tôi càng thêm ngậm ngùi. Câu thơ như một lời tiên đoán, trăng trối và buông xuôi. Một sự buông xuôi bất đắc dĩ. Buông xuôi “cho xong”, buông xuôi để tự giải thoát chính mình. Biết bao lần ngồi bên mộ con, tôi đã thầm thì: “Con ơi! Cuộc đời chỉ đưa con đến với bố mẹ chừng đó năm tháng mà thôi. Bây giờ con hãy yên lòng đến với cánh đồng mơ ước của con, đến nơi không còn nhiễu nhương đau khổ. “Bóng hồng” đã “phôi pha” thật rồi con ạ. Sự phôi pha nào mà không đáng tiếc phải không con? Anh Thư, Phùng Vân đành phải lùi vào khoảng lặng của đời; các bạn gái thương mến khác cũng đã cất giấu hình bóng của con vào miền sâu lắng… Hãy yên lòng siêu thoát, con ơi”!
Với Hoa Níp thơ đã vận vào đời. Thơ ẩn chứa những điềm báo rùng mình nhưng không thể nào tránh được.

Luận giải về câu thơ độc lạ
Hoa Níp viết bài thơ “Đi cạn chân trời” đúng ngày sinh nhật 2.3.2011. Viết xong hai câu thơ cuối:
“dưới gầm trời có một điều thật nhất
người yêu người như sâu bọ yêu nhau”.
Hoa Níp liền chia sẻ với mẹ: “Chẳng hiểu lấy đâu ra cảm hứng để con viết được một câu thơ như thế”!
Sau khi Hoa Níp rời cõi tạm, không ít người hỏi tôi về ý nghĩa của câu thơ độc lạ này. Tôi hẹn khi nào Hoa Níp tròn 10 năm đi xa thì tôi sẽ viết lại nội dung mà Hoa Níp đã tự luận giải về câu thơ đó.
Theo Hoa Níp, “dưới gầm trời” là tất cả mọi thứ hỉ nộ ái ố. Với một góc nhìn triết lí nhân sinh, không bị pha tạp lãng mạn hoá. Hoa Níp đã lạnh lùng nói ra bản chất sâu xa trần trụi nhất của tình người: “người yêu người như sâu bọ yêu nhau”.
Câu thơ dùng hình ảnh so sánh rất độc lạ tạo nên luồng cảm xúc vừa bất ngờ trần trụi vừa lạnh lùng bạo liệt. Một câu thơ thật lạ lẫm của nhà thơ trẻ.
Tình yêu vốn dĩ là sự gắn kết đồng cảm giữa người với người. Phải chăng loài người đã ngộ nhận những “mặt nạ” phù phiếm đang trộn lẫn trong nhân tình thế thái?
Sâu bọ chỉ là loài côn trùng nhỏ bé, tận cùng của sự yếm thế thua thiệt. Vậy mà được dùng làm hình ảnh ẩn dụ để nói đến thứ đẹp nhất, thật nhất của con người. Sâu bọ không biết diễn, không lãng mạn nhân văn. Chúng yêu nhau trên nền tảng sinh tồn; yêu nhau không sắp đặt toan tính. Tình yêu của con người nếu lột bỏ hết những thứ “không thật” hoa mĩ thì tận cùng cũng chỉ còn lại sự cuốn hút của bản năng sinh tồn như sâu bọ mà thôi.
Có ai dám thừa nhận trong cái sự “người yêu người” vẫn bị thói sang hèn chi phối? Những gì là nguồn cội thì đều là cốt lõi vững bền. Tình yêu thương dù cao đẹp văn hoá đến đâu cũng vẫn mang bản năng tự nhiên của sinh vật. Thực ra tôn vinh tình yêu của con người là tôn vinh thứ tình yêu không toan tính; thứ tình yêu như hơi thở của lẽ tự nhiên; thứ tình yêu của mạch nguồn để mà sinh tồn mãi mãi.
Câu thơ của Hoa Níp như một biểu tượng đầy ám ảnh về tình yêu, tình người. Một biểu tượng vừa có chút phiêu diêu của cõi vô thường vừa định danh được sự chân thành đến tận cùng trong cõi nhân sinh.
Hoa Níp “Đi cạn chân trời” với khát vọng tìm ra sự thuần khiết “dưới gầm trời” nhân sinh. Khi nào tình yêu của con người thật nhất, sạch nhất thì đó mới là thứ tình yêu đẹp nhất.

Tấm lòng đến với tấm lòng
Sau tang lễ của Hoa Níp, gia đình tôi và cả nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – một bậc thầy văn chương và cũng như một người cha tinh thần của Hoa Níp, đều mong muốn in ấn hai tác phẩm thơ và truyện của Hoa Níp. Tuy nhiên, các nhà văn trẻ của Hội Nhà văn TPHCM – nơi Hoa Níp luôn gắn bó và có nhiều đóng góp trong gần 7 năm trước khi ra đi đã giành quyền xuất bản. Nhà văn Trần Nhã Thụy – người anh vô cùng thân thiết của Hoa Níp đã bỏ nhiều công sức nhất cho việc hoàn thiện bản thảo, thiết kế và in ấn.
Về kinh phí, tập truyện ngắn “Nàng là nước Mỹ” được Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nơi nhà thơ Hoa Níp là hội viên, tài trợ một phần. Còn tập thơ “Bao giờ đến được cánh đồng” – tên sách đặt theo gợi ý của Phan Hoàng, thì do Quỹ Tình thơ cùng các bạn văn trẻ ở TPHCM chung tay tài trợ. NXB Hội Nhà văn cấp phép hoàn toàn miễn phí. Tập thơ này đã đoạt Tặng thưởng của Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh năm 2016. Tôi nhắc lại việc xuất bản hai tập sách để một lần nữa thay lời tri ân đến bạn hữu văn chương của Hoa Níp – những người thật sự chí tình chí nghĩa.
Bên cạnh nỗi đau kinh hoàng điên dại khi Hoa Níp mất đi, gia đình tôi cũng vô cùng ngỡ ngàng và xúc động trước “làn sóng” tiếc thương của bạn hữu văn chương dành cho Hoa Níp. Hàng loạt bài thơ, bài báo, bài hát rất xúc động đã xuất hiện ngay trong và sau mấy ngày tang lễ. Đồng thời có vô số lời sẻ chia, an ủi động viên đã tràn ngập không gian mạng. Gia đình tôi mãi mãi ghi nhớ tình nghĩa của các nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình, nhà báo, hoạ sĩ, nhạc sĩ và bạn hữu gần xa:

Nguyễn Quang Thiều, Phan Hoàng, Trần Nhã Thuỵ, Trần Văn Tuấn, Phạm Sĩ Sáu, Trầm Hương, Lê Thị Kim, Thu Trân, Trịnh Bích Ngân, Lê Huy Mậu, Phạm Quốc Toàn, Trần Đức Tiến, Vũ Thanh Hoa, Quách Thị Ngọc Thiện, Phùng Hiệu, Trần Huy Minh Phương, Bùi Đế Yên, Hoàng Quý, Châu Hoài Thanh, Lương Xuân Khôi, Văn Công Hùng, Ngô Thảo, Nguyễn Vũ Tiềm, Hoàng Hường, Triệu Từ Truyền, Tô Hoàng, Nguyễn Minh Ngọc, Nguyễn Trí, Xuân Trường, Trương Tri, Phạm Trung Tín, Nguyễn Tiến Toàn, Miên Đức Thắng, Vũ Cẩm, Hữu Đố, Lâm Xuân Thi, Lương Minh Chung, Hoàng Vũ Thuật, Hoàng Thuỵ Anh, Phan Huyền Thư, Hoàng A Sáng, Nguyễn Một, Phạm Phương Lan, Minh Đan, Nguyễn Hoàng Hải, Bình Địa Mộc, Đoàn Đại Trí, Trung Dũng, Nguyễn Sơn, Trần Trung Lĩnh, Ngô Thuý Nga, Bùi Chí Vinh, Trần Hữu Dũng, Lê Minh Quốc, Ngô Đình Hải, Bùi Thanh Truyền, Trần Thanh Hà, Nguyễn Hữu Duyên, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Thiếu Nhơn, Trương Gia Hoà, Hồ Thị Ngọc Hoài, Phạm Phương Lan, Hoà Bình, Trần Hoàng Nhân, Minh Đan, Đoàn Phương Huyền, Ngô Thuý Nga, Phan Duy, Như Trân, Tiểu Vũ, Trần Võ Thành Văn, Chu Ngọc, Hồ Tịnh Văn, Trường Giang…
Đặc biệt còn có các toà soạn báo chí, nhóm Du ca Sài Gòn, nhóm Cà phê Nhà hát, hội Vespa cổ, thầy cô giáo và thân bằng quyến thuộc gần xa đã giúp đỡ động viên chia sẻ cùng gia đình.
Có những sự việc mà mỗi lần nhớ lại tôi vẫn rất xúc động. Đó là nhóm bạn văn chương Văn Công Hùng từ Tây Nguyên đến thắp hương đã ôm lấy mẹ Hoa Níp rồi thốt lên một câu chia sẻ khác lạ, nó như liều thuốc an thần để làm dịu nỗi đau mất con: “Chị là người mẹ thật hạnh phúc, đã sinh ra Hoa Níp”!
Mấy ngày sau, thơ Hoàng Vũ Thuật cùng con gái là nhà thơ Hoàng Thuỵ Anh lặn lội từ Quảng Bình vào Vũng Tàu để thắp hương cho Hoa Níp và động viên gia đình tôi. Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật than thở tiếc nuối cho những tài thơ trẻ đoản mệnh như Hoa Níp, Lãng Thanh… rồi ông cảm thán: “Giá mà những người như tôi thay được lẽ sinh tử, thì tương lai của văn học nước nhà gặt hái được rất nhiều”!
“Hoa Níp vẫn sống bên cạnh chúng ta”
Khi Hoa Níp mất đi, gia đình tôi phải chịu nỗi đau buồn khủng khiếp. Có khi bỗng hoảng hốt giật mình đau đớn, có khi lại hụt hẫng chơi vơi như đang bị rơi tự do, mất phương hướng. Vợ chồng tôi lo sợ không đủ sức để sống qua kiếp nạn.
Rồi chúng tôi cũng phải bíu vào những lời an ủi mà sống. Và trong những ngày đã cạn nước mắt thì tôi nhận được lời khuyên chân thành từ nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: “Tôi chưa viết một bài thơ nào khóc ai. Nhưng tôi đã viết thơ khóc Hoa Níp và công khai cho mọi người biết những gì tôi nhìn thấy ở con người Hoa Níp.
Tôi xin anh và gia đình đừng quá đau buồn mãi. Hãy trò chuyện với em nó trong một tinh thần khác, chúng ta sẽ thấy Hoa Níp vẫn sống bên cạnh chúng ta. Đây không phải là một lời động viên. Đây là một sự thật”.
Thế là vợ chồng tôi cùng trò chuyện tâm sự với Hoa Níp “trong một tinh thần khác”. Và rồi chúng tôi cảm nhận được vẫn có Hoa Níp bên cạnh. Hoa Níp vẫn kết nối với bố mẹ, vẫn dẫn dắt che chở cho cả gia đình. Vợ chồng tôi đã được vực dậy để sống tiếp và sống thay cho Hoa Níp.
Đã 10 năm trời, dù nắng hay mưa vợ chồng tôi vẫn đều đặn viếng thăm mộ Hoa Níp. Những ngày cuối tuần, ngày Rằm, mồng Một, ngày lễ tết, sinh nhật hoặc bất cứ lúc nào có nhu cầu trò chuyện là vợ chồng tôi lại đến thăm viếng mộ Hoa Níp. Hình ảnh đôi vợ chồng già đội mưa đội nắng ròng rã trong 10 năm qua đã trở thành hình ảnh quen thuộc của nghĩa trang Long Hương.
Đã 10 năm trời, với hơn 500 lần đi thăm viếng mộ Hoa Níp, nếu tính ra quảng đường thì có lẽ đã dài hơn 10 lần chiều dài đất nước. Đó là chiều dài của tình thương con, mà tình thương con thì không bao giờ vơi cạn.
TRẦN VINH















