Thấu hiểu nhân sinh từ gốc rễ nghĩa tình – Tiểu luận của Thy Lan

Vanvn-  Trong đời sống văn học, có những tập thơ được nhớ bởi nghệ thuật tư duy của xúc cảm, với vẻ đẹp dung dị mà sang trọng mang dấu ấn của ngôn từ. Cũng có những tập thơ khiến người đọc thảng thốt bởi cách lập tứ, cách dẫn dụ “vừa lạ vừa quen” mà tinh vi phản ánh ít nhiều bởi nhân cách của người viết. “Miền ký ức”* của nhà thơ Lê Huy Hoàng thuộc về trường hợp ấy. Ẩn sau những câu thơ mộc mạc là hành trình tìm về vẻ đẹp thuần khiết, về với cội nguồn nghĩa tình, nơi một con người từng đi qua đảm nhận trách nhiệm xã hội đã chọn sống chậm lại để đối thoại với chính mình, với quê hương và với cuộc đời bằng sự bao dung, thấu hiểu.

Nhà phê bình Thy Lan

Cái riêng của Lê Huy Hoàng trong “Miền ký ức” không nằm ở những tìm tòi hình thức hay những cách tân ngôn ngữ cầu kỳ. Cái riêng ấy nằm ở một tâm hồn hồn hậu, thấu hiểu tận độ, luôn hướng về những giá trị căn cốt của quê hương, gia đình, bằng hữu và đạo lý làm người.

Từng là người đứng đầu một huyện miền núi trong những năm tháng gian khó, nhưng khi bước vào thi ca, Lê Huy Hoàng không mang theo hào quang của chức phận. Ông trở về với thơ bằng tư thế của một người con của bản làng, của núi rừng Bá Thước. Chính vì vậy, “Miền ký ức” không đơn thuần là những trang hồi tưởng về quá khứ mà là một hành trình tìm lại những giá trị căn cốt nhất của đời người. Qua tập thơ, người đọc không chỉ gặp một miền ký ức của riêng tác giả mà còn gặp một miền nhân sinh được soi chiếu từ gốc rễ nghĩa tình.

Điều gây ấn tượng đầu tiên với tôi là không gian văn hóa vùng cao hiện lên trong thơ ông vừa gần gũi vừa đậm đặc bản sắc. Nếu nhiều tác giả thường nhìn miền núi từ góc độ hùng vĩ, hiểm trở, thì Lê Huy Hoàng lại chọn cách nhìn bằng tình yêu và sự gắn bó máu thịt. Đại ngàn trong thơ ông không chỉ là cảnh quan mà còn là một không gian văn hóa sống động, nơi con người và thiên nhiên hòa quyện làm một.

Trong bài thơ “Khúc tình ca Bá Thước”, ông viết:

Lên Cành Nàng nghe hát với anh không?

Câu xường đang treo hờ trên vách liếp

Lời hát như cỏ kim

Quấn quýt bết nhau rồi.

Bốn câu thơ ngắn nhưng mở ra cả một miền văn hóa. Câu xường của người Mường vốn là âm thanh vô hình, nhưng qua chữ “treo hờ”, nhà thơ đã khiến nó có hình hài, có sức nặng, có đời sống. Nhất là câu “quấn quýt bết nhau rồi” – là hiểu nhau lắm lắm. Đó không chỉ là một thủ pháp nghệ thuật giàu tính tạo hình mà còn là cách nhìn của một người luôn coi văn hóa truyền thống như một phần máu thịt của quê hương mình.

Tôi đặc biệt chú ý đến hình ảnh “lời hát như cỏ kim”. Cỏ kim nhỏ bé nhưng bền bỉ, bám chặt vào nhau. Hình ảnh ấy gợi lên những mối quan hệ cộng đồng gắn bó của người miền núi, nơi tình người được kết nối bằng sự chân thành và thủy chung. Câu xường trong thơ Lê Huy Hoàng vì thế không chỉ là một câu hát mà còn là ký ức văn hóa đang neo giữ tâm hồn con người trước những biến động của
thời gian.

Bài thơ “Khúc tình ca Bá Thước” hội tụ cả những nét văn hóa miền núi, những địa danh cụ thể như Phố Cốc, Cành Nàng, Vạn Cha, La Hán, Mường Ống, Hang Niên Kỷ, Suối cá Văn Nho, mà ở đó còn cả những sự tích, truyền thuyết… Dẫu thế ông vẫn không quên nhắc về hiện tại đầy thi vị:

Mường Khoòng mờ trong sương khói nhân đôi

Hiều lốc cốc tiếng mõ trâu về bản

Lên Cao Sơn nhớ bát canh rau đắng

Nhớ rượu cần Chòm Đốc chuyện râm ran

Dãy Pù Luông quàng sương bạc miên man

Bếp nhà sàn sưởi ấm mùa đông lạnh…

Và:

Lại nghe tiếng cồng chiêng giục giã

Mai trở về khai hội Mường Khô…

Cuối bài là lời mời ngọt lịm:

Em cứ thử một lần lên Bá Thước

Ngắm chim rừng chiện chiện giữa hồn quê.

Bài thơ mở đầu tập thơ không gian rộng lớn, phong phú về địa lý, thời gian xa xưa đến hiện tại và mở ra cả tương lai. Một bài thơ mấy trang thôi nhưng gọi về cả lịch sử, bản sắc văn hóa và hơn hết chính là tâm cảm của nhà thơ.

Tập thơ “Miền ký ức” của Lê Huy Hoàng

Nếu thiên nhiên và văn hóa là một phần ký ức của quê hương thì những năm tháng công tác gian khó lại là phần ký ức của trách nhiệm và cống hiến. Điều đáng quý là Lê Huy Hoàng không nhìn lại quá khứ bằng tâm thế tự hào về chức vụ đã qua, mà bằng sự đồng cảm với những gian lao của một thời.

Ông viết:

Ngày xưa đi công tác

Leo dốc mửa mật xanh

Mỗi lần xe lao dốc

Buộc cành cây làm phanh.

(Ngày xưa đi công tác)

Không một chút tô vẽ. Hiện thực hiện lên mộc mạc, chân thật đến ám ảnh. Chỉ vài câu thơ, người đọc có thể hình dung những cung đường hiểm trở của miền Tây Thanh Hóa thuở ấy. Nhưng điều quan trọng hơn là từ những gian khó đó, ta nhận ra phẩm chất của những con người đã gắn bó với vùng đất này, hiểu nó một cách căn tường bằng tất cả trách nhiệm và niềm tin. Chi tiết “buộc cành cây làm phanh” không chỉ phản ánh sự thiếu thốn vật chất mà còn cho thấy nghị lực vượt khó của con người. Đó là thứ ký ức không mang màu sắc hoài niệm đơn thuần mà trở thành minh chứng cho một thời kỳ cống hiến đầy gian khổ nhưng giàu lý tưởng. Đọc những câu thơ ấy, tôi nhận ra Lê Huy Hoàng luôn đứng trong cuộc đời cùng nhân dân chứ không đứng bên ngoài để kể lại cuộc đời. Từ tình yêu quê hương và những năm tháng cống hiến, dòng thơ của ông tự nhiên chảy về gia đình – nơi neo giữ những giá trị thiêng liêng nhất của đời người.

Trong bài “Thơ viết cho con”, ông hồi tưởng:

Bố lần đầu có con nhỏ trong tay

Mừng hạnh phúc bao điều hòa lẫn

Giường bằng luồng, chăn đơn chiếu mỏng

Đốt củi rừng chống lạnh thâu đêm.

Ở đây không có những lời lẽ hoa mỹ. Chỉ có sự thật của một thời thiếu thốn hiện lên qua “giường bằng luồng”, “chăn đơn chiếu mỏng”, qua ngọn lửa củi rừng chống lạnh suốt đêm dài. Chính sự chân thực ấy tạo nên sức lay động. Tình phụ tử trong thơ Lê Huy Hoàng không được biểu hiện bằng những lời yêu thương trực tiếp mà bằng sự hy sinh âm thầm của người cha. Ngọn lửa sưởi ấm đứa con thơ cũng chính là ngọn lửa của trách nhiệm, của niềm tin và của khát vọng vươn lên trong cuộc sống.

Bởi vậy, khi thời gian trôi qua và những người con trưởng thành, niềm vui của người cha không mang màu sắc tự mãn mà trở thành một lời tri ân cuộc đời:

Bốn mươi năm tưởng như vừa đâu đó

Thằng con đầu nay thành tiến sĩ

Phó giáo sư, hiệu trưởng trường Đại học…

Điều khiến tôi xúc động nhất không phải những học hàm hay chức danh của người con, mà là cách người cha đón nhận thành quả ấy bằng lòng biết ơn:

Cảm ơn trời phật đã cho mình

Phúc đức tổ tiên thật hiển linh.

Đằng sau niềm vui ấy là một quan niệm sống mang đậm văn hóa phương Đông. Rằng con người không sống tách rời cội nguồn mà luôn gắn với gia đình, tổ tiên và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Thành công vì thế không chỉ là kết quả của nỗ lực cá nhân mà còn là sự tiếp nối của phúc đức và nghĩa tình qua nhiều thế hệ.

Nếu gia đình là nơi lưu giữ tình thân thì bạn bè là nơi lưu giữ sự đồng điệu tâm hồn. Trong “Miền ký ức”, những bài thơ viết về bạn hữu mang một vẻ đẹp rất riêng. Đó không phải những cuộc gặp gỡ xã giao mà là tình tri âm được bồi đắp qua năm tháng. Ông viết trong bài “Vắng bạn trà”:

Rượu tứ, chè tam thú vui đời

Gần nhau mấy hội bén duyên rồi

Ông về nghỉ trước, tôi buồn lắm

Sáng sáng mời ông ghé lại chơi!

Lời thơ tự nhiên như lời trò chuyện thường ngày nhưng phía sau là nỗi lưu luyến của một tấm lòng trọng nghĩa. Khi những cuộc vui của chức phận đã qua, khi những bận rộn của đời sống dần lùi lại, điều còn đọng lại vẫn là tình người.

Nhà thơ Lê Huy Hoàng

Có lẽ bởi từng trải qua nhiều thăng trầm nên Lê Huy Hoàng hiểu rất rõ giá trị của sự đồng hành. Ông không đặt nặng chuyện được mất, hơn thua mà hướng đến những gì bền vững hơn:

Bao giờ nghỉ hội về vườn cả

Ta vẫn gặp nhau, vẫn vui cười!

Đó không chỉ là niềm tin vào tình bạn mà còn là một triết lý sống. Cuộc đời rồi sẽ khép lại những vai diễn xã hội của mỗi người, nhưng những gì được xây dựng bằng chân tình vẫn còn mãi. Từ những mạch nguồn nghĩa tình ấy, thơ Lê Huy Hoàng dần mở ra những suy ngẫm sâu xa về nhân sinh. Đây cũng là phần cho thấy rõ nhất chiều sâu tư tưởng trong tập “Miền ký ức”.

Trong bài “Thơ cho mình”, nhân ngày sinh nhật, ông viết:

Chẳng cần chi nến, chi hoa

Sinh ra là biết có ta trên đời

Đi chưa trọn kiếp con người

Là chưa trả hết khóc cười buồn vui.

Đọc những câu thơ này, tôi không thấy ở đó tâm trạng hoài niệm của tuổi già mà thấy một bản lĩnh sống. Nhà thơ nhìn đời bằng con mắt bình thản của người đã hiểu quy luật thời gian. Ông không tiếc nuối quá khứ, không đắm mình trong hào quang đã qua, mà chọn đối diện với chính mình bằng sự tỉnh thức.

Sự tỉnh thức ấy tiếp tục được thể hiện:

Sân si chi chuyện thiệt hơn

Cần chi hoa nến vàng son ngọc ngà…

Đây có lẽ là một trong những thông điệp sâu sắc nhất của tập thơ. Sau tất cả những biến động của cuộc đời, điều còn lại không phải là danh vị hay quyền lực mà là cách con người sống với nhau. Và vì thế, điểm đến cuối cùng trong suy tưởng của nhà thơ không phải bản thân mình mà là thế hệ mai sau:

Là lo tích đức, tích phần cháu con.

Một câu thơ giản dị nhưng chứa đựng cả một triết lý sống. Tích đức không chỉ là niềm tin tâm linh mà còn là trách nhiệm đạo đức của mỗi thế hệ đối với tương lai. Đó chính là sự thấu hiểu nhân sinh từ gốc rễ nghĩa tình.

Viết về tình yêu ông thể hiện thật mộc mạc, chân chất nhưng không thiếu những xúc cảm vừa éo le, vừa khạo khờ, chân thành:

Ngày ấy mình còn khờ khạo lắm

Yêu em chẳng biết nói điều chi.

Nhưng cái hay lại chính là chỗ diễn đạt nó bằng cách nói rất thơ:

Ấp úng mỗi lần chim chích hót

Gửi thư qua bức vách đen sì

Một chiều cháy mãi hoàng hôn đỏ

Giông tố ập đầy một lời yêu

Thế rồi biền biệt xa nhau mãi

Anh hóa cô đơn giữa đường chiều.

Có lẽ đây là tình huống chung chắc chắn tìm được sự đồng cảm của nhiều người. Thời yêu của tuổi thơ trong bài “Ngày ấy” là thời “đường về thơm rơm rạ”. Cùng nhà tranh, dáng mẹ già… bài thơ là bức tranh quê gắn liền với tuổi thơ – tuổi hoa, tuổi trẻ – tuổi yêu. Đến cả cái cô đơn cuối bài cũng đẹp và thi vị trong đường đời không riêng một ai, mà nó như là những khoảnh khắc định mệnh để trưởng thành, trân quý và khát vọng cho mỗi chúng ta.

Còn rất nhiều những chủ đề trong 99 bài thơ, viết về giỗ cha, về tết cổ truyền, về một vùng đất ông từng ghé, hoặc viết cho một nhà tu hành, có khi lại vọng về câu ví từ phía một miền quê lạ – láng giềng Nghệ – Tĩnh… Nhưng cái sau cùng ông gửi gắm mà tôi nhận ra ông chính là chữ: Nợ. Ông dành hẳn một bài thơ để nói về điều này:

Bây giờ gió lạnh bờ vai

Tôi đi gom nắng cho ai đợi chờ

Một đời được mấy câu thơ

Long đong dẫu đợi dẫu chờ,

Long đong…

Một đời nợ bến, nợ sông

Tôi còn nợ một cánh đồng chiều mưa

Bần thần nhớ mẹ tôi xưa

Một đời đi mãi mà chưa trả đầy.

Những câu thơ nặng lòng trắc ẩn, nhưng giá trị nhân văn ở chỗ nhà thơ đã hướng về mẹ, điểm rơi cuối của chữ, lại làm nằm lòng người đọc chính ở chỗ này. Đời người cứ gom nắng cho ai, nhưng mưa gió tảo tần của mẹ lại hy sinh hết cho mình. “Long đong” là điệp từ khắc khoải, cũng là tính từ chỉ sự khó nhọc, bấp bênh. Nhà thơ dùng khắc họa hình ảnh mẹ, vừa thương xót, vừa nuối tiếc, vừa thầm nhắn nhủ cho những người còn mẹ.

Nhìn lại toàn bộ “Miền ký ức”, điều làm nên giá trị bền vững của tập thơ không nằm ở những cách tân nghệ thuật hay những phát hiện ngôn từ mới lạ. Giá trị ấy nằm ở chiều sâu nhân cách của người viết. Lê Huy Hoàng không dùng thơ để kể lại một đời người đã đi qua nhiều chức phận, mà dùng thơ để trở về với phần người nguyên sơ nhất trong mình. Từ những câu xường Mường treo hờ trên vách liếp, những con dốc hiểm trở của miền cao, ngọn lửa bếp sưởi ấm con thơ đến chén trà đợi bạn già ghé lại, tất cả đều quy tụ về một điểm tựa tinh thần chung: nghĩa tình thắm biếc vẹn tròn.

Đọc “Miền ký ức”, tôi nhận ra một hành trình đáng quý, từ ký ức đi tới nhân cách, từ nhân cách đi tới nghĩa tình, và từ nghĩa tình khai quả của nhân sinh. Đó không chỉ là hành trình của riêng nhà thơ mà còn là con đường tinh thần mà mỗi con người đều mong một lần chạm tới sau những được mất, hơn thua của cuộc sống. Bởi sau tất cả những biến thiên của thời cuộc, điều còn lại không phải là danh vị hay quyền lực, mà là lòng nhân hậu, sự sẻ chia và cái đức được vun bồi qua năm tháng. Vì thế, đây không chỉ là một tập thơ lưu giữ kỷ niệm của một đời người. Tác phẩm còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu sắc về những giá trị căn cốt làm nên phẩm giá con người. Thơ Lê Huy Hoàng giống như dòng suối trong của núi rừng Bá Thước, âm thầm chảy qua năm tháng, không ồn ào mà bền bỉ tưới mát tâm hồn người đọc bằng sự chân thành, đức độ và nghĩa tình. Đó cũng là lý do tập thơ để lại dư âm lặng lẽ nhưng lâu bền trong lòng người đọc hôm nay.

THY LAN

_____________

* Tập thơ “Miền ký ức” của Lê Huy Hoàng, Nxb Hội Nhà văn, 2025.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *