Vanvn- Trường ca “Mặt trận gần phía trước” là tác phẩm thứ 8 của nhà thơ quân đội Trần Trí Thông. Có tố chất làm thơ lục bát với những câu thơ mang đậm chất chiến trường, Trần Trí Thông đã ghi lại những khoảnh khắc hy sinh chiến trận bằng những dòng thơ đầy cảm xúc: “Trường Sơn thơ cứ đầy vơi/ Nỗi đau mất mát của thời chiến chinh/ Bao nhiêu trai đẹp gái xinh/ Hoá thân thành khúc thơ tình dở dang”…

Vào cuối năm 1973, tôi tốt nghiệp lớp đào tạo sơ cấp quân y tại Trường Quân y Quân khu Tả Ngạn, được điều về trung đoàn bộ binh 5 thuộc Bộ Tư lệnh 350 Hải Phòng, là đơn vị chuyên rèn quân để bổ sung chi viện chiến trường miền Nam. Tháng 4.1974 tôi được điều động tham gia khung huấn luyện của tiểu đoàn 584. Tháng 5.1974 bắt đầu chiến dịch tuyển quân nhận tân binh của 2 huyện An Hải và huyện Tiên Lãng. Tiểu đoàn gồm 4 đại đội tân binh với gần 700 cán bộ chiến sĩ, đứng chân ổn định tại xã Đặng Cương, huyện An Hải.
Đầu tháng 6.1974, tiểu đoàn đưa quân về huyện Thuỷ Nguyên để bắt đầu chương trình huấn luyện. Tiểu đoàn bộ đóng quân tại thôn Phù Lưu xã Phù Ninh còn các đại đội đóng quân tại các xã Việt Khê, An Sơn, Phù Ninh. Tôi là y tá tiểu đoàn có nhiệm vụ hàng ngày kiểm tra tình hình sức khoẻ ốm đau của bộ đội ở các đơn vị, kiểm tra công tác vệ sinh nhà ăn nhà bếp, đưa đón các chiến sĩ bị ốm đau lên tuyến trên điều trị. Sau 6 tháng miệt mài huấn luyện, đơn vị nhận lệnh lên đường, hành quân chi viện chiến trường B2 vào cuối năm 1974.
Cuối năm 2011, trong đám tang của nhà thơ Hoàng Phụng Cầm, tôi gặp Trần Trí Thông (chiến sĩ của tiểu đoàn 584 Hải Phòng năm xưa) thông qua những câu chuyện nhắc nhớ về kỉ niệm của một thời kì chinh chiến, ôn lại những hình ảnh và tuổi tên các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn như Thượng uý Nguyễn Văn Tú (tiểu đoàn trưởng), Thượng uý Trịnh Hồng Liên (chính trị viên trưởng tiểu đoàn), Trung uý Nguyễn Văn Hào (tiểu đoàn phó tham mưu trưởng và các cán bộ đại đội, trung đội của đơn vị thời kì huấn luyện trên đất Bắc. Tôi và Trần Trí Thông cùng có niềm vui sáng tác thơ và sinh hoạt Hội thơ Sao Khuê. Chúng tôi cũng liên hệ với những anh em của tiểu đoàn 584 đã chuyển ngành và đang sinh sống tại TPHCM và các tỉnh phía Nam.
Vào tháng 5.2024 anh em hành hương về Hải Phòng để cùng các cựu đồng đội kỉ niệm 50 năm ngày lên đường nhập ngũ. Biết bao kỉ niệm vui buồn được nhắc lại, các gương mặt đồng đội đã hi sinh được nhắc nhớ trong ngày gặp mặt. Năm mươi năm đi gần hết một đời người, khẩu súng và chiếc balô là tài sản của người chiến sĩ hành quân qua dãy Trường Sơn bạt ngàn gian khó hiểm nguy để chiến đấu tại mảnh đất miền Đông Nam Bộ. Chúng tôi lặng người tưởng niệm những đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại tại các vùng chiến địa năm xưa, lòng thầm cảm ơn những anh hùng liệt sỹ đã hy sinh để cho mình được sống.
Tôi và Trần Trí Thông là những cựu chiến binh xuất thân từ đất Cảng, có máu văn chương, những năm tháng chiến tranh trong điều kiện chiến đấu hi sinh ác liệt vẫn dành thời gian để sáng tác thơ. Trải dần theo năm tháng, sự nghiệp văn chương đã đưa chúng tôi trở thành hội viên Hội Nhà văn TP HCM và Hội Nhà văn Việt Nam. Mỗi người đã có nhiều tác phẩm văn học tạo dấu ấn cho riêng mình trong dòng chảy văn chương của thành phố và của đất nước.
Kỉ niệm 50 năm ngày nhập ngũ, Trần Trí Thông đã xuất bản trường ca “Mặt trận gần phía trước”, đây là tác phẩm thứ 8 của ông, kết cấu gồm 8 chương rất ấn tượng.
Chương 1: Thơ gửi tuổi lên 10: gồm 2 tiểu mục Chiến tranh bắn phá lần thứ nhất, Chiến tranh bắn phá lần thứ hai với những câu thơ khắc hoạ bản chất của cuộc chiến tranh huỷ diệt: ´Cảng Hải phòng thuỷ lôi nhiều hơn cá/ Bom từ trường lẩn khuất dưới bùn đen”
Trần Trí Thông đã khẳng định tầm vóc của người chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù hùng mạnh nhất với dân tộc Việt Nam “ Phố Hàng Đúc” bước vào “ kỷ đồ nhôm”/ Gần bốn ngàn xác máy bay đem đúc nồi đúc chảo/ B52, Thần sấm, Con ma … kiêu ngạo/ Xoá quốc tịch Hoa Kỳ nhập vào xóm ve chai”.
Chương 2: Gửi quê, người trai Trần Trí Thông đã ký thác lòng mình: “Làm trai thời loạn bây giờ/ Chữ trung chữ hiếu giữ cho vẹn toàn/ Dẫu gian khổ, dẫu nguy nan/ Hành quân nắng quái mưa ngàn chớp xa… Hòn tên mũi đạn coi thường/ Bom rơi chắn lối mở đường ta đi”.

Chương 3: Huấn luyện và hành quân với các kỉ niệm được nhà thơ tái hiện bằng những vần thơ thấm đẫm chất lính, đầy tính hiện thực: “Đêm đi rèn đại đội trưởng điểm danh/ Cục đất sau lưng 20 ki lô gam trĩu nặng/ Gậy Trường Sơn luyện đôi chân đứng vững/ Trăng dập dờn trên vòm lá nguỵ trang”
Và hình bóng thôn nữ nơi đơn vị đóng quân cứ như tia nắng sưởi ấm lòng người ra trận: “Con gái Thuỷ Nguyên nhu mì duyên dáng/ Em dấu nụ cười trong nón trắng nghiêng nghiêng”
Người lính dấn bước vào cuộc trường chinh sinh tử với biết bao nghĩ suy, bao thương nhớ, nhưng không thể quên lời cảnh tỉnh: “Lời của cha cứ văng vẳng bên tai/ Hãy xứng đáng làm trai thời loạn/ đừng yếu lòng mà bước sai nhầm hướng/ đừng yếu hèn trở giầy quay gót/ Về làng không còn chỗ dung thân”
Buổi trưa ngày ấy, người lính bước lên tầu vào Nam, Trần Trí Thông đã nói rất thật lòng mình: “Chuyến tàu từ Gôi khởi hành đi Vinh/ Vất vả rúc hồi còi tạm biệt/ Lặng lẽ đèn ghi/ tủi thân/ quay mặt/ sân ga…/ không có chiếc khăn nào/ vẫy…/ Làm cuộc chia ly”
Phạm Trung Tín cũng trên con tầu này đã viết: Thuở ấy tôi đi xa/ Chuyến đi xa của người lính chiến/ tôi tạm biệt gia đình/ thời gian bao la như biển/ Con tàu Nam hối hả đón tôi lên/ chung quanh tôi đồng đội anh em/ màu áo chiến xanh như nỗi nhớ…”
Chương 4: Trên dải Trường Sơn với các bài: Chiến trường Quảng Trị, Trường Sơn Tây, Thư cho mẹ, Lục bát Trường Sơn, Trường Sơn ơi!
“Hành quân đêm qua những xóm làng/ Tiếng gà gáy lay vầng dương gọi sáng/ Lúa con gái toả hương vào tháng 8/ Như bản tình ca gió hát dưới đồng”
“Đường Hồ Chí Minh, đường mòn Trường Sơn? Chúng ta qua đây là đoàn quân thứ mấy/ Từ mất mát đau thương đứng dậy/ Hỡi dòng Đắk Krông kiêu hãnh hát lên nào”
Là một người có tố chất làm thơ lục bát với những câu thơ mang đậm chất chiến trường, Trần Trí Thông đã ghi lại những khoảnh khắc hy sinh chiến trận bằng những dòng thơ đầy cảm xúc: “Trường Sơn thơ cứ đầy vơi/ Nỗi đau mất mát của thời chiến chinh/ Bao nhiêu trai đẹp gái xinh/ Hoá thân thành khúc thơ tình dở dang”.
Chương 5: Tháng 3 Tây Nguyên với những dòng thơ viết về chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch mở màn cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân. Gần nửa thế kỷ nhưng như mới đâu đây, bởi những lời thơ rất chân thực viết về gian khổ, về bệnh tật hi sinh của những người lính vượt Trường Sơn: “Cơn sốt vắt ngang làm lõm đội hình/ Lính uống kí ninh cả cánh rừng đắng ngét/ Cắt cơn sốt là biết mình chưa chết/ Da sạm siêu vi lá lách sưng phù”
Chương 6: Miền Đông và Chiến dịch Hồ Chí Minh: Trong khí thế hào hùng của cuộc tổng tấn công long trời lở đất, 5 cánh đại quân đồng loạt xung phong, quyết tâm giải phóng Sài Gòn – Gia Định, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhà thơ đã tạo điểm nhấn cho trường ca “Mặt trận gần phía trước” bằng những bài: Chiến dịch Hồ Chí Minh, Tổng công kích, Cuối năm 1978, Hai đầu biên giới. Những hình ảnh hào hùng ca ngợi chiến công của quân giải phóng miền Nam đập tan cánh cửa thép Đông Bắc Sài Gòn tại mặt trận Xuân Lộc: “Những chiếc T54 gầm lên/ Cánh cửa thép Xuân Lộc nát nhừ/ Vòng bánh xích/ Vỡ mặt/ Trận Long Khánh nguỵ chạy như bầy vịt/ Chuẩn tướng vội chuồn như cáo núp nửa khuya”
Dã tâm của kẻ thù xâm lược đã thường trực suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm. Trần Trí Thông đã vạch mặt sự phản bội của Khơme đỏ bạo tàn và lên án các thế lực đã giật dây hà hơi tiếp sức cho chế độ diệt chủng: “Phía bên kia lồng lộn ngôn từ xảo trá/ Những bộ áo quần đen lần mò lẩn khuất bóng ma man rợ/ Bọn cầm thú đội lốt con người/ Ác hơn cả tổ tông của nó/ Mang cuộc chiến vượt làn ranh đỏ/ Lửa bạo tàn thiêu biên giới tan hoang.

Chương 7: Trở lại đời thường. Trở về sau những bước trường chinh hào hùng anh dũng, cuộc chiến đã vắt kiệt sức lực của bao chiến sĩ, những câu thơ làm người đọc chạnh lòng: “Ngày chúng tôi về/ Không trong ánh hào quang ảo ảnh/ Như ngày đi đưa tiễn có chính quyền/ Có những lời khen ngợi động viên/ Những tấm huy chương không làm ra hạnh phúc”.
Lời thơ của Trần Trí Thông ghi lại tâm trạng vui buồn của người lính hồi hương, có những băn khoăn cảnh ngộ, có hoài nghi thất vọng khi đối diện nghiệt ngã đời thường: “Có đồng đội về may mắn chuyển ngành/ Nay nghỉ hưu tuổi già thanh thản/ Còn những đồng đội nợ nần đồng ruộng/ Túi không tiền thương một đời trai”
Phạm Trung Tín cũng khắc khoải thương anh em đồng đội của mình: “Đời thường chưa tạnh nắng mưa/ Da cam, thương tật chẳng chừa ốm đau/ Cấy cày khó nhọc ruộng trâu/ Con thơ, vợ dại đau đầu áo cơm”
Mác nói: Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, 50 năm sau cuộc chiến, cho dù hoàn cảnh có đổi thay nhưng với người lính bản chất vẫn là những trang hảo hán vì đại nghĩa và họ cùng đồng đội thương quý nhau như máu thịt bản thân mình: “Dẫu thế thời biến chất đổi màu/ Bản chất lính không bao giờ thay đổi/ Tình đồng đội vẫn vững bền như núi/ Vẫn nhớ gọi tên nhau khi lúc đã già”
Nhưng với phẩm chất “Bộ đội cụ Hồ” nhà thơ không ngần ngại tố những điều giả nghĩa giả nhân đang tồn tại trong xã hội ta: “Sự ươn hèn lẩn khuất ở hậu phương/ Ngày chúng tôi đi họ làm gì? ở đâu/ ai biết!/ Giờ họ lao ra vênh vang nhận có công với nước/ Sự xảo trá tuyệt vời tham nhũng cả niềm tin”.
Chương 8: Viết khi trận mạc đã qua. Đây là khúc khải hoàn ca của nhà thơ Trần Trí Thông với điệp ngữ “Tôi từ trận mạc về đây” khẳng định bước đường chiến chinh máu lửa đã lùi vào dĩ vãng. Những trai làng bỏ ruộng nương, những sinh viên rời ghế nhà trường dấn thân yêu đời vào cuộc chiến tranh vệ quốc, nay về lại thôn giã quê hương với niềm tự hào thanh thản đã làm xong nhiệm vụ của trai thời loạn
… “ Tôi vì trận mạc xa quê/Nửa đêm run rẩy cơn mê lạc ngày/ Bất ngờ trong lúc rượu say/Nghe lời ai trách mà day dứt lòng”
“Ừ thôi trận mạc đã xong/ Vườn xuân đã nhuộm đào hồng sắc quê/ Em cười như thả bùa mê/ Tôi say quýnh quáng lối về bỗng quên…”
“Ta về gặp lại bạn quen/ Sau ngày trân mạc nỗi niềm hôm nay/ Năm mươi năm một lần say/ Nâng ly rượu nhạt vơi đầy khát khao”.
Và tôi rất tâm đắc khổ thơ kết thúc trường ca “Mặt trận gần phía trước” đầy cảm xúc, đậm chất lính của nhà thơ cựu chiến binh Trần Trí Thông:
“Bồi hồi nghe khúc đồng dao
Một ngày bạn đón ngả vào tình thương
Đời thường về với đời thường
Tuổi xanh gởi lại phía Trường Sơn xanh.”
Ngày 10.11.2024
PHẠM TRUNG TÍN















