Vanvn– Trong kí ức tuổi thơ của nhiều người, hình ảnh người bà luôn là một miền nhớ ấm áp và bền lâu. Bà không chỉ là người chăm sóc, nuôi dưỡng mà còn là người giữ lửa cho những giá trị truyền thống và là cầu nối giữa các thế hệ trong gia đình.
Trong thơ thiếu nhi Nguyễn Lãm Thắng, hình ảnh người bà xuất hiện dày đặc và đa dạng trong nhiều không gian khác nhau, từ hình ảnh bà nội với bếp lửa chiều tà đến bà ngoại với những câu hát, lời ru; từ lưng còng cặm cụi đến đôi bàn tay chăm chút từng bữa ăn, giấc ngủ hàng ngày. Chính từ những chi tiết bình dị ấy, nhà thơ đã dựng nên một không gian tuổi thơ, nơi tình thân và những giá trị gia đình được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Dấu ấn thời gian và sự hy sinh thầm lặng
Trước hết hình ảnh người bà trong thơ Nguyễn Lãm Thắng hiện lên với những dấu ấn của thời gian và sự hi sinh âm thầm in hằn trên chính cơ thể bà. Nhà thơ đã nhận ra những hình ảnh đó bằng một đôi mắt vừa thương yêu vừa xót xa. Điều này thể hiện rõ nhất ở cách ông khắc họa những “dấu vết thời gian”: “Tay bà chống gậy/ Đỡ tấm lưng còng/ Giơ tay hái lấy/ Lá trầu cong cong” (Hái trầu cho bà). Hình ảnh bà lom khom hái trầu khiến dấu vết tuổi già hiện lên rõ hơn bao giờ hết.
Dù tuổi già đang hằn lên từng động tác nhỏ nhất nhưng sự già nua, yếu ớt ấy không hề khiến độc giả cảm thấy bi lụy, trái lại càng làm tôn vinh vẻ đẹp và sự tần tảo, hy sinh của bà. Nhà thơ cũng không giải thích nguyên nhân sinh học mà để đứa cháu lý giải hình ảnh lưng còng bằng ngôn ngữ của tình yêu “Lưng bà còng/ Cong như vầng trăng khuyết/ Cháu ơi cháu có biết/ Vì sao lưng bà còng?” bởi đó là minh chứng cho những tháng năm bà vất vả vì con vì cháu.
Câu hỏi không phản ánh sự tò mò mà muốn nhấn mạnh sự đồng cảm, biết ơn trước sự hy sinh của bà. Hình ảnh “như vầng trăng khuyết” là một sự so sánh đầy chất thơ. Vầng trăng khuyết không tròn nhưng vẫn luôn tỏa sáng, cũng như tấm lưng còng của bà đã già đi vì năm tháng nhưng vẫn luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho đứa cháu bé bỏng. Em bé trong bài thơ đã quan sát, thấu hiểu được nỗi vất vả của bà qua từng cử chỉ, từng động tác nhỏ nhất.
Không chỉ dừng lại ở hình ảnh lưng còng, nhà thơ còn khắc họa những chi tiết khác về sự già yếu trên cơ thể bà với một thái độ vừa trân trọng, vừa cảm thông: “Tuổi già, bà xâu chỉ/ Phải đeo mắt kính tròn… Tuổi già, bà bới chải/ Tóc bạc rụng nhiều ghê” (Tuổi già). Những chi tiết “đeo mắt kính tròn”, “tóc bạc rụng nhiều” không chỉ miêu tả sự già yếu mà còn gợi lên một nỗi niềm xót xa, trân trọng trước bao nhọc nhằn bà đã trải qua trong cuộc đời.
Điều đặc biệt ở thơ Nguyễn Lãm Thắng là sự già nua của bà không mang màu sắc bi quan ngược lại đó là hành trình của tình thương được in dấu trên từng nếp nhăn hay từng sợi tóc bạc. Những chi tiết ấy như một cuốn nhật ký về những năm tháng bà tần tảo sớm hôm. Đứa cháu qua những quan sát ấy đã học được bài học về lòng biết ơn, sự trân trọng đối với những hy sinh thầm lặng của bà.

Người giữ lửa trong không gian bếp và sinh hoạt đời thường
Không chỉ hiện lên qua dấu ấn của tuổi già, nhân vật người bà trong thơ thiếu nhi Nguyễn Lãm Thắng còn gắn liền với những không gian ấm cúng, thân thuộc nhất đặc biệt là không gian bếp. Đây là nơi bà thường nấu những bữa cơm chiều, nơi khói lam bay vờn chái bếp, nơi đôi tay bà bới từng que củi: “Bà em nấu bữa cơm chiều/ Khói lam bay vờn chái bếp/ Mấy con cá vàng trong niêu/ Trêu chú mèo con rung mép/ Bụng nồi cơm sùng sục sôi/ Tay bà bới từng que củi” (Bà nội vào bếp). Những chi tiết nhỏ đầy sức gợi như: khói lam, chái bếp, niêu cá, nồi cơm, que củi đều góp phần vẽ nên bức tranh sinh động về cuộc sống hàng ngày.
Trong thơ Nguyễn Lãm Thắng, gian bếp không chỉ là nơi nấu nướng mà còn là nơi hơi ấm gia đình được bồi đắp mỗi ngày. Mỗi bữa cơm bà nấu đều mang theo sự chăm chút và tình thương lặng lẽ. Những con cá vàng hay chú mèo, nồi cơm sôi đều là những hình ảnh chân thực được nhận diện từ không gian bếp của bất kỳ một gia đình nào ở làng quê Việt Nam. Không cần những lời yêu thương trực tiếp, bà bày tỏ tất cả qua từng việc làm quen thuộc. Gian bếp cũng trở thành nhân chứng của tình yêu, nơi ngày ngày bà đều thực hiện những nghi thức giản dị nhưng thiêng liêng. Và chính em nhỏ đã cảm nhận điều đó, để rồi trong kí ức của em, hình ảnh của bà không chỉ là một người già yếu mà là người giữ lửa yêu thương trong gia đình.
Ở một phương diện khác, đôi khi hình ảnh bà hiện lên với vai trò thay thế bố mẹ khi họ bận rộn mưu sinh, là chỗ dựa tinh thần với những câu hát ru, sự chăm sóc ân cần dành cho đứa cháu bé bỏng: “Mẹ trăm công nghìn việc/ Bố lam lũ suốt ngày/ Lo miếng cơm manh áo/ Việc nhà, ngoại làm thay/ Mẹ đưa cháu đến lớp/ Ngoại đón cháu về nhà… Ngoại ru cho cháu ngủ/ Ngoại chăm cho cháu ăn/ Ngoại kể chuyện cổ tích/ Cuội già lên cung trăng” (Ngoại của em). Sự thay thế ấy không mang nghĩa thụ động mà càng nhằm khẳng định tấm lòng yêu thương của bà được nhân lên gấp nhiều lần. Lời ru của bà, những câu chuyện cổ tích bà kể, đều là những di sản tinh thần vô giá mà bà trao cho cháu.
Điều đáng chú ý là sự xuất hiện của bà trong sinh hoạt đời thường luôn được thể hiện qua những khoảnh khắc vô cùng giản dị, nhưng chính sự giản dị ấy lại trở thành một phần đẹp đẽ nhất trong tuổi thơ mỗi đứa cháu: “Bé ơi thức giấc/ Tay bà lay cho/ Bé ơi rửa mặt/ Tay bà lau cho/ Bé ơi khát sữa/ Tay bà pha cho/ Bé ơi ăn bánh/ Tay bà bóc cho” (Tay bà). Những hành động liên tiếp: lay cho – lau cho – pha cho – bóc cho cùng điệp khúc “Bé ơi”, “tay bà” lặp đi lặp lại như một bản nhạc yêu thương, nhắc nhở chúng ta về những điều nhỏ bé nhưng thiêng liêng trong cuộc sống.

Cầu nối văn hóa truyền thống giữa các thế hệ
Bà không chỉ là người yêu thương mà còn là người lưu giữ và truyền lại kho tàng văn hóa dân gian. Từ những câu chuyện bà kể, cả một thế giới huyền ảo của cổ tích hiện ra: “Ngoại kể chuyện cổ tích/ Cuội già lên cung trăng” (Ngoại của em). Hình ảnh chú Cuội, cung trăng là hình ảnh quen thuộc trong văn hóa dân gian Việt Nam. Đối với đứa trẻ, đó không chỉ là hoạt động giải trí trước giờ đi ngủ mà cao hơn cả đó là cách bà vun đắp trí tưởng tượng và thắp lên trong trẻ lòng nhân ái, những bài học về lẽ sống. Cũng qua những câu chuyện cổ tích ấy, bà đã thầm lặng đưa cháu về với cội nguồn, kết nối cháu với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Điểm đặc sắc nhất của hình tượng người bà trong thơ Nguyễn Lãm Thắng là sự xuất hiện không đóng vai trò như một cá thể độc lập mà luôn luôn hiện diện trong mối tương quan với đứa cháu và trở thành cấu nối giữa các thế hệ trong gia đình. Nhà thơ đã thể hiện điều này một cách tinh tế qua hình ảnh bà nội và bà ngoại: “Nội, ngoại một lòng/ Đều yêu cháu cả/ Như hai dòng sông/ Xuôi về một ngả” (Nội và ngoại). Hình ảnh so sánh “hai dòng sông” thật đẹp và ý nghĩa.
Tình nơi tình thương của bà chính là cội nguồn, là dòng chảy để cháu kết nối với những thế hệ trước, với truyền thống gia đình. Bà nội và bà ngoại, mỗi người một dòng chảy riêng nhưng cùng hướng về tình yêu thương trọn vẹn dành cho cháu. Hai dòng sông gặp nhau, hòa quyện, trở thành một dòng chảy duy nhất mang tên tình thân. Từ đó, đứa trẻ nhận ra bài học có những tình cảm không phân chia ranh giới, và gia đình là nơi những tình cảm ấy hội tụ, để cùng nhau nuôi dưỡng những mầm non tươi đẹp nhất.
Có thể thấy hình tượng người bà hiện lên trong thơ Nguyễn Lãm Thắng như một nơi lưu giữ những kí ức thiêng liêng, nơi tình thân được vun đắp qua từng bữa cơm, từng câu hát ru và những câu chuyện cổ tích. Bà không chỉ là người chăm sóc, nuôi dưỡng đứa cháu, mà còn là người giữ lửa cho những giá trị gia đình, là cầu nối giữa các thế hệ với nhau.
Trong thơ Nguyễn Lãm Thắng, hình tượng người bà không mang màu sắc bi lụy ngược lại càng tô đậm thêm biểu tượng của lòng bao dung và sự hy sinh cao cả. Cũng chính những vần thơ ấy đã góp phần quan trọng trong việc nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, giúp các em biết yêu thương, trân trọng và giữ gìn những giá trị thiêng liêng. Và giữa những ồn ào của cuộc sống hiện đại, những vần thơ về bà của Nguyễn Lãm Thắng lặng lẽ ngân lên như một lời nhắc về lòng yêu thương, về những giá trị bền vững, về những năm tháng tuổi thơ bình yên mà mỗi chúng ta ai cũng mong muốn được trở về.
PHẠM PHƯƠNG LIÊN















