Bùi Thanh Hà và những vọng khúc ru mùa chữ

Vanvn- Ba nguồn mạch cảm xúc cơ bản hình thành nên ba mảng thơ ấy tạo nên một Ru sông đầy đặn về ý tứ, mạch lạc và nhất quán về tư tưởng! Đồng thời còn tạo ra cách tiếp nhận dễ dàng và hiệu quả nhất cho người đọc, cách tổ chức ấy kéo gần hơn khoảng cách giữa người viết và người đọc khi tiếp cận tác phẩm!

Nhà thơ Bùi Thanh Hà

1. Thi ca thói thường vốn ưa sự phóng khoáng, tự do, độc lập của chủ thể để thành công. Tuy nhiên cái ý ấy chỉ đúng với phần việc sáng tác và tư duy sáng tác, còn với việc xuất bản những ấn phẩm thơ, thì sự ngẫu hứng, tự do trong việc tổ chức bản thảo đôi khi lại làm giảm giá trị của thi ca.

Khi xuất bản, công tác tổ chức nội dung, bố cục của tập thơ sẽ là nền tảng quan trọng, để người đọc tiếp cận tư tưởng và ý thức sáng tác của tác giả! Việc tổ chức chặt chẽ của một tập thơ, thể hiện tầm tư duy và tư tưởng của tác giả, thể hiện sự tôn trọng của người viết đối với độc giả! Tiếp cận tập thơ Ru Sông của nhà thơ – nhà giáo Bùi Thanh Hà chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra điều ấy!

Ấn phẩm Ru sông với ba mạch thơ chính, được tuyển lọc từ hàng ngàn bài thơ mà tác giả viết trong mấy năm vừa qua. Với dung lượng gần hai trăm trang in dày dặn, Ru Sông được hình thành từ ba nguồn mạch thơ sâu lắng, uyên áo và sáng tạo về Tổ quốc, về cõi riêng, về sự chuyển hóa và giải thoát của kiếp người!

Chúng tôi cho rằng chỉ cần tiếp cận và tìm hiểu về ấn phẩm Ru sông là đã là đủ cơ sở để minh định về thơ Bùi Thanh Hà trong tổng thể dòng chảy thi ca của văn học Việt Nam hôm nay!

2. Nhà giáo, nhà thơ Bùi Thanh Hà hiện là một cây bút thơ nữ trong Hội Nhà văn Hà Nội, thơ chị xuất hiện với tần suất khá dày trên những trang báo văn chương uy tín hiện nay như báo Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội, Văn nghệ Công an, Vanvn.vn…!

Thơ Bùi Thanh Hà mang nhiều dấu ấn sáng tạo nghệ thuật cả về nội dung và hình thức. Ngay với cách tổ chức nội dung và phân vùng chủ đề cảm xúc cho tập thơ Ru sông đã mang một sự ý thức nghệ thuật rất rõ nét!

Ấn phẩm được chia làm 3 phần với các chủ đề rõ rệt. Phần I là Vọng thiêng xanh, Phần II là Người đàn bà hát và Phần III là Lời ru cho anh.

Ba nguồn mạch cảm xúc cơ bản hình thành nên ba mảng thơ ấy tạo nên một Ru sông đầy đặn về ý tứ, mạch lạc và nhất quán về tư tưởng! Đồng thời còn tạo ra cách tiếp nhận dễ dàng và hiệu quả nhất cho người đọc, cách tổ chức ấy kéo gần hơn khoảng cách giữa người viết và người đọc khi tiếp cận tác phẩm!

Bìa tập thơ “Ru sông” của Bùi Thanh Hà

Phần đầu của tập thơ là Vọng thiêng xanh mở ra từ phía cổ tích và lịch sử, từ phía những mất mát, hy sinh của các thế hệ hôm qua, hôm nay cho sự trường tồn của nước non này. Trong miền thiêng xanh ấy có những tứ thơ mang cách tiếp cận, tương tác, diễn giải rất chân thành mà ám gợi về chiến tranh và lịch sử! Đây là dấu tích của “những bến trông chồng” hắt lên bóng chữ:

Cỏ bờ đê bạc nắng bốn mùa/ Những người lính ra đi không trở lại/ Chở nước mắt mặn mòi bao người vợ/ Sông u buồn ru nỗi nhớ người xa…/ Mẹ đưa con về thăm quê ngoại/ Về làng ta nằm dọc triền sông/ Nơi có bến gọi là Bến Trông Chồng/ Những người đàn bà gội tóc thành mây trắng. (Qua Bến trông chồng).

Thơ của nhà giáo Bùi Thanh Hà là thơ của cảm xúc và trí tuệ, thơ ấy chạm những vấn đề lớn của cõi người bằng sự chuyển hóa theo phương thức “thuận tự nhiên” của đại Đạo, để những mất mát, đau thương hóa thành những thiêng liêng, giữ nền tảng của một sự trường tồn:

Những câu ca mẹ hát về quê hương/ Vỗ về con, thấm vào từng bờ cát/ Đất nước ngàn đời chưa bao giờ hết giặc/ Sóng sông Hồng thao thức gọi Cửu Long/ Những lời ru từ thuở xa xăm/ Những giọt phù sa nồng nàn đắp bồi tâm hồn con năm tháng… (Dòng sông và lời ru).

Thật sự cái duyên thơ, nghiệp thơ đối với mỗi nhà thơ thường chỉ đọng, chỉ sâu đối với một vài thể tài nào đó. Chỉ khi họ tiếp cận đúng thể tài trời cho họ và hóa thân vào đó, thì một nguồn mạch thơ ca sẽ hiển lộ:

Trong em có một chiều trở lại/ Xao xác bờ tre…/ Lặng lẽ hai người/ Họ chỉ lặng nhìn nhau qua giậu mồng tơi/ Chiếc khăn trao tay ánh lên màu chỉ đỏ/ Em chợt thấy cánh bồ câu trong gió/ Bay lên… bay lên. (Chiều thu lặng lẽ).

Cảm thức về Tổ quốc, về những người lính Cụ Hồ làm nên những trang thơ của phần Vọng thiêng xanh đầy đặn. Thơ trong ấy, dù được viết bằng thể thức tự do hay truyền thống, tất cả đều được cấu tạo bằng mạch cảm xúc chân thực và mạnh mẽ của một nguồn thơ. Thi ca đích thực có thể hiện diện theo nhiều hình thức khác nhau, nhưng cái ruột gan của nó thì chỉ có một dạng thức đồng nhất: Đó là những câu chữ được sinh thành từ cảm thức thật sự của tác giả.

Mỗi làng quê nước Việt/ Tiễn bao người con đi/ Tổ quốc nằm thao thức/ Lưng còng gọi thầm thì/ Lúa luân hồi xanh mãi/ Mắt xuân long lanh cười/ Tóc mẹ tia chớp bạc/ Sáng chân trời xa xôi. (Cánh đồng mẹ).

Trong phần Vọng thiêng xanh, câu chữ thơ đọng thành những chiếc bóng của thời gian và lịch sử. Đó là bóng của nước non này tụ vào dáng mẹ với những hy sinh nghẹn lặng, là bóng của tình yêu một thuở, hiển hiện đượm vàng bên mé chiều hiện đại với chiếc khăn tay của những thiên thần. Có cả những chiếc bóng của những người lính vừa mới hóa thiên thần để bảo vệ Tổ quốc và Nhân dân trong những hiểm nguy từ thiên tai và giặc giã hôm nay!

***

Phần 2 của ấn phẩm Ru sông có tên là: Người đàn bà hát. Trong ấy là một chiều tâm cảm với tư duy thơ độc lập, sáng tạo từ trong bản thể, là tiếng hót tự do của loài thơ đích thực trên cánh đồng đời. Trong ấy, tiếng thơ ngân rung, dãi dề một cái TÔI đang chuyển hóa cùng cuộc sống!

Chúng ta gặp ở phần này rất nhiều câu thơ đẹp, những trường đoạn chữ cứ ngân lên, ngân lên bằng nhịp điệu, bằng những chi tiết độc đáo, được tạo ra từ góc nhìn và tâm thức của tác giả:

Tôi đi về phía bình yên/ sông tự mình trong/ hoa tự mình thơm/ vẫn thầm nhớ những bàn chân bấm đất/ vẫn thầm nhớ đôi tay người gieo hạt/ Tuổi thơ xa tít chân trời. (Tuổi thơ vẫy gọi).

Nếu như ở phần đầu, Bùi Thanh Hà tạo ra một tầng thi quyển thiêng liêng bởi các tứ thơ cũ, mới đan xen nhau, tụ đỡ cho nhau, lập dựng nên ngôi chữ thiêng, bằng những khúc trầm ca đa tầng về Tổ quốc, về những người lính, về sứ mệnh của người phụ nữ trong và sau chiến tranh! Thì ở phần Người đàn bà hát là những tự khúc cứ nhi nhiên mà trổ lên từ mạch cảm thức thơ về quê hương, gia đình, bằng tiếng vọng của hoài niệm, bằng sự kiến giải và thức ngộ qua các giai tầng chuyển hóa của thi ca!

Tháng Ba hôm nay vừa ngỏ/ Treo vành trăng nhỏ lung liêng/ Chợt nhớ mắt người hôm đó/ Sương bay ướt cả tóc mềm. (Tháng ba thương nhớ).

Nỗi buồn nào đi ngang/ Rủ thanh xuân của tôi đi biền biệt/ Ngọn sóng nào có biết/ Thanh xuân trôi về đâu. (Hoài niệm).

Thơ ca Việt Nam cho đến bây giờ, phần nhiều vẫn chìm trong hoài niệm, vẫn vọng âm về những cái đã qua. Điều ấy không hẳn là kém cỏi, nhưng nếu giá trị của thơ chỉ để vuốt ve và ru đỡ quá khứ, thì thật thiệt thòi cho người đọc của thơ Việt Nam hôm nay!

Em đứng bên bờ gió/ Gọi mùa hoa trở về/ Chỉ gặp làn sương tím/ Chùng chình mơ cánh ve. (Gọi mùa).

Giá trị của thơ không chỉ là hoài cổ, là rung ngân với quá khứ, mà điều quan trọng hơn, thơ cần tương tác trực tiếp, góp phần giải tỏa những nỗi niềm đang hiển hiện trong xã hội và kiếp người hôm nay. Đọc thơ đương đại, thấy đã có nhiều nhà thơ làm được điều đó, nhất là trong sáng tác của các nhà thơ nữ thế hệ mới, như Trang Thanh, Bình Nguyên Trang, Hoàng Thụy Anh, Trần Mai Hường, Vũ Minh Huệ, Đỗ Thu Hằng… và dĩ nhiên là thấy cả trong mạch thơ của nữ sĩ Bùi Thanh Hà mà chúng ta đang tiếp cận qua ấn phẩm này.

Chiếc tổ nhỏ đầy ắp lời của gió/ Mềm như tơ lấp lánh mỏ vàng/ Tròn sứ mệnh rớt xuống đời hóa cỏ/ Để một bầu trời trong vắt tiếng ca vang. (Tổ chim bé bỏng chợt rơi).

Nữ sỹ Bùi Thanh Hà làm thơ, trước tiên là để ru đỡ và giải tỏa chính những nỗi niềm của mình. Nỗi niềm riêng ấy là NHÂN theo chữ nghĩa của sự thức ngộ mà được hóa giải và tạo ra thành QUẢ ở cõi Thơ.

Em chỉ là bông hoa cỏ thôi anh/ Khe khẽ hát… mong manh cùng đá núi/ Chẳng dám mơ đỉnh non cao vời vợi/ Em ru mình, ru mặt đất bình yên… (Lời hoa bé bỏng)

***

Nhà thơ Nguyễn Thế Kiên – tác giả bài viết

Phần thứ ba của tập thơ Ru sông có tên: Lời ru cho anh. Đây là nơi những trang thơ mang đẫm nỗi riêng tư, nhưng cái riêng tư của thi ca luôn tạo ra sự cộng hưởng bởi ý tứ, bởi tầng thứ tiếp cận, giải tỏa và chia sẻ mà mạch ngôn ngữ thơ của người viết đã lập dựng được!

Thơ trong phần ba này là những tiếng du ca ngân lên từ một cõi tình. Một không gian trong trẻo của yêu thương, câu chữ như đã thoát xác để được chuyển hóa, thanh lọc tới tầm tư tưởng của cõi yêu. Bởi vậy, nó không còn vồn vã, cuống quắp nhục thể, không còn hờn dỗi, ghen tuông, trong ấy, tràn ngập những cung chữ lấp lánh:

Hình như anh để quên/ làn hương thoang thoảng tóc em bay/ đêm trăng ấy đong đầy xao xuyến/ con đường mênh mang dát vàng kỷ niệm/ hương đêm say nồng nàn…/ Những đóa hoa vàng trong gió mong manh/ nhắc anh không trở lại/ nơi góc vườn xưa xa ngái/ hương hoa gọi gió bay về. (Hương xưa).

Những cung tình trong phần Lời ru cho anh như được sinh ra từ một cõi khác, ở đấy có những sợi tóc tuổi chiều hóa thành sợi vàng sợi bạc. Ở nơi ấy, mỗi ngọn gió, mỗi dấu chân kỷ niệm đều như hóa hiện vật của một bảo tàng tình yêu:

Anh nâng niu sợi tóc vàng của em/ Tóc anh là tơ bạc/ Làm sao xanh dày, lùa ấm tay em mỗi buổi đông về/ Ngoài kia giá lạnh tái tê/ Có ngọn lửa hồng tim ấm áp/ Trong tay anh và em những sợi vàng sợi bạc/ Quấn quýt nhau trong gió hát đợi xuân sang. (Sợi vàng sợi bạc).

Đọc những trang thơ trong phần Lời ru cho anh, theo đường dẫn của câu chữ, ta nhận ra cái còn, cái mất trong cõi yêu của riêng chị! Tuy nhiên, tất thảy những trạng thái cảm xúc ấy đã được giải thoát bởi thi ca, rồi câu chữ miền yêu ấy tự cất cánh bay lên:

Có em rồi yên giấc ngủ đi anh/ Đừng sợ lo gì cả/ Lần nào anh thập tử nhất sinh em cũng khẳng định dịu dàng như thế/ Thật lạ lùng mỗi lần em thủ thỉ/ Anh tin tưởng gật đầu thiếp ngủ tựa trẻ thơ…/ Lòng em bão mưa/ Nỗi đau gào thét/ Nhưng môi em ngọt ngào mang câu hát/ Có em rồi… yên giấc ngủ đi anh. (Lời ru cho anh).

Thơ rất cần có cơn cớ tự miền riêng để cảm xúc khởi phát, nhưng xử lý những nguồn mạch cảm xúc ấy như thế nào để thi ca thật sự đi từ một sự tương tác, tỏ bày, chia sẻ… đến sự chuyển hóa được những nỗi niềm người, thì phải cần đến tài hoa và trí tuệ của người viết:

Em ôm mùa xuân vào lòng/ Nắng đã tắt trên cánh đồng nhung nhớ/ Cánh chim mang lẻ loi bay đi vội vã/ Những cánh hồng ủ hương/ Nước mắt về đêm bỗng hóa thành sương/ Lăn dài buồn thương trên triền cỏ/ Có đôi cánh tình yêu trong ngọn gió/ Vỗ hoài thức dậy mùa xuân… (Em và xuân).

3. Trong đời sống văn học hôm nay, để giới thiệu một ấn phẩm thơ thì có lẽ những bài viết ở dạng thức này có thể không còn cần thiết nữa. Nhưng để nhận dạng và định dạng cho một phong cách viết, để tương tác với một quá trình sáng tạo, từ đó góp phần định vị thêm một tác giả văn học, thì những bài tương tác như thế này trộm nghĩ vẫn còn cần thiết.

Bài viết của chúng tôi không làm thay bạn đọc ở việc thấu cảm tác phẩm, những ý tứ mà chúng tôi chia sẻ ở đây là sự tương tác với những trang thơ của nhà thơ Bùi Thanh Hà, từ đó làm nổi bật sự lao động và thiên tư nghệ thuật trong thơ của chị!

Ấn phẩm Ru sông với gần hai trăm trang thơ, được tác giả bố cục thành ba phần đầy dụng ý. Cách bố cục ấy đã làm tăng tính tư tưởng của thơ, và còn tạo cơ sở cho người đọc nhận diện được tính chuyên nghiệp của một cây bút thơ. Nghề thơ, có bài hay bài dở, có tứ được, có tứ chưa được là lẽ thường, nhưng ý thức sáng tác và cách tổ chức xuất bản, mới là điều làm nên khả năng, triển vọng và vị thế của một nhà thơ ở bất cứ thời đại nào!

Hà Nội, tháng 5.2026

NGUYỄN THẾ KIÊN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *