Thơ của hội viên mới Trần Ngọc Trác

Vanvn- Nhà thơ Trần Ngọc Trác còn có bút danh Trần Trọng Văn, Ngọc Lan Anh, sinh ngày 7.7.1958 (giấy khai sinh 20.2.1959), quê quán làng Trúc Lâm, xã Hương Long, huyện Hương Trà (nay là phường Hương Long, TP Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế).

Từ năm 1979 đến nay, ông sống và viết ở Đà Lạt, Lâm Đồng. Nguyên là Phóng viên chính, biên tập viên chính, đạo diễn chính, Phó trưởng phòng Biên tập văn nghệ Đài PT&TH Lâm Đồng. Chủ tịch Hội VHNT Lâm Đồng (2007-2012).

Trần Ngọc Trác đã xuất bản: 07 tập thơ: Hoa trinh nữ (1990), Hương lửa (2001), Ngọn gió lang thang (2006), Sắc hoa Đà Lạt (2007), Khuôn trăng (2007), Rong chơi cho đã kiếp người (2012), Sự bức bối của lửa (2014); 13 tập ký, ghi chép, sưu khảo, cảm nhận: Từ Ba Tơ đến chiến trường ba nước; Duyên nợ Đà Lạt tập 1 & 2; Nàng công chúa và ngôi nhà điên;  Người đi về hướng núi; Nhà thơ Quang Dũng từ Tây Tiến đến Tây Nguyên; Ký ức Nam Ban; Tình yêu gửi lại; Nguyễn Đức Phúc chuyện thật như đùa; Lữ Tùng Anh cuộc đời và thi ca; Huyền thoại Lê Kích;  Người nặng tình với đất nước Triệu Voi… 01 tập ca khúc: Từ thanh đàn hình cánh hạc Tập ca khúc phổ thơ Trần Ngọc Trác (2006)…

Chủ biên 14 ấn phẩm văn học nghệ thuật và Phối kết hợp với Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) thực hiện 33 tập phim tài liệu với vai trò viết kịch bản, cố vấn chương trình và thực hiện series phim ký sự như: Chuyện cũ Đà Lạt (07 tập); Trịnh Công Sơn nhẹ gót lãng du (05 tập); Những kỳ nhân của xứ sở sương mù (09 tập) và Đà Lạt ký (12 tập) …

Nhà thơ Trần Ngọc Trác

Trần Ngọc Trác đã được trao nhiều giải thưởng văn học nghệ thuật và báo chí: Phim tài liệu Hương sắc Cao nguyên Lâm Đồng Huy chương Bạc tại Liên hoan phim Truyền hình Việt Nam (2009). Giải nhì của Hội Nhà báo tỉnh Lâm Đồng phóng sự tài liệu văn nghệ Lặng lẽ một hồn thơ (1999). Giải nhất Một người lính làm nên huyền thoại (2001) và giải khuyến khích Liên hoan phim Truyền hình Việt Nam năm 2001. Giải A Trịnh Công Sơn nhẹ gót lãng du (2019) của Hội Nhà báo tỉnh Lâm Đồng…Giải C (không có giải A) tác phẩm Nguyễn Đức Phúc – chuyện thật như đùa của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (2020). Giải thưởng thơ về đề tài “Hình tượng người chiến sĩ cảnh vệ Công an Nhân dân” của Bộ Tư lệnh Cảnh vệ (1. 2023) …

Nhà thơ Trần Ngọc Trác được kết nạp hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2023

 

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRẦM NHƯ ĐÁ

 

Vỡ vạc

những cánh đồng

lạnh lùng mùa đông thành mùa hạ;

 

vỡ vạc

những dung nhan tàn úa,

khơi lên những khát khao sáng loá,

có trầm như đá,

có hờn như đá,

thức dậy sau những muộn màng.

 

Rũ áo

xuống cánh đồng tội lỗi,

tìm lại dấu tích xưa hằn lên bao huyền thoại,

thấy đời rộng mở.

