Bảng lảng tượng mồ – Tản văn của Đào An Duyên

Vanvn- Họa tiết cây brang hiện diện trên nóc nhà mồ của người Jrai, như một ước mong rằng, con người khi kết thúc kiếp này, sẽ được luân hồi, tái sinh ở một kiếp nào đó. Và khi phiêu diêu để chờ một cuộc tái sinh, những linh hồn được bạn bầu với những pho tượng gỗ…

Nhà văn Đào An Duyên

Tôi như lạc đi trong một buổi chiều ngun ngún nắng. Cái nắng Tây Nguyên, luênh loang, hoang hoải trải trong gió hanh hao và bụi đỏ nồng nã. Những pho tượng nhà mồ lặng phắc trong chiều, với nhiều tư thế, lẩn khuất như đang dần mục đi cùng cỏ dại và dây leo vấn vít. Những cây gáo cổ thụ xòa bóng xuống khu nhà mồ khiến không gian như trở nên trầm mặc hơn.

Đó là một buổi chiều tôi được tham dự lễ bỏ mả của người Jrai ở một ngôi làng khá hẻo lánh. Lễ bỏ mả (tiếng Jrai là pơthi), là nghi lễ cuối cùng trong vòng đời của người Jrai. Người dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên có khá nhiều nghi lễ, trong đó, bỏ mả là một nghi lễ độc đáo hơn cả. Lễ hội diễn ra khá dài ngày, có rất nhiều nghi thức, nhưng có lẽ ấn tượng với tôi cũng như không ít người, đó là những pho tượng nhà mồ, một thành tố không thể thiếu trong lễ hội.

Tôi đã đi qua khá nhiều “làng ma” trên đất Tây Nguyên. Và quả thật, những pho tượng nhà mồ luôn có sự tác động rất lớn đến không chỉ thị giác của tôi. Lặng ngắm những pho tượng bất động ở rất nhiều thời điểm: sáng sớm, xế trưa, nửa chiều, lúc nắng hong khô nứt từng mạch gỗ, khi mưa tuôn xối xả như làm mục rữa nhanh hơn các khuôn mặt tượng… tôi luôn mường tượng về một thế giới đầy chuyển động phía sau sự bất động của những thân tượng gỗ. Nhưng nếu để cảm nhận một điều gì đó sâu nhất về thế giới thuộc phần tâm linh, nhuốm vẻ huyền bí, và có chút rờn rợn ấy, phải là vào thời điểm giao thoa giữa ngày và đêm.

Khi bóng chiều nhập nhòa, khoảng sáng tối lẫn vào nhau, vài sợi nắng đỏ như màu đồng hun rót xuống qua các kẽ lá từ những tán gáo xanh um phả vào những đôi mắt tượng. Dù chỉ được phác một cách tối giản bằng vài ba đường chạm gỗ, nhưng những đôi mắt tượng ám ảnh đến khó có ngôn từ nào có thể diễn tả. Khiến một bận, tôi đã khẽ thốt thành lời: “Có những chiều ngồi mục đi như tượng/ Mặc trăm năm trôi lặng lẽ qua đời”…

Rất ít người có thể chế tác được tượng nhà mồ. Có khi cả một vùng rộng lớn, chỉ có một đến hai người biết làm. Và không phải lúc nào họ cũng làm được những pho tượng đẹp. Một pho tượng đẹp không chỉ về hình dáng, mà phần nhiều phải toát lên được cái hồn, cái thần. Những nghệ nhân chế tác tượng mồ chuyên nghiệp kể rằng, lúc làm tượng, họ gần như nhập cả thân tâm trí vào công việc, và phải chớp lấy những khoảnh khắc xuất thần để tạo ra cái hồn cho pho tượng. Thử một lần đứng trước những tượng gỗ bất động, vô tri, nhìn sâu vào từng hốc mắt tượng ấy, ta sẽ cảm nhận được sự tài hoa của những con người tạo tác ra những hình thù ấy.

Trước đây, việc chế tác tượng chỉ dựa vào một cây rìu nhỏ và những dụng cụ rất đơn giản. Những pho tượng gỗ, với những nhát đẽo vạc rất thô sơ, nhưng tạo ra muôn vẻ khác nhau, làm thành cả tổ hợp tượng nhà mồ sống động đến từng đường nét. Các pho tượng thể hiện nhiều tư thế khác nhau của con người như: mẹ địu con, người đàn bà đeo gùi, nam nữ ôm nhau,…

Nhiều nhất là tư thế tượng người ngồi ôm mặt, có gương mặt trầm ngâm, có gương mặt buồn bã, có gương mặt đang khóc. Mỗi gương mặt một biểu cảm khác nhau, rất nhiều những pho tượng với cùng một tư thế, dáng vẻ, nhưng tuyệt nhiên không một gương mặt nào giống gương mặt nào. Những gương mặt tượng suy tư trong trời chiều chập choạng gợi cho con người bao nhiêu là cảm xúc, tâm trạng về một thế giới tâm linh vô ảnh, nhưng cũng vô cùng hữu hình, sinh động.

Nhà mồ Tây Nguyên

Trong quan niệm của người Jrai, thế giới thuộc cõi atâu (cõi ma) được đối xử công bằng như thế giới của những người đang sống. Khi một người mới về với cõi atâu, người ta cắm một chiếc ống rỗng thông xuống huyệt mộ, và người nhà “bón” thức ăn cho người chết qua cái lỗ thông ấy. Người chết sẽ được chia của để ở trên mộ, đó là những đồ dùng sinh hoạt và dụng cụ lao động hàng ngày (thường đã được làm vỡ, đục lỗ hoặc làm méo đi cho khác với đồ của người sống).

Khu nhà mồ luôn được quét dọn, săn sóc gọn gàng, sạch sẽ. Người Jrai trước đây có tập tục chôn chung thiên táng bằng cách đục rỗng thân cây gỗ lớn rồi bỏ thi thể người chết vào, người trước, người sau. Nhưng sau này được vận động, họ chuyển sang hình thức địa táng. Để giữ lại một phần tập tục chôn chung trước đây, những người mất trong cùng dòng họ sẽ được chôn cạnh nhau. Người ta làm tường bao quanh các ngôi mộ và lợp mái, vì vậy mà gọi là nhà mồ (nhà mả).

Những ngôi nhà mồ được làm bằng chất liệu gì, cầu kì hay đơn giản tùy thuộc vào kinh tế của gia chủ. Khi chuẩn bị đủ điều kiện để làm lễ bỏ mả, người ta chế tác tượng gỗ để dựng xung quanh nhà mồ, với mục đích để những pho tượng thay thế người sống bầu bạn với các linh hồn. Từ sau lễ ấy, người sống sẽ thôi không thăm nom, săn sóc những phần mộ trong ngôi nhà mồ đã được bỏ. Những tượng gỗ cùng với ngôi nhà mồ hoang mục dần theo thời gian, tạo thành nét văn hóa vô cùng đặc sắc trên miền đất Tây Nguyên.

Tôi luôn nghĩ về sự hữu hạn của đời người. Kiếp người tựa loài cây brang của người Tây Nguyên. Loài cây sau quá trình sinh trưởng, già đi thì nằm xuống đất, từ thân cây nằm xuống ấy sẽ lại mọc lên cây con, tái sinh vào một đời cây khác. Họa tiết cây brang hiện diện trên nóc nhà mồ của người Jrai, như một ước mong rằng, con người khi kết thúc kiếp này, sẽ được luân hồi, tái sinh ở một kiếp nào đó. Và khi phiêu diêu để chờ một cuộc tái sinh, những linh hồn được bạn bầu với những pho tượng gỗ. Đó là quan niệm nhân văn thật tuyệt vời mà con người sáng tạo ra.

Người ta nghĩ cho cả người đã không còn hiện diện trong đời sống, đã về với một thế giới nào đó. Không biết cõi atâu có thật không, linh hồn sau khi chết có tồn tại không, con người có thể luân hồi và tái sinh thật không? Nhưng niềm tin là một thứ tôn giáo mà khi con người đã nương vào, thì không thể nào thay đổi. Vậy nên, tôi mới có những buổi chiều lặng phắc, như mục đi, khi nhìn thật sâu vào những gương mặt tượng. Để từ đó, nghĩ về cuộc sống với đôi mắt chứa nhiều thương mến hơn.

Người Tây Nguyên bao đời bám đất, bám rừng; vừa sinh tồn, vừa lao động, vừa yêu nhau, vừa say đắm khát khao, đời này qua đời khác, nối nhau làm nên một nền văn hóa tự thân chứa đầy huyền sử. Cái không gian làng ma lẩn khuất cạnh bìa rừng, với những ngôi nhà mồ và quần thể tượng gỗ hoai mục đi cùng nắng mưa, đã góp phần tạo nên một không gian văn hóa khu biệt, thăm thẳm neo vào lòng người.

ĐÀO AN DUYÊN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *