Thơ Nguyễn Lãm Thắng và Nguyễn Quốc Vương, từ vẻ đẹp tuổi thơ đến những bài học cuộc sống

Vanvn- Thơ thiếu nhi luôn là một bộ phận quan trọng của văn học, góp phần nuôi dưỡng tâm hồn và bồi đắp cảm xúc thẩm mỹ cho độc giả nhỏ tuổi. Trong mạch vận động ấy, Nguyễn Lãm Thắng và Nguyễn Quốc Vương là hai gương mặt tiêu biểu. Cùng hướng đến độc giả nhỏ tuổi nhưng mỗi người có một cách riêng để tái hiện thế giới tuổi thơ lung linh và đầy sắc màu.

Nguyễn Lãm Thắng là cái tên quen thuộc với nhiều bạn đọc, khi nhiều bài thơ của ông được lựa chọn và đưa vào giảng dạy trong chương trình GDPT 2018. Thơ ông giàu chất suy tư, nhân văn, gửi gắm nhiều bài học sâu sắc qua hai tập thơ “Giấc mơ buổi sáng” và “Mùa xuân em yêu”.

Ngược lại, Nguyễn Quốc Vương với tập thơ “Điều bí mật trong vườn” dẫn người đọc trở về với miền kí ức tuổi thơ làng quê Bắc Bộ. Bằng giọng thơ mộc mạc, thấm đẫm chất hoài niệm, tác giả đã ghi lại những cảm xúc chân thành về một thời ấu thơ đã xa.

Đặt thơ Nguyễn Lãm Thắng và Nguyễn Quốc Vương trong thế đối sánh có thể thấy,  cả hai đều gửi gắm những bài học giàu ý nghĩa về cuộc sống qua việc kiến tạo thế giới tuổi thơ.

Nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng

Vẻ đẹp tuổi thơ hồn nhiên, trong trẻo

Dù mỗi người một phong cách nhưng có lẽ điều gắn kết Nguyễn Lãm Thắng và Nguyễn Quốc Vương sâu sắc nhất là tình yêu và sự trân trọng dành cho trẻ thơ. Ở đó, mọi sự vật đều hiện lên dưới con mắt hồn nhiên, trong trẻo.

Với Nguyễn Lãm Thắng, tuổi thơ hiện lên như một hành trình khám phá thế giới rộng lớn. Chỉ với một trang giấy và vài chiếc bút chì màu, đôi tay trẻ thơ đã vẽ nên những không gian vô tận. Đó là đoàn tàu nối liền hai đầu Tổ quốc, là cánh đồng lúa xanh, hay bản đồ tổ quốc…: “Là đoàn tàu Nam – Bắc/ Là cánh đồng lúa xanh/ Là bản đồ Tổ quốc/ Là vũ trụ mông mênh/ Và còn bao hoài bão/ Và còn bao ước mơ/ Từ trên trang giấy nhỏ/ Một thế giới mong chờ” (Bé làm họa sĩ).  Sự dịch chuyển từ trang giấy đến những không gian bao la được kiến tạo nên bởi trí tưởng tượng phong phú. Không gian tưởng tượng ấy không bị giới hạn bởi hiện thực mà hoàn toàn mở rộng theo ý muốn của chủ thể. Trí tưởng tượng giúp những mơ ước của trẻ có cơ hội được vươn cao, vươn xa, là chiếc chìa khóa mở ra muôn vàn điều mới mẻ.

Không chỉ vậy, tác giả còn thổi hồn mơ mộng để tạo nên một thế giới thần tiên ngay trong tâm tưởng của trẻ thơ: “Trong giấc mơ buổi sáng/ Em gặp ông mặt trời/ Mang túi đầy hoa nắng/ Rải hoa vàng khắp nơi/ Trong giấc mơ buổi sáng/ Em qua thảo nguyên xanh/ Có rất nhiều hoa lạ/ Mang tên bạn lớp mình” (Giấc mơ buổi sáng). Thế giới tưởng tượng ấy trở thành không gian nuôi dưỡng ước mơ và khích lệ trí sáng tạo của trẻ nhỏ.

Trong nhiều bài thơ của Nguyễn Lãm Thắng, người đọc còn bắt gặp hình ảnh thiên nhiên, đồ vật như: đám mây biết khóc, bạn gió biết nhắn gọi; bác chổi già chăm chỉ, cần mẫn; giỏ rác không sợ bẩn; hai chị em kim – chỉ giỏi giang, khéo léo… không xuất hiện làm phông nền cho câu chuyện mà trở thành một nhân vật chính, một thực thể sống có linh hồn, có khả năng khơi gợi những rung động thẩm mĩ của tâm hồn trẻ nhỏ.

Nếu thơ Nguyễn Lãm Thắng mở ra cánh cửa thế giới đầy màu sắc, Nguyễn Quốc Vương lại dẫn độc giả ngược dòng về miền kí ức. Đó là một làng quê Bắc Bộ thân thuộc gắn với những biểu tượng đơn sơ như: cây cau, bụi tre, hàng dâm bụt, cánh đồng lúa hay bờ ao lặng lẽ…

Tất cả những hình ảnh đó không phải là bức tranh làng quê được tô vẽ cầu kỳ, mà là một không gian sống thực, nơi tác giả từng lớn lên, từng yêu thương và lưu giữ bao kỉ niệm. Đó là hình ảnh làng quê ngập tràn trong niềm vui mùa màng bội thu: “Gom bao vạt nắng/ Thành bông lúa vàng/ Mồ hôi đổ xuống/ Nên mùa xống xang/ Mặt trời vừa dậy/ He hé tia nhìn/ Cả làng đã thức/ Rộn rịp liềm, quang” (Mùa gặt), hay không gian tĩnh lặng, yên bình nơi làng quê trong buổi trưa hè lặng gió: “Trưa nay chị gió đi vắng/ Chẳng còn tiếng chị thì thào/ Bụi tre không người trò chuyện/ Nghiêng mình rủ bóng xuống ao” (Trưa hè) và hình ảnh con đường đồng nội như cánh diều tuổi thơ gọi về bao thương mến, dù có đi xa đến đâu vẫn luôn nhớ về như một phần kí ức không thể quên: “Những con đường đồng nội/ Xa rồi chẳng thể quên/ Tre lòa xòa rủ bóng/ Khi bên hồ trăng lên/ Kí ức thầm gọi tên/ Đường ra sông rợp nắng/ Chuồn chuồn chao cánh mỏng/ Gọi về lời đồng dao” (Những con đường đồng nội).

Đó không chỉ là cách mà nhà thơ miêu tả mà là sự trân trọng, nâng niu với những năm tháng hồn nhiên, trong trẻo. Những kí ức ấy trở thành điểm tựa  tinh thần của những người con xa quê, luôn đau đáu nhớ về nơi lưu giữ tuổi thơ mình. Nguyễn Quốc Vương từng bày tỏ: “tôi viết những bài thơ ấy trước hết là cho chính mình để ghi lại những cảm xúc, kỉ niệm của tuổi thơ ở nông thôn” và có lẽ chính sự chân thành ấy đã khiến cho những bài thơ thiếu nhi của tác giả có sức lay động lạ kỳ.

Có thể thấy, Nguyễn Lãm Thắng và Nguyễn Quốc Vương cùng bắt đầu từ cái nhìn trong trẻo về trẻ thơ nhưng mỗi người trong họ lại chọn cho mình một hướng đi riêng. Một người mở cánh cửa thế giới để khám phá. Một người bước chân lên chuyến tàu khứ hồi để ngược về cội nguồn mà hoài niệm. Song, hành trình của họ đều hướng đến một điểm chung là gieo những hạt mầm đẹp tươi cho vườn hoa cuộc đời bung nở.

Nhà thơ Nguyễn Quốc Vương

Gieo mầm yêu thương, chạm tới những bài học cuộc sống

Thơ Nguyễn Lãm Thắng giống như một người thầy thầm lặng, nhẹ nhàng dạy trẻ bài học về yêu thương và giá trị sống tích cực. Trước hết là lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ được thể hiện qua những hành động nhỏ nhưng đầy ý nghĩa. Đó là khi mẹ vắng nhà, em bé chủ động vào bếp nấu cơm thay mẹ: “Sáng nay mẹ bận việc/ Không về kịp nấu cơm/ Bé lao vào trong bếp/ Rửa nồi, xúc gạo thơm/ Đôi bàn tay nhỏ xíu/ Bé vo gạo trắng tinh.” (Thay mẹ nấu cơm), hay là giây phút bồi hồi, khắc khoải khi nhớ về người ông và bậc thềm năm xưa khi còn bé được ông nâng bước: “Ngày nào cháu còn bé/ Muốn lên xuống bậc thềm/ Đôi tay ông nâng đỡ/ Bước cháu càng vững thêm” (Bậc thềm xưa).

Mạch cảm xúc ấy còn nhắc nhở trẻ bài học về lòng biết ơn các thế hệ đi trước, những người đã góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đó là hình ảnh Thánh Gióng anh dũng đánh đuổi giặc Ân, giữ yên bình cho làng xóm hay chú bộ đội hải quân đang sống ngoài đảo xa với muôn vàn khó khăn gian khổ, thiếu thốn, cùng nỗi nhớ nhà luôn thường trực. Không dừng lại ở đó, tác giả còn hướng độc giả nhỏ tuổi đến lòng nhân ái, sự sẻ chia với những người xung quanh và vươn tới khát vọng mang tầm nhân loại: “Em vươn vai đứng dậy/ Mong trái đất hòa bình/ Đừng bao giờ chiến tranh/ Mà đau hòn máu đỏ” (Em nghĩ về trái đất). Đó là những bài học mà thơ Nguyễn Lãm Thắng đã truyền tải trong thơ  của ông một cách rõ ràng và mạnh mẽ.

Ngược lại với Nguyễn Lãm Thắng, Nguyễn Quốc Vương không trực diện thể hiện những lời khuyên đạo đức, thông điệp của nhà thơ đến từ những trăn trở trước sự biến đổi của không gian văn hóa quê hương, qua đó khơi dậy ở bạn đọc tình yêu và nỗi nhớ đối với nguồn cội. Thơ Nguyễn Quốc Vương không chỉ đơn thuần miêu tả cảnh thân thuộc nơi quê nhà mà còn bộc lộ tiếng lòng với từng tấc đất quê hương. Mỗi bài thơ như một lời tâm tình dành cho nơi chôn rau cắt rốn.

Trong lời tựa tập thơ “Điều bí mật trong vườn” tác giả chia sẻ: “Tôi rất yêu quê tôi một làng nhỏ nằm không xa Sông Thương”. Tình yêu ấy không hề khoa trương mà thấm đẫm trong từng câu chữ. Đó là cách nhà thơ trân trọng những giá trị truyền thống qua việc tái hiện bức tranh ngày mùa rộn rã, tươi vui với đầy đủ âm thanh và màu sắc: “Sân nhà vàng rơi/ Trông mưa trông nắng/ Mùa gặt đã về/ Rơm vàng chất đống/ Trốn tìm mải mê/ Mỏng manh làn khói/ Thơm mùi rạ rơm/ Bữa cơm mùa gặt/ Bên thềm trăng lên” (Mùa gặt) hay hình ảnh một không gian thân thuộc với bất kỳ ai đã sinh ra và lớn lên ở làng quê Bắc Bộ với mái ngói hồng tươi, sân phơi đầy ắp rơm vàng, hàng dâm bụt đỏ: “Từng mái ngói san sát/ Nhuộm hồng ánh mặt trời/ Trước mặt là sân phơi/ Ngồn ngộn vàng rơm lúa/ Dọc lối đi vào cửa/ Hàng dâm bụt đỏ tươi” (Bức tranh của bé)…

Tất cả đều mang đậm giá trị truyền thống văn hóa Việt. Nhưng phía sau tình yêu trân quý đó là một nỗi buồn man mác khi “lũy tre xanh bao quanh làng không còn nữa”, “cánh đồng đã hẹp đi, nhiều loài chim đã biến mất”. Chính sự mất mát ấy đã biến những vần thơ của tác giả trở thành một “bảo tàng kí ức”, nơi tác giả lưu giữ những giá trị văn hóa và cảnh sắc làng quê đang dần phai nhòa. Đây cũng là thông điệp nhẹ nhàng gửi tới bạn đọc nhỏ tuổi: hãy luôn trân trọng những điều đang có trước khi chúng vĩnh viễn thuộc về quá khứ.

Những bài học cuộc sống trong thơ Nguyễn Lãm Thắng đến với bạn đọc như lời dặn dò của một người thầy tận tụy, còn trong thơ Nguyễn Quốc Vương tựa như một người bạn tri kỷ đang thầm thì kể lại những câu chuyện long lanh từ kí ức. Nếu các bài học cuộc sống là nội dung thì ngôn ngữ nghệ thuật chính là hình thức để chuyển tải. Điều này lý giải vì sao, cùng hướng đến giá trị nhân văn nhưng thơ của Nguyễn Lãm Thắng và Nguyễn Quốc Vương lại mang những sắc thái nghệ thuật riêng.

Tác giả bài viết, nhà nghiên cứu Phạm Phương Liên

Sắc màu cá nhân trong mỗi bức tranh thi ca

Thơ Nguyễn Lãm Thắng dễ đi vào lòng độc giả bởi tác giả sử dụng ngôn ngữ trong sáng, giàu nhạc điệu cùng hệ thống hình tượng sinh động và chân thực. Ngôn từ giản dị, gần gũi như chính lời nói hàng ngày của trẻ nhỏ. Nhịp điệu thơ vui tươi, dễ đọc, nhiều bài thơ như Học đếm, Quà cho em bé, Cò ơi, Chuồn kim… giống như một bài đồng dao cho trẻ nhỏ và một số bài thơ giàu tính nhạc như: Ru em, Đêm trung thu, Em yêu tổ quốc của em…

Bên cạnh đó điểm đặc sắc trong thơ Nguyễn Lãm Thắng còn thể hiện qua hệ thống hình tượng phong phú, từ những em bé ngoan ngoãn, hồn nhiên đến các loài vật, đồ vật được nhân cách hóa mang những đặc điểm giống con người như bạn gió ngoan ngoãn, bạn mây hay khóc nhè, chú gà trống kiêu căng, hợm hĩnh, bạn cún con ngộ nghĩnh, bác chổi già chăm chỉ… mỗi nhân vật đều mang một tính cách riêng. Nhờ đó, những thông điệp giáo dục không hề bị áp đặt mà được thẩm thấu một cách tự nhiên qua từng câu chuyện ngộ nghĩnh, đáng yêu. Điều này cũng cho thấy sự am hiểu tâm lý trẻ thơ và khả năng biến hóa ngôn ngữ linh hoạt của tác giả.

Khác với Nguyễn Lãm Thắng, Nguyễn Quốc Vương chọn lối diễn đạt với ngôn từ mộc mạc, giọng thơ trữ tình thấm đẫm chất hoài niệm. Những hình ảnh tác giả xây dựng như: “hàng dâm bụt”, “bụi tre”, “cây cau”, “sân nhà” … không hề cầu kỳ, hoa mỹ nhưng chính cái chất mộc mạc, chân phương ấy tạo nên một thế giới rất đỗi thân thương, gợi nhớ khung cảnh của làng quê Việt Nam xưa cũ. Cảm hứng chủ đạo bao trùm trong thơ Nguyễn Quốc Vương qua các bài thơ Những con đường đồng nội, Mùa gặt, Trưa hè, Câu hỏi trong đêm… là nỗi nhớ và sự tiếc nuối, day dứt luôn thường trực. Nhịp điệu thơ chậm rãi, trầm lắng, như tiếng lòng của một người con xa quê luôn đau đáu với “hành trình tìm lại chính mình”. Chính sự chân thành ấy đã làm nên sức lay động riêng, không thể lẫn của phong cách thơ Nguyễn Quốc Vương.

Như vậy, dù mỗi người một chất liệu nghệ thuật nhưng Nguyễn Lãm Thắng và Nguyễn Quốc Vương đều có một điểm tựa chung là tình yêu và sự chân thành với độc giả nhỏ tuổi. Nếu Nguyễn Lãm Thắng lấy nhạc điệu, hình ảnh nhân hóa làm chất liệu chính để mở ra một thế giới trẻ thơ tươi mới thì Nguyễn Quốc Vương lại khắc sâu trong lòng bạn đọc bằng cảm xúc và ngôn từ mộc mạc.

Dù có những điểm khác biệt về góc nhìn và phong cách thơ nhưng Nguyễn Lãm Thắng và Nguyễn Quốc Vương đều có chung một điểm gặp gỡ quý báu là tình yêu trẻ thơ và khát khao nuôi dưỡng tâm hồn, ươm mầm những giá trị sống tốt đẹp cho các em. Thơ Nguyễn Lãm Thắng như một người thầy, dìu dắt, nâng đỡ các em bằng tình yêu và mơ ước. Nguyễn Quốc Vương giống một người anh lớn, cùng các em trân trọng kí ức và nâng niu nguồn cội. Cả hai tác giả đều góp phần làm phong phú thêm mảng thơ thiếu nhi đương đại và để lại dấu ấn khó phai trong lòng bạn đọc. Hơn thế, những vần thơ ấy còn là món quà tinh thần vô giá, cùng đồng hành với các em trên hành trình khôn lớn và trưởng thành. Và có lẽ, đó cũng chính là “điều bí mật” mà cả hai nhà thơ muốn gửi gắm, để hành trình lớn lên của mỗi đứa trẻ luôn được nâng đỡ bởi những kí ức đẹp và các giá trị nhân văn mà thơ ca mang lại.

PHẠM PHƯƠNG LIÊN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *