Vanvn- Nhà thơ Kim Ba tên thật là Hồ Văn Cam, sinh năm Canh Tý (1960), quê ở xã Sơn Đông, thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre nay thuộc tỉnh Vĩnh Long; Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre.
Tập thơ “Một mảnh hồn xanh” của nhà thơ Kim Ba, do Nxb Hội Nhà văn ấn hành cuối tháng 8.2025; gồm 69 bài, 150 trang in, khổ 13 x 20 cm, bìa màu xanh non da trời. Tập thơ viết nhiều thể loại: Thơ lục bát, thơ 5 chữ, thơ 7 chữ, thơ hai câu, thơ tứ tuyệt, thơ tự do… trong đó thơ lục bát chiếm phần lớn, có đến 19 bài.

Chủ đề thơ anh khai thác những sự vật, hiện tượng, thiên nhiên, con người thuần hậu trên mảnh đất quê nhà. Giọng điệu thơ chậm rãi, sâu lắng, thâm trầm nhưng lột tả hết những gì nhà thơ muốn nói, khiến cho người đọc bị thôi miên theo từng con chữ.
Thơ anh gieo vần theo thể thơ truyền thống, có vần điệu, có nhạc điệu, có hình ảnh, có hình khối nên thơ dễ cảm, dễ đi vào lòng người yêu thơ. Thơ anh giản dị, hiền lành như con người anh vậy. Những câu nói dân dã thường ngày của bà con lao động đi vào thơ anh một cách tự nhiên, nhưng không kém phần khúc triết, gãy gọn, mang tính hình tượng cao.
Tỉnh Bến Tre cũ đi về các huyện: Châu Thành, Chợ lách, Giồng Trôm, Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, thậm chí cả thành phố Bến Tre, nơi đâu cũng bạt ngàn dừa là dừa nối nhau xanh mát mắt nhìn. Chả thế nên nhà thơ Kim Ba tự nhận: “Tôi/ đứa con đồng bằng đầy ắp gió/ đứa con đồng bằng mê vọng cố” (Góc tâm linh).
Nhắc đến xứ dừa là nhớ đến bài hát nổi tiếng của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, lời bài hát ca ngợi mảnh đất và con người Bến Tre anh hùng trong 2 cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc: “Ai đứng như bóng dừa tóc dài bay trong gió/ Có phải người còn đó là con gái của Bến Tre/ Năm xưa đi trong đạn lửa đi như nước lũ tràn về/ Ơi những con người làm nên Đồng Khởi”.
Từ khi xuất hiện, bài hát chọn làm nhạc hiệu của Đài Phát thanh – Truyền hình Bến Tre. Còn trong bài thơ “Lao rao tiếng dừa” nhà thơ Kim Ba dùng hình tượng, ví cây dừa như người lính đứng gác, hứng hết bão giông, tỏa bóng âm thầm chở che cho người dân hiền lành quê mình: “Dịu dàng đứng lặng thế thôi/ Như người lính gác đất trời quê hương/Bông dừa dìu dịu màu thương”.
Hình ảnh người con gái xứ dừa day trở trong thơ anh thật đẹp, thật sống động, tóc dài da trắng, nụ cười duyên “Em không lộng lẫy kiêu sa/ chẳng son phấn áo bà ba dịu hiền” và thật kiêu hãnh về một vùng đất “Vẫn dáng dừa ca hát giữa trời xanh/ Vẫn dáng em dịu dàng qua bão tố…Có bóng dừa bóng em tên đất đã sinh thành/ Bến Tre xanh một mảnh hồn xanh”. Nhà thơ chọn bốn chữ “một mảnh hồn xanh” để đặt tiêu đề cho cả tập thơ cũng là dụng ý hợp lý.
Nếu không yêu quê da diết, người làm thơ vô tâm sẽ dễ bỏ qua hình ảnh chịu thương chịu khó của người phụ nữ trong bài thơ Người rọc lá: “Đi từ vườn chuối này qua vườn chuối khác/ Với chiếc liềm cong bén ngọt trong tay…Chị cần mẫn và ẩn hiện như một nàng ong thợ/ Với điệu múa không lời xưa cũ/ Đứng lên cúi xuống rọc biết bao tàu lá chuối kia/ Loại bỏ những quắt queo, khô giòn, rách xé/ Giữ lấy từng chút nguyên lành”.
Mảnh đất Bến Tre quê hương tác giả bốn bề sóng nước bao quanh: “Nơi bất thần tụ hình cơn bão/ Nơi chập chờn khói sóng bóng mây/ Mà thấm thía đời người ngắn đời sông dài/ Để bền lòng chờ phù sa trưởng thành, cây trái lớn khôn/ Thế là mọc lên Ba Thôn, Năm Thôn. Tên làng xóm buổi sơ khai nghe thân gần tình cột kèo tre nứa/ Trong hơi thở của cây có điều chi chất chứa/ Mà chòi rạ lều rơm ngày mỗi lớn dần lên thành tường trắng ngói hồng/ Bịn rịn hương sầu riêng nặng trĩu/ Hương nhãn, hương chanh tỏa sáng sương sông …” (Người ở Cù Lao).
Sinh ra và lớn lên trên cánh đồng quê thân thuộc, tiếng ếch nhái, tiếng cá quẫy, tiếng dế mèn vào mùa tìm bạn tình gáy lảnh lói đã gieo vào giấc ngủ nhà thơ. Mỗi lần từ thành phố về thăm nhà, anh bỗng gặp khung cảnh miền quê ngập tràn ánh trăng trong xanh huyền diệu, nhà thơ để chân trần đê mê bước dưới ánh trăng bồng bềnh cho trái tim mình cất tiếng hát “Lòng mơ về quê hương rực lửa/ Đuốc lá dừa rồng rắn đỏ đêm xưa/ Gì xui khiến tôi về đây không ngủ/ Để trăng xanh đánh động niềm thơ ” (Cảm nhận trăng).
Tuổi hai mươi nhà thơ rời quê lên phố, thương quay quắt cánh đồng làng gặp hạn để má lo không ngủ được, nhớ tiếng ếch kêu mưa khản cả giọng hơi phèn, nhớ gốc rạ gầy, nhớ bờ mẫu vàng khô cỏ cháy, anh coi váng bùn ôm chân người nông dân thơm như mùi sữa của đất. Xuất thân từ gốc gác nông dân nhưng mang tâm hồn thi sĩ, anh tâm sự “Rời cánh đồng hơn mười năm dằng dặc/ Tôi lắng mình trong nỗi nhớ đất đai/ Những bài thơ trong túi như một chút gia tài/ Tôi giàu có và tôi nghèo khó/ Mười năm dài tôi đi trong bão gió/ Giữa buồn vui và nỗi nhớ xốn xang ” (Cánh đồng).
Viết về má, nhà thơ chọn hình ảnh thật gần gũi mà người con trên khắp đất nước hình chữ S này nếu có má làm nghề nông sẽ không xa lạ gì cảnh đi dặm lúa trên đồng. Nhưng khi đọc những câu chữ trong bài thơ “Má dặm lúa một mình” làm ta quặn thắt lòng, đôi tay má gầy run run tẻ từng dảnh mạ, má đơn độc như con cò, dù tuổi cao sức yếu lưng đau gối mỏi vẫn âm thầm bám đồng bám lúa; tuổi mới mười ba má đã đi cấy, tuổi mười bảy má lấy chồng “Má sinh con suýt nữa rớt ngoài đồng/ Chiếc khăn quấn con còn ấm mùi bùn/ Cắt rún bằng chiếc liềm gặt lúa”.
Trưởng thành đi xa nhưng không giúp được gì cho má, nhà thơ thương má thương quê quá đỗi, cầu mong thiên nhiên đừng khắc nghiệt quá để ruộng lúa một nắng hai sương của má được bội thu “Sáng nay về quê không nén nỗi bồi hồi/ Khi gặp má một mình dặm lúa/ Nghe tiếng con ngước nhìn, nở cái cười rạng rỡ/ Vụt xóa trắng trong con bao lo lắng mơ hồ”.
Anh trân trọng giành một phần thơ tặng bạn bè thân hữu, điều đó thật đáng quý. Trong bài thơ “Như xuồng ba lá – tặng Tô Khắc Duy” âm vang tiếng sáo diều cõng câu thơ bay vút lên cao, còn ở dưới sông con sóng sông chiều đi nghiêng, nghe thanh bình quá đỗi. Xuồng ba lá là phương tiện di chuyển phổ biến ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, không kém phần lãng mạn “Thả tình/ nhấp/mấy tứ thơ/ Xuồng ba lá/ vẫn neo chờ/ bến quê…”.

Trong bài thơ “Người mẹ bán tro – Nhớ MẸ BA của con” đọc xong bài thơ, lòng tôi rưng rưng xúc động, nước mắt như muốn trào ra. Hình ảnh người mẹ nông thôn nghèo khó, không có gì để bán, đành phải đi bán tro cho người bón lúa kiếm mấy đồng tiền ít ỏi trang trải cuộc sống hàng ngày và lo cho đứa cháu ăn học “Má xin rơm gánh về phơi nắng/ Phơi nỗi lo trong rừng rực trưa nồng/ Đứa cháu đang học lớp vỡ lòng/Giúp được gì cho má?/ Rơm vừa khô má đốt vội gom tro/ Đong từng thúng bán cho người bón lúa/ Mấy đồng tiền sao vơi nhẹ nỗi lo/ Mắt cháu cười làm dịu cơn nắng lửa”.
Tuy vậy “Má vẫn tin đá mềm, chân cứng/ Quên mắt mình cũng đã ngã màu tro”. Đúng là người má kiên trung trải qua mưa bom bão đạn, chiến tranh khốc liệt, đói khát trong những năm tháng bị địch kềm kẹp. Nay sống trong cảnh hòa bình, má tìm cách mưu sinh. Miền quê trong thơ Kim Ba lọt thỏm giữa vùng đất thấp “Tháng Sáu mưa tuôn, tháng Mười nước ngập/ Con còng lửa bò ngang thềm đất/ Con thòi lòi nhảy chủm trên sân” những hình ảnh ấy thật sinh động, thân thương. Miền quê ấy đêm đêm “Gió thở dài ray rứt/ Trên những mái nhà thao thức/ Chuối chẳng nên bờ dừa chưa thành vườn/ Cây còn ít lá cá không đầy mương”. Mới tuổi mười lăm mà nhà thơ tương lai đã vác những bao lúa tươi sũng nước, dưới cơn mưa rơi chớp xé toang trời “Mưa ngấm hương đồng mặn môi”.
Anh trăn trở sau ngày giải phóng miền Nam, cuộc sống của người dân quê anh vẫn chưa hết gieo neo, còn nhiều cây cầu khỉ lắc lư, còn nhiều con đường gấp khúc, lồi lõm, cong queo của dân xóm Bưng “Mắt nhìn xuống chân không thể nhìn phía trước/ Sơ sẩy chút thôi là trượt/ Trẻ con đi học áo bết bùn nhem nhuốc mặt mày”. Lúc tuổi còn thơ dại, tác giả nhớ cảnh giặc lùng sục khủng bố, súng nổ, những khẩu AR15 soi mói từng tán dừa, khóm chuối, bụi tre “Lại một người bị trói, dẫn đi/ Buổi sáng ấy chú út tôi bị trói tay lầm lũi bước/ Sau lưng là họng súng lạnh tanh và sắc áo rằn ri (Con đường).
Đến Tết Trung thu, nhà thơ thả bộ ngắm hàng phố bày bán nhiều đèn ông sao, đèn cá chép, đèn kéo quân và rất nhiều loại đèn hiện đại khác gắn pin chớp xanh chớp đỏ thật bắt mắt, muôn sắc ngàn tía, giăng mắc mời gọi con trẻ. Bỗng nhà thơ chạnh lòng nhớ tuổi thơ cơ cực cùng bạn bè làm đồ chơi tự chế đèn ông sao bằng tre đan, mặt nạ bằng mo cau. Nhà thơ bước chậm rãi suy tư “Bâng khuâng giữa phố đèn lồng/ Tôi nay thơ thẩn đi tìm tôi xưa…Lồng đèn mắc dọc giăng ngang/ Tôi ngơ ngẩn giữa không – gian – đèn – lồng/ …Tôi cầm kỷ niệm trong tay/ Thắp hạt lửa nến để loay hoay buồn” (Giữa phố đèn lồng).
Xuyên suốt tập thơ “Một mảnh hồn xanh” tác giả khai thác chất liệu cuộc sống diễn ra trên mảnh đất quê mình. Và viết về thiên nhiên tươi đẹp, về các địa danh nổi tiếng mà anh từng đặt chân đến: Cồn Tàu, Cửa sông Cổ Chiên, Cù lao Phú Bình, hồ Thuỷ Chung, Rừng Dương, Hà Tiên, Cô Tô… Bên cạnh đó, thơ anh trăn trở nhiều điều của thực tại chưa được như mơ ước “Tôi nào ngờ giữa bao nhiêu tuyệt vọng/ Trong ngực mình chưa tắt – những – lửa – nồng”.

Nhà thơ Kim Ba đã xuất bản các tập thơ: “Ai đi xe mo cau” viết cho thiếu nhi, năm 1998; “Trăng hoàng hôn” năm 1993; “Mùa nồng nàn” năm 2007; và hai tập truyện ngắn viết cho thiếu nhi “Con mắt con tàu xanh”, “Viên bi kỳ diệu” đều xuất bản năm 2001. Anh từng đoạt giải nhất cuộc thi thơ hay năm 1993, do tuần báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh tổ chức.
Nhà thơ Kim Ba tên thật là Hồ Văn Cam, sinh năm Canh Tý (1960), quê ở xã Sơn Đông, thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre (cũ); Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre.
Cuộc đời ngắn tựa gang tay, nhà thơ Kim Ba mới tuổi đôi mươi tràn đầy hồn thơ đó, nay đã gần “thất tuần”. Mượn câu thơ của anh để thay lời kết. Anh bâng khuâng “Thoắt nhớ như tôi…vừa quên/ Một điều gì đó gọi tên chưa thành/ Nhìn quanh quất, lại nhìn mình/ Thoảng làn nắng mỏng, thoảng mành mưa rây/ Thoảng qua ngày tháng xanh đầy/ Giật mình tóc bạc mây bay cuối trời …” (Thoắt nhớ – Tặng nhà văn Ngô Khắc Tài).
Gấp tập thơ “Một mảnh hồn xanh”, lòng tôi bâng khuâng và yêu hơn mảnh đất miền Tây Nam bộ quê hương của nhà thơ Kim Ba.
NGUYỄN XUÂN SANG
- Thống nhất danh sách 29 hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ
- Đồng Nai – Bức tranh văn hóa đa sắc
- Là con gái, ai cũng ước có cơn mưa mùa hạ
- Trống Che và Mái Mơ – Truyên thiếu nhi của Đào Phạm Thùy Trang
- Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư ở tuổi 106: Muốn dân tộc đi xa, phải bắt đầu từ tâm hồn trẻ nhỏ