 

Ngày xưa

Tô Thị hoá đá chờ chồng,

vọng phu qua thế kỷ nương lại nỗi buồn nhân thế.

 

Đá

có trầm luân đến muôn đời

một ngày cũng tan ra trăm mảnh cô đơn,

như chưa từng cô đơn.

 

Những giọt mưa của trời,

bão giông của biển, cuồng nộ của Thượng đế

trút lên người đàn bà trầm như đá

lời nguyền nghìn năm

chờ đợi.

 

Người đàn bà đau đớn chịu đựng

những búa rìu không phải từ câu chuyện của đời mình

mà bằng lời nguyền rủa vô đạo

của kẻ cùng giới;

của những loài sâu bọ gặm nhấm

vào thân thể người.

 

Tận cùng

của đam mê

có khi cũng là tội lỗi.

 

Tận cùng

của sự khao khát

có khi cũng là tội lỗi.

 

Chúa chỉ ra tội đồ,

không mang nổi hình hài cứu rỗi.

 

Người đàn bà

khép trong góc tối đời mình,

một ngày nhìn ra tia sáng lung linh

từ sự ngờ vực

để không trầm như đá,

không hờn như đá.

 

KHUÔN TRĂNG

 

Gió ào ạt

thổi ngang bầu trời em, vần vũ mây

Gió vờn trên má em tấy lên những liềm môi;

 

Sấm bật dậy

từ ngoài bãi hoang

thổn thức vỗ lòng đêm lặng tắt.

 

Mưa gió như trêu ngươi em

lội qua những cánh đồng tức tưởi

Em vẫn một mình đi về phía có trái tim mời gọi .

 

Đất dưới chân anh như vụn vỡ,

Những ẩn chứa bên trong của tầng tầng địa chất

không còn kịp đúc thành khuôn thước

bền bỉ giữ lấy chân người;

 

Mắt anh loá lên

không phải ánh nhoà

của mặt trời chiếu thẳng

mà từ ruột gan xa xót đợi chờ em,

thương em, đi về phía trái tim mời gọi.

 

Gió lặng,

vết thương bầm trên da thịt mặt trời.

 

Khuôn mặt em

tràn ngập ngày xưa

tóc bím trải dài vắt qua bờ lưng ở lại

làm tê tái người xa năm tháng đợi chờ.

 

Ký ức ùa về

Gió mưa có thành bão tố

tàn phá những ngôi nhà, miếu cổ

Không thể dập tắt ý nguồn

vượt lên từ trái tim yêu.

 

Ký ức bộn bề

những nét chấm phá thẳm sâu tận cùng

Giãn ra một bầu trời trong suốt.

 

Em tự nhận mình đểnh đoảng

khước từ những cuộc rong chơi vô bổ;

khước từ những gương mặt

tưởng rằng quen mà lạ;

khước từ

những khuôn trăng đầy đặn của đêm.

 

Anh nhận ra trong mắt em gợn đỏ

Nỗi buồn giăng mùa bão tố.

 

Anh nhận ra em

Má lùm đồng tiền

nghiêng ngả nụ cười em

làm điêu đứng bao kẻ tình si

 

Sợi khói nhà anh thả lên trời xanh

Ký ức ùa về torng em

Đã bao năm, đêm nay thức dậy

Anh ngơ ngác nhìn em

hoài niệm cứ lấp đầy.

 

Đêm,

gió ào qua căn phòng anh ở

Một khuôn trăng lặng lẽ đợi ta về…

 

ĐÀ LẠT CỦA TÔI

 

Vừa lên

đỉnh dốc Prenn,

Bao nhiêu

nắng lửa

rơi nghiêng mạn đèo.

 

Gió luồn vực núi

gió reo,

Ngàn năm

thông vẫn

bốn chiều của thông.

 

Vắt  qua con dốc lượn vòng;

Rừng nằm trong phố

Phố nằm trong mây.

 

Bồng bềnh sương,

bồng bềnh cây

Bồng bềnh

nỗi nhớ

khỏa đầy tuổi thơ.

 

Chiều em tan lễ nhà thờ,

Một cây si dại ngẩn ngơ đứng nhìn.

Lẫn trong hoa cỏ đi tìm…

Tranh của họa sĩ Vi Quốc Hiệp

TRÀNG AN

 

Ai đếm được

bao nhiêu lâu đài rêu xót đế đô xưa,

Hà Nội bây giờ nắng nung như rưới lửa

Còn đâu Tây Hồ mênh mang một thuở,

Gió giờ đi hoang…

 

Những cây xanh trên đường Hùng Vương

Xanh đến đau Hà Nội phố phường

Thành phố những nhà cao tầng

vượt lên thinh không

không vượt lên được nữa,

Con chim trên trời không muốn bay cao,

Con cá dưới ao buồn không muốn lội;

Cây cau trong vườn không còn muốn trổ

Mẹ buồn nhìn ra ngõ cô đơn…

 

Thành phố rộng

Quê rồi cũng phố;

Xưa mẹ trồng dâu, nuôi kén tằm giữ ổ

Giờ trổ nhà ra hướng mặt tiền .

 

Những đứa trẻ

không chơi ô ăn quan, lại thích vào game;

Cụ già ngắm trăng suông trên trần nhà mình

Thương chú Cuội mất trâu, yêu chị Hằng lơi lả.

Câu ca dao xưa không còn ru cháu ngủ,

Lời ru âm âm trong điệu nhạc xập xình…

 

Cô bé ngày xưa

theo mẹ ra đồng cấy lúa.

Giờ em như phố dung dăng.

Mái tóc nhuộm xanh nhuộm đỏ

Em đốt cả cuộc đời em toé lửa,

Cháy bên một lằn đường…

 

Tôi lang thang dọc đường Hùng Vương

Lòng cứ nôn nao tự hỏi

Hà Nội về đâu? Phố Phái xưa đâu?

Hà Nội về đâu? Thăng Long hoài cổ?.

Hà Nội về đâu…

Và…Ta về đâu?

 

Tràng An ơi, Thăng Long ơi, Đông Đô ơi…

Hà Nội ơi… một thuở,

Còn không sương bện mai này!

 

LOANH QUANH PHỐ

 

Rộng dài

đâu là thước đo

con đường xa hay ngắn,

phải đâu

mênh mông tít tắp những cánh đồng.

 

Thẩm sâu tận đáy lòng,

những con đường quanh co

ngõ phố co quanh;

những sợi khói cuồn cuộn trào lên

như đám sương mù đặc quánh.

dưới mái lá rêu rong túp lều tranh hè phố;

người đàn ông

điềm nhiên thong thả rít thuốc Lào

nhả khói vào mây thanh thản;

người đàn bà

lặng lẽ châm từng giọt chè xanh vào chén,

thơm lựng mùi hương.

 

Hà Nội ngày xưa ba mươi sáu phố phường,

leng keng tàu điện xa vợi tự thuở nào;

còn lại mái ngói âm dương

nhìn ra đường khắc khoải.

 

Mải miết trôi vào hoài niệm

ta đi như gió phiêu bồng.

Con đường nào đâu dài rộng,

chỉ còn ký ức rộng dài.

 

Ngõ nhỏ phố nhỏ

Lòng cứ loanh quanh

Loanh quanh như phố.

Như phố loanh quanh…

 

MƯA VẪN DỊU DÀNG BAY

 

Chiều Đà Lạt

mưa dịu dàng qua phố

Anh  tiễn em về nơi ấy – quê em.

Một chút nắng

len vào lòng mãi nhớ

Ngày chia xa hoa thắm rực bên thềm.

 

Những con đường

rất đỗi thân quen

Những góc phố nơi chúng mình ghé lại

Giọt cà phê

tím cả chiều tê tái

Má em hồng bên bếp lửa làng Chil.

 

Nhớ những ngày

hai đứa mãi rong tìm

Bông hoa dại nở ven đường thổn thức

Và một thuở,

trái tim reo lồng ngực

Khi lần đầu hai đứa nắm tay nhau…

 

Thời gian trôi

như nước chảy qua cầu

Anh cứ ngỡ chẳng bao giờ gặp lại

Rồi một ngày

không còn chiều tê tái

Giọt cà phê đặc quánh giữa làn môi.

 

Sẽ không còn

chiều Đà Lạt mưa rơi

Mưa dịu dàng của một lần đưa tiễn

Sẽ không có một ngày hoa thắm rực

Lần chia xa để anh mãi đi tìm…

 

Em trở về

nơi ấy – quê em

Nắng Đà Lạt vẫn buông dài mái phố

Anh lặng thầm trong căn nhà gỗ

Trời vẫn xanh. Mưa vẫn dịu dàng bay.…

Nhà thơ Trần Ngọc Trác

LẼ NÀO CÓ CUỘC CHIA LY

 

Em ơi,

ở lại cùng bà

Chị ra với mẹ giữa tòa ly hôn.

Trông cha

nét mặt trầm hơn,

Càng thương đời mẹ tảo tần sớm khuya.

 

Vì đâu

nên cuộc chia lìa,

Trời cao xanh gió đi về nơi nao

Đắng lòng

nhìn mẹ gầy hao,

Mấy lần sinh nở còn đâu dáng hình.

 

Trước tòa,

mẹ bỗng lặng thinh

Nước mắt thấm đẫm mối tình ngày xưa.

Một thời

mẹ cũng yêu thơ,

Yêu cha, yêu cả đợi chờ tháng năm.

 

Thân gầy

một tấm lòng son

Càng thương đời mẹ mỏi mòn tuổi xuân.

Cha buồn

nét mặt trầm hơn,

Thương cha với mẹ một lần vào đây…

 

Khói bay

trên ngón tay gầy

Đời cha như bóng phù vân cuối trời.

Lỡ lầm

một phút đầy vơi,

Tiếng lòng ai xé ngang trời buồn tênh.

 

Trước tòa cha mẹ lặng thinh…

 

NGẪU HỨNG LIM

 

Cùng em

về với Bắc Ninh,

Nhớ câu quan họ đưa tình í a.

 

Liền anh

liền chị lại nhà,

Têm trầu cánh phượng cho ta lạy mình.

 

Một lần

về với Bắc Ninh,

Nón quai thao sóng sánh tình đung đưa.

 

Áo tứ thân

mấy cho vừa,

Mới đêm hội trẩy mà nhừ môi nhau.

 

Nào ai

rải yếm, bắc cầu

Cho tình quan họ càng sâu càng đằm.

 

Đêm nay

trăng sáng một rằm,

Gói câu quan họ

Tôi cầm sang chơi…

 

Lúng liếng là lúng liếng ơi.

 

BÌNH YÊN QUÊ MẸ

 

Dẫu có dọc ngang

khắp bốn phương trời,

Cũng nhỏ bé trước bình yên quê mẹ.

Ta là ai? Lưu manh hay tử tế

Quê mẹ nghèo vẫn giang rộng vòng tay…

 

Gió hào phóng

trước đường sông rộng,

Chim chuyền cành thảng thốt sương rơi.

Cây cỏ cũng mềm như hơi thở,

Luỹ tre làng xao lá đầy vơi.

 

Em ra đứng bờ ao gió hát,

Mẹ trầm tư trăng sáng trong khuya.

Cha thong thả ngâm câu Kiều lưu lạc,

Nhấp chén rượu nồng thương nỗi phù sinh.

 

Cây vẫn trổ hoa.

Và nhà thêm cảnh

Mưa gió quê mình thuận thảo như xưa.

Lúa ở ngoài đồng

đẻ thêm nhiều nhánh,

Hàng giậu, bờ ao xao xác gà trưa…

 

Trước quê hương,

nhận ra mình có lỗi,

Bao năm đi không chịu quay về?

Tấm lòng mẹ

giang tay đón đợi,

Đứa con còn biền biệt xa kia!

 

NHƯ LÀ…

 

Hình như

là… em đó thôi,

Lướt qua trời đất rối bời cả lên

 

Hình như

vướng một chút duyên,

Em mang má lúm đồng tiền trêu ngươi.

 

Ta

là một kẻ rong chơi,

Em chia điêu đứng cho người tình si.

 

Trước ta

em chả nói gì,

Mà bao nhiêu kẻ chết vì… ngẩn ngơ.

 

Em chang chói .

Em mộng mơ

Để  cho bao gã làm thơ giật mình.

 

Em như

trúc biếc bên đình,

Anh như tiểu hỏng lén rình qua phên…

 

TRƯỚC MỘ TÚ XƯƠNG

 

Sông xưa giờ đã nên hồ,

Người thơ xưa đã thành mồ thời gian.

 

Chưa qua được nửa tuần nhang,

Dường như có tiếng thở than trong lòng?

 

“Quanh năm buôn bán mom sông, *

Nuôi năm con với một chồng”… dở dang.

 

Lệ đau rỏ xuống hai hàng,

Dường như có nỗi hàm oan trong lời?

 

Câu thơ trăm mối tơ trời,

Khứa vào tâm khảm phận người chưa thôi.

 

Nghe từng con chữ rơi rơi,

Từng con chữ quấn quanh đời người thơ.

 

Người đi khuất nẻo xa mờ,

Hỏi rằng tiếng ếch bây giờ còn không?

————-

* Thơ Trần Tú Xương

 

IM LẶNG

 

Chẳng ai chịu nói một lời,

Một lời thôi cũng rối bời trái tim.

Hai người như thóc lặng im,

Chỉ thương ngọn cỏ chết chìm trong tay.

 

SỰ BỨC BỐI CỦA LỬA

 

Viết một câu thơ

nhọc nhằn như tằm nhả tơ,

như người đàn bà vượt cạn

Câu thơ sinh ra toả bốn phương trời

Câu thơ

mang nặng đẻ đau của kẻ bị lưu đày

không tìm ra lối mở.

 

Thượng đế

ban tặng nhà thơ ngôn ngữ.

Nhà thơ làm nên diện mạo thơ mình.

 

Lửa nhóm tưởng dễ;

Nào đâu hương khói bay lên?

Lửa nhóm tưởng dễ

Vinh quang?

hay kẻ đốt đền?

 

Nhân thế

mười hai tầng địa ngục,

Ngục nào cho nhà thơ chuốt lấy tài danh?

Ngục nào cho ngôn từ bay đi không trở lại?

 

Có nhà thơ

tự đoạ đày mình

Đi gõ cửa những căn nhà không có cửa;

Đi rải truyền đơn

khi nhân loại không cần

Thơ nào như mớ giấy lộn ngoài đường

bay tả tơi trong gió.

 

Có nhà thơ

tự hành hạ mình

Với những trò vô bổ;

Những diễn đàn huênh hoang,

những lời yêu thô lỗ

Những câu thơ

chết rồi không sống nữa

kẻ to mồm tự xưng.

 

Nhà thơ ơi,

nhân loại kính yêu Người.

Thơ cũng vì trái tim mà hiển lộ;

Thơ cũng vì nỗi đau nhân gian

mà biếng cuộc chơi.

 

Thơ

thắp sáng niềm tin,

hướng mở cuộc đời.

 

Sự bức bối ngôn từ

Sự quặn thắt của lửa

Có khi cháy lên bừng bừng giận dữ

Và có khi,

êm dịu hết mình.

 

TRẦN NGỌC TRÁC

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *