Vanvn- Nhà thơ Đậu Phi Nam sinh năm 1964 tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Là một bác sĩ nhưng anh rất đam mê thi ca, hiện anh là Hội viên Hội Liên hiệp VHNT Nghệ An, Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội trưởng Chi hội Văn học nghệ thuật thị xã Hoàng Mai. Đậu Phi Nam đã trình làng ba tập thơ: “Hoa sim làng Mỗi”, “Lau trắng Truông Bồn” và “Từ miền gió cát”.
Từ miền gió cát, NXB Hội Nhà văn, 2020, chủ yếu viết về quê hương Đậu Phi Nam, từ cái làng Mỗi – nơi chôn rau cắt rốn của tác giả với những kỷ niệm thân thương luôn khắc ghi trong hồn người thơ: “Màu tím hoa sim, hoa sim làng Mỗi/ Màu hoa của một thời bối rối/ Cái tuổi kiếm tìm anh không thấy em nhưng không dám gọi/ Giả bộ kiếm tìm giả bộ ngu ngơ”.

Tác giả Đậu Phi Nam tâm sự, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, đã chọn 90 bài trong số 300 bài ông gửi đến và vẽ tặng ông tranh bìa cho thi tập Từ miền gió cát. Trong lời giới thiệu mở đầu thi tập “Về một cuộc hành hương”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhận xét: “Những vẻ đẹp đích thực đã và đang rời xa con người. Sự thiêng liêng đã rời xa tâm hồn con người. Nhà thơ Đậu Phi Nam là kẻ đi tìm lại những giá trị đích thực của cuộc sống này. Những vẻ đẹp đang bị lãng quên, bị bước qua và bị “giết chết”. Mỗi nhà thơ đều có một con đường đi tìm lại những vẻ đẹp đã mất hoặc có nguy cơ biến mất bằng cách riêng của mình. Và nhà thơ Đậu Phi Nam đã và đang đi trên con đường ấy như một cuộc hành hương của tâm hồn”.
Từ làng quê yêu dấu ấy, anh đặt chân đến những miền đất thân yêu khác của xứ Nghệ nên thơ mà hào hùng, nơi có “Sông Mai em dải lụa”, “Sông Hiếu một chiều” người thơ từng gửi ước hẹn thuở thanh xuân “Vào đời/ Tôi gửi thượng nguồn sông Hiếu/ Mảnh trăng non và chấm hoa Hôm/ Nhờ sông nước hẹn ngày tái ngộ”. Người thơ dừng lại dưới chân tượng đài Truông Bồn, nơi 13 chiến sĩ thanh niên xung phong đã anh dũng hy sinh trong công cuộc chống chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ, với nỗi lòng cảm phục xen lẫn nuối tiếc, bâng khuâng:
“Đời người như gió thoảng qua
Ngàn năm lau trắng vẫn là lau thôi
Tóc xanh xanh mãi đôi mươi
Ngàn lau vi vút kiếp người bể dâu”
(Lau trắng Truông Bồn).
Rồi người thơ đi xa hơn đến những vùng đất khác trên Tổ quốc Việt Nam và cảm giác day dứt đó không hề nguôi ngoai, trái lại càng tô đậm hơn:
“Lau Thạch Hãn trổ bông
Dải khăn trắng vắt qua bao đời góa phụ
Trắng lau này trắng mãi đến trời xanh”
(Lau Thạch Hãn)
Nhưng khi đến Thủ đô Hà Nội, trái tim Tổ quốc, đứng trước Hoàng Thành, tâm trạng ấy đã nhường chỗ cho lòng tự hào dân tộc:
“Ngàn năm Thăng Long con gặp lại Hoàng Thành
Nơi trầm tích hồn thiêng sông núi
Nơi cha ông xưng Đế – xây thành
Nơi rồng bay lên
Nơi đây ngai vàng sáng chói
Gót hài vua vẹt đỏ gạch Sông Hồng
Chốn thư lầu thảo những áng văn” …
Cuộc chiến tranh thống nhất đất nước thắng lợi, dẫu còn phải trải qua nhiều khó khăn vất vả, nhưng từ sau thời kỳ đổi mới, cuộc sống ngày càng khởi sắc. Vì luôn sống trong tâm tưởng hoài niệm, trước cảnh “đô thị hóa” nông thôn với một tốc độ chóng mặt, người thơ vẫn luôn thắc thỏm lo lắng những nét đẹp văn hóa làng quê đang dần biến mất, khi thấy đến “Mâm ngũ quả cũng làm bằng nhựa”. Trước thảm cảnh “Cả một làng chài/ Đắm biển khơi” người thơ đau đáu không thể thốt lên: “Mắt người ngơ ngác, không ai biết/ Đường lên phố thị ở đâu ta?”.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều bình: “Khi đọc hai câu thơ Cả một làng chài/ Đắm biển khơi tôi cảm thấy rùng mình. Một vẻ đẹp đã biến mất. Cảm giác như có một cuộc “đại hồng thủy” vừa tràn qua và cuốn trôi những di sản chúng ta đã dựng lên qua hàng ngàn năm xuống đáy biển mù tăm. Nhà thơ Đậu Phi Nam trở lại chốn xưa và kêu lên như một tiếng khóc. Tất cả đã biến mất. Tất cả chỉ còn lại là một sự hoang tàn “mỹ miều” trên mặt đất”.
Dẫu vậy chính vì luôn đắm chìm trong hoài niệm, tập thơ Từ miền gió cát thiếu hẳn những câu thơ hào sảng tươi rói trước sự đổi thay của đất nước nói chung và ngay chính quê hương Quỳnh Lưu – Hoàng Mai của người thơ. Bởi vậy, đâu đó rơi rớt lại những ước muốn khó chấp nhận trong cuộc sống hôm nay: Nay con cháu muốn ngược về xưa cũ/ Cùng ăn lông ở lỗ với Người xưa, dù “ăn lông ở lỗ” chỉ là một cách nói tượng trượng trưng mang tính ước lệ.
Thi tập Từ miền gió cát nghiêng về “cảnh cũ” nên hoài niệm nhiều với “người xưa”, trong đó có hai nhân vật được khắc họa đậm nét nhất là “mẹ” và “em”. Nhưng ngay cả “em” vẫn là “em” của những mối tình đơn phương, lỡ làng:
“Em vô tình hương rơi
Anh cố tình cúi nhặt
Hương cứ rơi cứ rơi
Tình cứ nhặt cứ nhặt
Đêm về tràn giấc mộng
Một tình yêu hoang sơ”
(Hương rơi)
Nói về “trăng” cũng nói về “tình”: Trăng tràn chén rượu vơi/ Tình suông, vành trăng khuyết/ Say đi chén, chén đời/ Khuyết tròn trăng đợi/ Tình tình đầy vơi (Trăng). Chỉ có hình ảnh “mẹ” được khắc họa đủ đầy, trọn vẹn nhất, từ thuở mẹ đi lấy chồng đến ngày mẹ về cõi vĩnh hằng. Cảnh mẹ lấy chồng thật đáng thương, tủi cực, đọc xong không ai không rơi lệ:
“Vu quy không rượu, không bông
Cũng không pháo nổ rượu nồng mẹ ơi
Nên chăng chỉ có nấy thôi
Cơi trầu vợ bố
Mẹ tôi lấy chồng”
(Mẹ tôi lấy chồng).
Ngày mẹ giã từ thế giới này cũng xót xa không kém:
“Ra đi mẹ có gì đâu
Một cây gậy trúc, cơi trầu mẹ ơi!
Biệt ly mẹ nở nụ cười
Bồng bềnh mây bạc
Bồng bềnh trôi
Bồng bềnh!
(Ra đi).
Tập thơ có rất nhiều bài thơ viết về mẹ và quê hương, trong đó bài thơ Vườn xưa có lẽ là ám ảnh nhất:
“Con về thăm lại vườn xưa
Trầu đâu chẳng thấy
Cau xưa gốc rồi?
Góc vườn là lão bình vôi
Lăn vào nỗi nhớ
Làm tôi rát lòng
Mẹ ơi một thủa môi hồng”.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã bình bài thơ này bằng những lời có cánh: “Những câu thơ giản dị vang lên và tôi cứ nghĩ đấy chính là một tiếng gọi mẹ. Một không gian của đời sống thường nhật giờ đây đã trở thành không gian nghệ thuật. Khi nhà thơ tạo nên một không gian nghệ thuật thì những vẻ đẹp, những ký ức, những thương yêu mới có thể hiện ra đầy đủ và bền vững nhất. Khi đọc những câu thơ này hay khi bước vào cái “không gian nghệ thuật” này của Đậu Phi Nam, tôi lại gặp mẹ tôi, người mất đã mười mấy năm trời. Bởi trong không gian này, Đậu Phi Nam đã dẫn chúng ta về ký ức riêng ta bằng một con đường riêng của nhà thơ. Đấy chính là một trong những điều kỳ lạ nhất của nghệ thuật, đặc biệt là thi ca.
Với hầu hết người Việt Nam ở thế hệ Đậu Phi Nam trở về trước thì hình ảnh giàn trầu không, bình vôi, mảnh vườn là mẫu số chung liên quan đến người mẹ. Thơ ca, theo quan niệm của tôi là làm sống lại những gì đã chết và làm mới lại những gì đã cũ. Bà mẹ của nhà thơ Đậu Phi Nam vẫn còn đó trong hình ảnh lá trầu và mảnh vườn thân thuộc da diết. Và mỗi chúng ta đều có một con đường để trở về với mẹ, để được sống với mẹ thêm một lần nữa, để được yêu thương và được bình yên.”
Nhìn chung, các bài thơ trong tập Từ miền gió cát có tứ rõ ràng (một số bài có tứ độc đáo), tinh chất, cô đọng; câu chữ được cân nhắc kỹ lượng. Nhiều hình ảnh thơ ám gợi: lau trắng, chiếc bình vôi lăn lóc… Dẫu vậy, vẫn còn một số bài dàn trải, điều khó tránh khỏi trong một tập thơ ngót nghét gần trăm bài.
Phải chăng, thành công của thi tập Từ miền gió cát đã góp phần đem đến cho tác giả một vinh dự lớn: được đứng vào hàng ngũ các nhà thơ của Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2020). Tuy nhiên, con đường thi ca của nhà thơ Đậu Phi Nam còn ở phía trước, đầy gập ghềnh nhưng lắm nhiềm vui. Độc giả không chỉ muốn anh có những vần thơ hoài niệm ám ảnh về “con đường hành hương trở về với những gì nhân văn nhất” như thi sĩ Nguyễn Quang Thiều đã nói, mà còn muốn anh có những vần thơ hào sảng, tươi rói về cuộc sống đang sáng lên mỗi ngày như chính tâm hồn và cuộc sống người thơ.
LÊ QUỐC HÁN
Tạp Chí Sông Lam















