Thi sĩ và nàng thơ – Truyện ngắn của Tatyana Tolstaya

Vanvn- Tatyana Tolstaya là một nhà văn viết truyện ngắn, tiểu luận và tiểu thuyết gia người Nga, nổi tiếng vào những năm 1980 với tư cách là một trong những giọng văn độc đáo nhất trong văn học Nga. Bà viết về những người bình thường, nhưng phong cách phức tạp của bà lại khác xa với lối viết thông thường, dựa trên những chi tiết mang tính ấn tượng, hình ảnh sống động, sự châm biếm, những câu cảm thán và các kỹ thuật kể chuyện đa tầng. Tác phẩm của bà thường được xếp vào loại chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của Nga, nhưng bà cũng chịu ảnh hưởng từ chủ nghĩa hiện thực của Gogol và trào lưu văn học tiên phong của Andrey Bely và Isaak Babel.

Tatyana Tolstaya sinh năm 1951 ở Leningrad (nay là St. Petersburg) trong một gia đình văn chương. Về phía cha, bà là cháu gái đời thứ tư của Lev Tolstoy , ông nội là tiểu thuyết gia Aleksei Tolstoy và bà nội là nhà thơ Natalia Krandievskaya. Ông ngoại của bà, Mikhail Lozinsky, đã thực hiện những bản dịch kinh điển về Shakespeare, Dante và Lope de Vega.

Trong những năm 1980 và 1990, Tolstaya dành nhiều thời gian ở Hoa Kỳ, nơi bà sinh sống cùng chồng, một giáo sư chuyên ngành văn học cổ điển, và giảng dạy tại một số trường đại học. Sau khi giảng dạy tại Đại học Princeton và Cao đẳng Skidmore, bà trở về Moskva. Tại Nga, Tolstaya cũng từng đồng dẫn chương trình truyền hình nổi tiếng mang tên “Школа злословия” (Trường học gièm pha); chương trình được phát sóng từ năm 2002 đến năm 2014.

Nhà văn Tatyana Tolstaya của Nga

Nina là một người phụ nữ tuyệt vời nhưng cũng hết sức bình thường. Cô là một bác sĩ, và hiển nhiên như bao người khác, cô xứng đáng có được quyền hạnh phúc cho riêng mình. Bản thân cô nhận thức rất rõ điều đó. Đến năm ba mươi lăm tuổi, sau một thời gian dài trải qua những thử nghiệm và sai lầm chẳng mấy vui vẻ – mà thôi, cũng chẳng đáng để nhắc lại làm gì – cô đã hiểu rõ mình cần gì. Cô cần một tình yêu điên cuồng, mê muội, một tình yêu có những giọt nước mắt nghẹn ngào, có những bó hoa, có những đêm dài thức canh điện thoại, có những cuộc rượt đuổi bằng taxi trong đêm, có những trở ngại định mệnh, có phản bội và có những lần tha thứ. Bạn biết đấy, cô cần một thứ đam mê bản năng như thế – một đêm lộng gió đen kịt với những ánh đèn, để những kỳ tích kinh điển của người phụ nữ xưa bỗng trở thành chuyện vặt vãnh: dẫu có đi mòn bảy đôi giày sắt, chống gãy bảy cây gậy sắt, nhai nát bảy ổ bánh mì sắt, thì phần thưởng nhận lại – món quà tối thượng – cũng chẳng cần là một bông hồng vàng hay một bệ đá trắng ngần nào cả, mà chỉ cần một que diêm đã cháy rụi, hay một chiếc vé xe buýt vo tròn thành viên bi nhỏ – một mẩu vụn rơi ra từ bàn tiệc nơi vị vua sáng suốt, người được trái tim cô lựa chọn, vừa ngự trị. Ừ thì, tự nhiên thôi, rất nhiều phụ nữ cũng thèm khát điều tương tự, nên Nina, như đã nói, xét về khía cạnh này là một người phụ nữ bình thường nhất, một người phụ nữ tuyệt vời, một bác sĩ.

Cô từng có một đời chồng – trải nghiệm đó chẳng khác nào một chuyến ngồi ê mông, chán ngắt trên chiếc ghế của chuyến tàu liên tỉnh, để rồi khi bước xuống, cô thấy mình mệt mỏi, rã rời, ngáp ngắn ngáp dài giữa một đêm không trăng sao ở một thành phố xa lạ, nơi chẳng có lấy một người thân thuộc nào cả.

Sau đó, có một thời gian cô sống như một kẻ ẩn dật, lao vào lau chùi, đánh bóng sàn nhà trong căn căn hộ nhỏ sạch sẽ của mình, rồi lại hứng thú học cắt may, nhưng rồi đâu lại vào đấy, cô lại chán. Mối tình nhạt nhẽo với Arkady Borisych, một bác sĩ da liễu, cứ âm ỉ cháy. Gã này đã có hai gia đình, chưa kể đến Nina. Sau giờ làm việc, cô thường ghé qua phòng khám đón gã – chẳng có một chút lãng mạn nào cả: chị lao công thì đang đổ rác, quệt cái chổi lau sũng nước loèn loẹt trên sàn nhựa linoleum, còn Arkady Borisych thì đứng rửa tay thật lâu, lấy bàn chải chà sát, săm soi những chiếc móng tay hồng hào một cách đầy nghi ngại, rồi nhìn vào gương với vẻ chán ghét chính mình. Gã đứng đó, hồng hào, no nê, béo tốt, tròn quay như quả trứng, chẳng thèm đoái hoài gì đến Nina dù cô đã mặc sẵn áo khoác đứng đợi ở cửa. Rồi gã thè cái lưỡi hình tam giác của mình ra, lật qua lật lại – gã sợ bị nhiễm trùng. Ôi dào, tưởng gã là Chim ưng yêu quý Finist[1]  chắc! Thứ tình cảm đam mê gì có thể xảy ra giữa cô với Arkady Borisych cơ chứ – tất nhiên là chẳng có gì rồi.

Thế nhưng cô xứng đáng có quyền được hạnh phúc, cô có đủ mọi lý do để đứng vào hàng xếp nốt nơi người ta phát hạnh phúc: cô có gương mặt trắng trẻo, xinh đẹp, đôi lông mày rậm, mái tóc đen mượt mà rủ thấp xuống hai bên thái dương và búi gọn phía sau. Đôi mắt cô cũng đen lay láy, đến mức đàn ông trên các phương tiện công cộng thường nhầm cô là người Moldova. Thậm chí có lần ở ga tàu điện ngầm, ngay lối chuyển tuyến chỗ ga “Kirovskaya”, có gã cứ bám lấy cô, khăng khăng tự xưng là nhà điêu khắc và đòi cô phải đi cùng gã ngay lập tức để làm mẫu cho cái đầu tượng tiên nữ Hūrīs[2], gấp lắm rồi: đất sét của gã đang khô đi. Dĩ nhiên là cô không đi, vì bản năng cô vốn không tin tưởng những người làm nghề sáng tạo nghệ thuật. Cô đã có một kinh nghiệm xương máu khi nhận lời đi uống cà phê với một kẻ tự xưng là đạo diễn điện ảnh và suýt nữa thì không chạy thoát được – đó là một căn hộ lớn với những chiếc bình gốm Tàu và phần trần nhà dốc nghiêng nằm trong một tòa nhà cổ.

…Mà thời gian thì cứ vùn vụt trôi qua, mỗi khi nghĩ đến chuyện đất nước có tới khoảng một trăm hai mươi lăm triệu đàn ông, vậy mà số phận chỉ bố thí cho cô vỏn vẹn mỗi gã Arkady Borisych, Nina lại cảm thấy lòng bồn chồn không yên. Tìm một người khác thì cũng được thôi, nhưng vớ đại một ai đó thì cô không cần. Qua năm tháng, tâm hồn cô ngày càng trở nên giàu có hơn, cô tự hiểu và cảm nhận bản thân mình một cách tinh tế hơn, để rồi vào những buổi tối mùa thu, cô lại càng thêm thương xót chính mình: chẳng có ai để cô dâng hiến bản thân, một người với vóc dáng thon thả và đôi lông mày rậm thanh tú nhường này. Đôi khi cô đến chơi nhà một cô bạn đã kết hôn nào đó, tặng đứa con tai to của người ta thanh sô-cô-la mua ở tiệm bánh mì gần nhà, rồi ngồi uống trà, trò chuyện hồi lâu, mắt cứ chốc chốc lại ngắm nghía mình qua tấm kính tối màu của cánh cửa bếp – nơi ảnh phản chiếu của cô trông càng bí ẩn, càng cuốn hút và nổi bật hơn hẳn cái bóng dáng sồ sề của cô bạn. Sẽ thật là công bằng nếu có một ai đó ca tụng cô. Cuối cùng, sau khi đã nghe xong những chuyện của cô bạn – nào là mua cái gì, nấu cái gì bị cháy, rồi đứa con tai to bị ốm ra sao – và sau khi đã quan sát gã chồng chuẩn mẫu số chung của người ta – cái trán hói, chiếc quần thể thao giãn chảy ở đầu gối, không, loại đàn ông thế này cô không cần – cô ra về, lòng đầy thất vọng. Cô mang theo cái thân hình thanh tao của mình ra khỏi cửa, bước ra chiếu nghỉ, rồi đi xuống cầu thang, hòa vào đêm tối mát lành. Chẳng đúng người chút nào, uổng công cô đến đây, uổng công dâng hiến bản thân và để lại dấu vết thơm tho của mình trong căn bếp mù mịt, uổng công cho đứa con nhà người ta ăn thanh sô-cô-la thượng hạng có vị đắng dịu – nó chỉ biết tọng cho đầy họng, bôi bẩn lem nhem chứ biết trân trọng là gì, thôi thì cứ để nó bị dị ứng phát ban từ đầu đến chân cho bõ ghét. Cô ngáp dài.

Thế rồi một trận dịch cúm Nhật Bản bùng phát, tất cả các bác sĩ đều được rút khỏi các phòng khám để đi chạy chữa tận nhà. Arkady Borisych cũng phải đi, gã đeo một chiếc rọ mõm bằng gạc và mang găng tay cao su để virus không bám vào người, nhưng phòng cũng chẳng được, gã đổ bệnh nằm liệt giường, và thế là những bệnh nhân của gã được giao lại cho Nina. Chính vào lúc này, như sau đó mới vỡ lẽ, số phận đã mai phục sẵn cô, hiện hình qua gương mặt của Grisha đang nằm trên chiếc trường kỷ, dưới đống chăn len, bộ râu chĩa ngược lên trên và hoàn toàn hôn mê bất tỉnh. Chính vào lúc này, mọi chuyện đã xảy ra. Cái xác nửa sống nửa chết ấy lập tức đánh cắp trái tim vốn đã chờ đợi mòn mỏi của Nina; những vệt bóng đau đớn trên vầng trán thanh tú như sứ, quầng thâm nơi hốc mắt trũng sâu, bộ râu mềm mại, trong trẻo như một khu rừng mùa xuân – tất cả hòa quyện thành một phông nền đầy ma mị, những tiếng vĩ cầm vô hình tấu lên khúc valse đám cưới – chiếc bẫy sập lại. Chà, ai mà chẳng biết chuyện này thường diễn ra thế nào. Bên cạnh người đàn ông đang hấp hối, một người phụ nữ đẹp đến phát ghét với mái tóc xõa tung đầy bi kịch đang vật vã khóc lóc (sau này, thật ra mới biết cũng chẳng có gì đặc biệt, chỉ là Agnia, cô bạn học cũ của Grishunya, một diễn viên nửa mùa, biết gảy guitar hát nghêu ngao vài câu, vớ vẩn thôi, mối nguy hiểm không đến từ phía đó) – đúng vậy, chính cô ta đã gọi bác sĩ, xin hãy cứu anh ấy! Cô ta, bạn biết đấy, chỉ tình cờ ghé qua thôi, vì anh ấy đâu có khóa cửa bao giờ và cũng chẳng bao giờ gọi người giúp, Grisha, một người quét rác, một nhà thơ, một thiên tài, một vị thánh! Và thế là… Nina dứt ánh nhìn khỏi gã quét rác đẹp một cách mị hoặc, đưa mắt quan sát căn phòng – một gian phòng lớn, những vỏ chai bia lăn lóc dưới gầm bàn, những đường phào chỉ bám đầy bụi bặm trên trần nhà, ánh sáng xanh xao từ những đống tuyết ngoài cửa sổ hắt vào, và một lò sưởi bỏ hoang, chất đầy rác rưởi với giẻ lau.

– Anh ấy là nhà thơ, là nhà thơ đấy, anh ấy làm nghề quét rác chỉ để có chỗ ở thôi, – Agnia lẩm bẩm.

Nina đuổi Agnia ra ngoài, tháo chiếc túi xách treo lên đinh, ân cần đón lấy trái tim mình từ tay Grishunya rồi đóng đinh nó vào ngay đầu giường của anh. Grishunya mê sảng ra thơ, có vần có điệu. Arkady Borisych thì tan biến nhanh như một viên đường trong cốc trà nóng. Con đường đầy gai góc nay đã mở ra.

Khi đã khôi phục lại thính giác và thị giác, Grishunya mới vỡ lẽ ra rằng Nina đang ngập tràn hạnh phúc sẽ ở bên anh cho đến đầu bạc răng long; ban đầu anh có chút ngạc nhiên và muốn trì hoãn cái hạnh phúc từ trên trời rơi xuống này lại, hoặc nếu không thể trì hoãn – thì anh thà đẩy nhanh ngày mình nằm xuống quan tài cho xong. Nhưng sau đó, vốn tính tình mềm mỏng, anh cũng trở nên dễ bảo hơn, chỉ xin cô đừng chia rẽ anh khỏi bạn bè. Tạm thời, trong lúc anh chưa hồi phục hẳn, Nina đã nhượng bộ. Tất nhiên, đó là một sai lầm: anh nhanh chóng đứng dậy được và lại bị cuốn vào những cuộc tụ tập vô bổ với cả cái bang hội dài dằng dặc ấy. Ở đó có đủ loại người: những gã trẻ tuổi chẳng rõ nghề ngỗng gì, một ông lão ôm cây đàn guitar, mấy cậu học sinh lớp chín tập tọe làm thơ, những diễn viên hóa ra lại là tài xế, và những tài xế hóa ra lại là diễn viên; rồi một cô vũ công ballet đã giải nghệ cứ leo lẻo: “Ôi, để tôi gọi thêm mấy đứa bên tôi đến”, lại có cả những quý bà đeo kim cương lấp lánh, những thợ kim hoàn không ai thèm công nhận, những cô nàng vô chủ với ánh mắt đầy đòi hỏi, những triết gia nửa mùa, và một thầy phó tế đến từ Novorossiysk – người lúc nào cũng mang theo một vali cá muối. Thậm chí có cả một gã người Tungus đang nán lại Moskva, gã này sợ đồ ăn thủ đô làm hỏng hệ tiêu hóa của mình nên chỉ ăn đồ tự mang theo – một thứ mỡ gì đó mà gã cứ dùng ngón tay quệt ra từ trong hũ nhỏ.

Tất cả bọn họ – hôm nay là người này, ngày mai là người khác – cứ tối đến là nhét đầy vào căn phòng quét rác; căn nhà phụ ba tầng như muốn nứt ra. Cư dân tầng trên cũng kéo xuống, họ gảy guitar, ca hát, đọc thơ của mình và của người khác, nhưng chủ yếu là ngồi nghe thơ của gia chủ. Trong mắt họ, Grishunya là một thiên tài, và suốt bao năm qua tập thơ của anh lúc nào cũng ở trong trạng thái suýt nữa thì xuất bản, nhưng ngặt nỗi có gã Makushkin xấu xa nào đó nắm quyền sinh quyền sát ở trên cứ cản trở, gã Makushkin ấy đã thề rằng chuyện đó chỉ xảy ra khi bước qua xác gã. Họ nguyền rủa Makushkin, tâng bốc Grisha lên tận mây xanh, mấy người phụ nữ thì cứ nài nỉ anh đọc nữa, đọc nữa đi. Grisha ngượng ngùng rồi cất giọng đọc – những vần thơ đặc quánh, đầy tính triết lý cao siêu, hệt như mấy chiếc bánh kem đắt tiền đặt làm riêng với những dòng chữ uốn lượn cầu kỳ và những tháp bánh cuộn meringue lộng lẫy, những vần thơ nặng trĩu lớp kem ca từ đến mức dẻo quánh, thi thoảng lại có tiếng lạo xạo như nhai phải hạt của những cụm âm thanh đột ngột, với những vần điệu dai ngoanh ngoách, kéo dài đầy đau khổ và có hại cho dạ dày. “E~e-e-e-e”, – gã người Tungus lắc đầu, gã có vẻ chẳng hiểu một từ tiếng Nga nào. “Sao thế, anh ta không thích à?” – các vị khách khẽ hỏi nhau. “Không, hình như ở bộ tộc họ thì đó là lời khen đấy”, – Agnia vừa lắc xù mái tóc vừa nói, cô ta sợ gã người Tungus sẽ yểm bùa mình. Các khách khứa nhìn Agnia đắm đuối rồi mời cô ta đi tăng hai ở một nơi khác.

Dĩ nhiên, cái cảnh người ngợm đông đúc nhung nhúc này khiến Nina vô cùng khó chịu. Nhưng điều khó chịu nhất là ngày nào cũng như ngày nấy, bất kể cô có tạt qua vào lúc nào – dù là ban ngày hay buổi tối sau ca trực – trong phòng quét rác luôn có một sinh vật thảm hại không dày hơn một chiếc nĩa đang ngồi đó, uống trà và công khai chiêm ngưỡng bộ râu mềm mại của Grisha. Ả mặc một chiếc váy đen dài chạm gót, trên mái tóc xơ xác cắm một chiếc lược nhựa – kẻ đó tên là Lizaveta. Tất nhiên, giữa Grishunya và cái con rận sầu thảm này chẳng thể nào có chuyện yêu đương gì được. Cứ nhìn cái cách ả thò bàn tay gầy gò đỏ hỏn ra khỏi tay áo, rụt rè chìa về phía cái bánh gừng cứng như đá đã vứt lăn lóc từ đời thuở nào kìa – cứ như thể ả đang sợ người ta sẽ nện cho một trận rồi giật cái bánh lại không bằng. Má ả thì tóp hơn mức cần thiết ở một con người, xương hàm thì lại quá to, mũi thì toàn sụn, và nhìn chung ở ả có cái nét gì đó của một loài cá – một loài cá đáy biển sâu, đen đúa, mù mịt, suốt đời chỉ biết bò dưới đáy trong bóng tối dày đặc chứ chẳng bao giờ dám ngoi lên cao hơn, nơi những tầng nước đầy ánh nắng mặt trời, nơi có những giống loài mang sắc xanh lam và đỏ rực đang tung tăng bơi lội ngoài bãi cạn.

Không, yêu đương gì nổi ở đây. Thế mà Grishunya, cái gã ngơ ngẩn thánh thiện ấy, lại nhìn cái bộ khung xương di động kia một cách đầy thích thú, đọc thơ cho ả nghe, vừa đọc vừa rên rỉ rầu rĩ và nhún người theo nhịp vần, rồi sau đó, chính anh cũng tự làm mình xúc động bởi tác phẩm của chính mình, anh chớp mắt liên hồi, rơm rớm nước mắt rồi quay đi, ngước nhìn lên trần nhà để nước mắt chảy ngược vào trong. Còn Lizaveta thì lắc đầu quầy quậy, tỏ vẻ như toàn bộ cơ thể đang bị chấn động dữ dội, ả hỉ mũi và bắt chước những tiếng nấc cụt ngắt quãng như trẻ con, làm bộ như thể mình cũng vừa mới khóc lóc thảm thiết xong.

Tranh của họa sĩ Nguyễn Quang Thiều

Không, điều này khiến Nina cực kỳ khó chịu. Phải tống khứ con mụ Lizaveta này đi mới được. Thế mà Grishunya lại thích thú với sự sùng bái trơ trẽn đó; cái gã xuề xòa ấy thì trên đời này cái gì gã chẳng thích: từ việc xúc tuyết xốp vào buổi sáng, sống trong gian phòng lớn có cái lò sưởi đầy rác vụn, cho đến việc nhà ở tầng một và cửa thì luôn mở toang – ai muốn vào thì vào. Gã thích cả cái cảnh nhốn nháo, người ra kẻ vào tấp nập, thích vũng nước do tuyết tan chảy lênh láng ở lối vào, thích tất thảy những cậu trai cô gái, diễn viên lẫn ông già, thích cả mụ Agnia như một vật vô chủ – kẻ mang danh nghĩa là sinh vật tốt bụng nhất trần đời, thích gã người Tungus chẳng biết đến đây làm công việc gì, và tất cả những kẻ gàn dở, được công nhận lẫn không được công nhận, những thiên tài và những kẻ bị gạt bên lề xã hội, thích cả con mụ Lizaveta gầy rộc như bị gặm mất xương, và – để tính cho tròn một thể – gã thích luôn cả Nina.

Trong mắt những kẻ hay lui tới căn nhà phụ, Lizaveta được coi là một họa sĩ. Và quả thực, tranh của ả cũng được trưng bày ở mấy cuộc triển lãm hạng hai, còn Grishunya thì lại tìm thấy nguồn cảm hứng từ những bức bôi bác tối tăm của ả và sáng tác hẳn một chùm thơ ăn theo. Để nhào nặn ra các tác phẩm của mình, Lizaveta, như một phù thủy châu Phi, phải tự đưa bản thân vào một trạng thái cuồng nộ không kiềm chế nổi. Khi ấy, đôi mắt lờ đờ của ả bỗng rực lửa, và với những tiếng la hét, thở hổn hển cùng một sự giận dữ bẩn thỉu nào đó, ả lao vào tấm toan, dùng nắm đấm nhào trộn các màu xanh lam, đen, vàng rồi ngay lập tức lấy móng tay cào cấu lên cái mớ hỗn độn sơn dầu còn chưa kịp khô. Trường phái này được gọi là “Trường phái Cào cấu”, một cảnh tượng thật kinh hãi. Nhưng kỳ lạ thay, kết quả lại cho ra đời những loài cây dưới đáy nước, những ngôi sao, những lâu đài treo lơ lửng giữa không trung, cái gì đó vừa như đang bò trườn lại vừa như đang bay lượn cùng một lúc.

“Sao cô ta không làm việc một cách bình tĩnh hơn được nhỉ?” – Nina thì thầm vào tai Grishunya khi có lần chứng kiến một buổi lên đồng cào cấu của Lizaveta. “Ơ kìa, thế nghĩa là không thể rồi, – Grishunya yêu dấu thì thầm lại, hơi thở thơm mùi kẹo sữa, – đó là cảm hứng, đó là tâm linh, biết làm sao được, nó thích phiêu lãng đi đâu thì đi chứ”. – Và đôi mắt anh ngời lên vẻ dịu dàng cùng sự tôn kính dành cho con mụ bôi bẩn điên loạn kia.

Đôi bàn tay gầy trơ xương của Lizaveta nở rộ những vết lở loét vì hóa chất độc hại của sơn, và những vết lở loét tương tự cũng đang gặm nhấm trái tim ghen tuông của Nina – trái tim đang bị đóng đinh ngay trên đầu giường của Grisha. Cô không muốn chung đụng Grisha với bất kỳ ai theo kiểu đại trà như thế; đôi mắt xanh biếc và bộ râu trong trẻo của gã quét rác đẹp trai này phải thuộc về cô, và chỉ một mình cô mà thôi. Ôi, giá như cô có thể trở thành người làm chủ danh chính ngôn thuận, chứ không phải một cô nhân tình tình cờ, bấp bênh; giá như cô có thể bỏ Grishunya vào một chiếc rương, rắc đầy băng phiến, phủ lên một tấm vải bạt, sập nắp lại rồi ngồi chễm chệ lên trên, thi thoảng lại giật giật mấy cái ổ khóa xem có chắc chắn không!

Ôi, nếu được như thế thì sao cũng được, lúc đó thì mặc xác Lizaveta. Cứ để ả sống và cào cấu những bức tranh của ả, cứ để ả dùng răng mà gặm tranh cũng được, hay có cắm đầu xuống đất mà đứng trơ trơ như một cái cột đầy kích động dở người thì tùy. Cứ để ả xúng xính váy áo, cài một chiếc nơ màu cam trên mái tóc xơ xác tại các buổi triển lãm thường niên bên cạnh những bức toan man rợ của mình; cứ để ả đỏ tay, đỏ mặt, mồ hôi nhễ nhại và chực khóc vì tủi thân hay vì hạnh phúc, trong khi ở góc phòng, trên chiếc bàn lung lay, các công dân đang dùng tay che chắn khỏi những ánh mắt tò mò để viết vào cuốn sổ đóng gáy đỏ dày cộp những lời phê mà chưa ai biết trước: có thể là “vớ vẩn”, hoặc “tuyệt vời”, hay “ban quản lý nhìn cái gì mà để thế này”, hoặc một vài lời ca tụng sướt mướt, hoa mỹ có chữ ký của một nhóm nữ thủ thư tỉnh lẻ – về việc họ đã bị thứ nghệ thuật thiêng liêng và vĩnh cửu này xuyên thấu tâm can ra sao.

Ôi, phải giật phắt Grisha ra khỏi cái môi trường độc hại này, cạo sạch những người đàn bà dư thừa đang bám chặt lấy anh như những con hà bám vào đáy tàu, kéo anh ra khỏi biển khơi bão táp, lật ngửa anh lại, quét hắc ín, xảm kín các khe hở, rồi đặt anh lên bệ đỡ ở một nơi yên tĩnh, thanh bình!

Thế nhưng anh, cái gã vô tư lự, kẻ sẵn sàng ôm cổ bất kỳ con chó hoang nào ngoài đường hay cưu mang bất kỳ gã lang thang mất vệ sinh nào, lại đang lãng phí bản thân cho đám đông, ban phát chính mình từng nắm một. Cái tâm hồn chất phác ấy xách một chiếc túi lưới, chất đầy sữa chua và váng sữa rồi đi thăm con mụ Lizaveta bị ốm, và cô lại phải lếch thếch đi cùng anh. Trời đất ơi, cái hang ổ gì thế này, cái phòng gì mà vàng vạch, dễ sợ, bám đầy bùn đất, mù mịt và không có lấy một cái cửa sổ! Và Lizaveta thì nằm thoi thóp trên chiếc giường sắt dưới tấm chăn quân đội, đang sung sướng tọng thứ váng sữa trắng muốt vào cái miệng đen ngòm; bên cạnh là đứa con gái béo ú, nhớn nhác và chẳng có nét nào giống mẹ đang cắm cúi bên mấy quyển vở học sinh – trông nó cứ như thể ngày xửa ngày xưa Lizaveta đã lai phối giống với một con chó Saint Bernard[3] vậy.

“Thế dạo này cô sống thế nào hả?” – Grishunya hỏi. Và Lizaveta khẽ cựa quậy bên bức tường vàng:  “Bình thường”. “Cô có cần gì không?” – Grishunya cố nài nỉ. Và chiếc giường sắt lại kêu cọt kẹt: “Con Nastya sẽ lo hết”.  “Thôi, học bài đi nhé”, – nhà thơ vừa dậm chân tại chỗ vừa xoa đầu con bé Nastya béo ú, rồi lùi dần ra phía hành lang, trong khi Lizaveta kiệt sức đã ngủ thiếp đi từ lúc nào, và trong miệng ả vẫn còn nguyên một vũng sữa chua chưa kịp nuốt.

“Anh với cô ấy… có lẽ nên gộp lại làm một”, – Grishunya giơ tay hoa chân múa tay một cách mơ hồ, mắt lảng đi chỗ khác. “Em thấy đấy, chuyện nhà cửa khó khăn thế nào. Cô ấy đến từ Totma, phải thuê một cái xó xỉnh, vậy mà tài năng thế kia cơ chứ, hả? Đứa con gái cô ấy cũng rất hướng về nghệ thuật. Con bé nặn tượng giỏi lắm, chứ ở Totma thì ai dạy nó được”. – “Anh với em sắp cưới nhau rồi, em là của anh”, – Nina nghiêm giọng nhắc nhở.  “À, phải rồi, anh quên mất”, – Grishunya xin lỗi. Anh là một người mềm mỏng, chỉ tội trong đầu toàn nghĩ chuyện dại dột.

Tiêu diệt Lizaveta cũng khó khăn như cắt đôi một con giun đất ăn táo vậy. Khi người ta đến phạt ả vì vi phạm chế độ đăng ký hộ khẩu, ả đã kịp lẩn lút sang một chỗ khác, và Nina lại cử các đội chức năng đến đó. Lizaveta trốn dưới các hầm nhà – Nina cho ngập nước các hầm nhà; ả ngủ qua đêm trong các nhà kho – Nina cho dỡ bỏ các nhà kho; cuối cùng, Lizaveta tiêu tán dần và trở thành một cái bóng.

Nina đã đi mòn bảy đôi giày sắt[4] qua các ban hộ khẩu và đồn công an, đã đánh gãy bảy cây gậy sắt trên lưng Lizaveta, đã nhai nát bảy ký bánh gừng sắt trong cái phòng quét rác đáng ghét ấy – giờ là lúc phải tổ chức đám cưới thôi.

Cái đám băng hội nhố nhăng kia đã thưa thớt dần, những buổi tối ở căn nhà phụ giờ đã có được sự yên tĩnh dễ chịu, thỉnh thoảng mới có một kẻ liều lĩnh tình cờ đến gõ cửa một cách đầy tôn kính, rồi cẩn thận lau chân dưới ánh nhìn của Nina, lòng thầm hối hận ngay lập tức vì đã bén mảng tới đây. Grishunya cũng chẳng còn phải khổ sở với cái xẻng xúc tuyết và chôn vùi tài năng của mình trong những đống tuyết bao lâu nữa, anh đang chuyển đến nhà Nina. Ở đó, một chiếc bàn viết vững chãi, rộng rãi phủ kính hữu cơ đang chờ đón anh: bên trái bàn là một chiếc lọ nhỏ cắm hai nhành liễu tơ, bên phải – trong chiếc khung có chân đế xòe ra – là bức ảnh chân dung Nina đang mỉm cười, có thể nói là “gương mặt em trong chiếc khung giản dị”. Nụ cười của cô hứa hẹn rằng mọi thứ sẽ thật tốt đẹp, no nê, ấm áp và sạch sẽ; rằng chính Nina sẽ đích thân đến gặp đồng chí Makushkin để giải quyết dứt điểm cái vấn đề kéo dài dai dẳng về tập thơ. Cô sẽ đề nghị đồng chí Makushkin xem xét kỹ lưỡng các bản thảo, đưa ra lời khuyên, chỉnh sửa đôi chỗ, cắt cái miếng bánh kem thơ ca dẻo quánh của Grisha thành những miếng bánh ngọt vừa vặn, dễ nuốt cho người đọc.

Nina cho phép Grishunya được chia tay bạn bè lần cuối, và thế là những binh đoàn lũ lượt kéo đến dự bữa tiệc chia tay – đủ loại con gái lẫn những kẻ dị hình dị hợm, các ông già và những thợ kim hoàn. Lại có cả ba chàng trai vũ công ballet với đôi mắt như mắt con gái, chân bước đi cứ lật qua lật lại; rồi một gã thọt chống nạng lết vào, người ta còn dẫn theo một người mù, và thấp thoáng cả cái bóng của Lizaveta – lúc này gần như đã tiêu biến không còn chút da thịt nào. Thế nhưng đám đông vẫn cứ tiếp tục ùa vào, vo ve và lao tới như đống rác rưởi phun ra từ một chiếc máy hút bụi bị bật đảo chiều. Mấy gã râu rậm thì cứ bò lê bò lết bò ra, các bức tường của căn nhà phụ như giãn ra dưới sức ép của người ngợm, tiếng la hét, tiếng khóc lóc và những lời cầu cúng nhảm nhí vang lên khắp nơi. Người ta đập phá bát đĩa. Mấy chàng trai vũ công ballet kéo mụ Agnia đang lên cơn kích động đi, làm tóc mụ kẹt cả vào khe cửa; cái bóng của Lizaveta thì tự cào cấu gặm nhấm hai bàn tay mình rồi nằm lăn lộn trên sàn, cầu xin người ta giẫm đạp lên mình – và người ta đã đáp ứng thỉnh cầu đó; thầy phó tế kéo gã người Tungus vào một góc rồi dùng ra hiệu để hỏi tôn giáo của họ là gì, gã người Tungus cũng ra hiệu đáp lại rằng tôn giáo của họ là tốt đẹp nhất trên đời.

Dịch giả Nguyễn Văn Chiến

Còn Grisha thì cứ lao cái trán trắng muốt như sứ của mình vào tường mà gào lên rằng thôi được rồi, anh sẽ chết, nhưng sau khi chết, rồi các người xem – anh sẽ lại trở về với bạn bè và sẽ không bao giờ rời xa họ nữa.

Thầy phó tế không tán thành những lời lẽ như vậy. Và Nina cũng chẳng tán thành.

Đến sáng thì tất cả lũ yêu ma quỷ quái ấy đều biến sạch, và Nina đỡ Grishunya vào một chiếc taxi, chở anh về tòa lâu đài pha lê của mình.

…Ôi, bạn biết không, chẳng có ai để mà vẽ chân dung của người mình yêu khi anh ấy vừa dụi đôi mắt xanh ngái ngủ, vừa thò cái chân trẻ trung đầy lông lá ra khỏi chăn rồi ngáp một cái rõ dài! Và bạn nhìn anh ấy như bị bỏ bùa mê, mọi thứ thuộc về anh ấy đều là của bạn, của riêng bạn: từ chiếc răng mẻ, cái mảng hói cho đến cả nốt mụn cóc duyên dáng!

Và bạn cảm thấy mình như một nữ hoàng, người ta phải dạt ra nhường đường, các đồng nghiệp kính cẩn cúi đầu chào, còn Arkady Borisych thì lịch sự bắt tay bạn qua một mẩu giấy vô trùng bọc sẵn.

Thật tuyệt biết bao khi được chữa trị cho những bệnh nhân đầy lòng tin tưởng, thật tuyệt khi được xách những chiếc túi trĩu nặng đồ ăn ngon về nhà, thật tuyệt khi mỗi tối lại như một người chị chu đáo, kiểm tra xem hôm nay Grishunya đã viết được những gì.

Duy chỉ còn một nỗi anh yếu ớt quá, khóc lóc suốt thôi, lại chẳng chịu ăn uống gì, cũng chẳng chịu viết ngay ngắn trên giấy trắng sạch sẽ. Anh cứ theo thói quen cũ, nhặt nhạnh mấy mẩu giấy lộn với vỏ bao thuốc lá rồi vạch lên đó những nét chữ nguệch ngoạc, hoặc có khi chỉ vẽ mấy đường xoắn quẩy với móc câu vớ vẩn. Và anh cứ sáng tác về một con đường vàng rực, lúc nào cũng là con đường vàng, và phía trên con đường là một ngôi sao trắng. Nina lắc đầu: “Suy nghĩ lại đi, mặt trời của em ơi, thơ ca kiểu này làm sao mang đến cho đồng chí Makushkin được, anh phải nghĩ đến tập thơ của mình chứ, chúng ta đang sống trong thế giới thực mà”. Nhưng anh chẳng chịu nghe, cứ viết mãi về ngôi sao và con đường, khiến Nina phải quát lên: “Anh có hiểu em nói gì không, mặt trời của em?! Cấm anh sáng tác kiểu như thế nhé!”. Anh sợ hãi giật nảy đầu, còn Nina thì dịu giọng lại: “Thôi nào, thôi nào”, rồi đỡ anh nằm xuống giường, cho anh uống nước sắc bạc hà và hoa bồ đề, cho uống cả cỏ Adonis với cây ích mẫu. Thế mà cái gã vô ơn ấy lại khóc không ra nước mắt, rồi rắp tâm sáng tác những vần thơ đầy xúc phạm Nina – rằng cây ích mẫu đã mọc rậm rạp trong tim anh, khu vườn của anh đã lụi tàn, những cánh rừng đã bị thiêu rụi, và có một con quạ đang rỉa đi ngôi sao cuối cùng trên bầu trời câm lặng; và dường như anh, Grishunya, đang ở trong một căn túp lều vô định nào đó, cứ ra sức đẩy mãi cánh cửa đã bị đóng băng nhưng không sao ra nổi, chỉ nghe thấy tiếng gót giầy đỏ nện chan chát ở phía xa… “Tiếng gót giầy của ai đấy? – Nina giật giật tờ giấy, hỏi dồn. – Em chỉ muốn biết cho rõ: tiếng gót giầy của ai hả?!” – “Em thì biết cái gì mà hiểu”, – Grishunya giật lại mảnh giấy. “Không, em hiểu hết, hiểu quá đi chứ, – Nina cay đắng đáp, – và em chỉ muốn biết tiếng gót giầy đó là của ai và chúng đang nện ở đâu?” – “A-a-a-a-a!!! Chúng đang nện ở trong đầu tôi đây này!!!” – Grishunya gào lên rồi trùm chăn kín mít từ đầu đến chân, còn Nina đi vào nhà vệ sinh, xé vụn những vần thơ ấy rồi tống chúng xuống dòng nước địa ngục, xuống thác Niagara thu nhỏ của gia đình.

Mỗi tuần một lần, cô lại kiểm tra bàn viết của anh và vứt bỏ những bài thơ mà một người đàn ông đã có vợ không nên sáng tác. Và đôi khi vào ban đêm, cô lại dựng anh dậy để thẩm vấn: anh đang viết bài cho đồng chí Makushkin hay lại đang lười biếng trốn việc? Và anh chỉ biết lấy tay che mặt, không tài nào chịu thấu thứ ánh sáng chói lòa từ sự thật phũ phàng của cô.

Họ cứ sống lay lắt như thế qua hai năm trời, nhưng anh – dù được bao bọc trong đủ đầy sự chăm sóc – lại chẳng biết trân trọng tình yêu của cô và hoàn toàn buông xuôi, không thèm cố gắng nữa. Anh cứ đi vật vờ quanh căn hộ rồi lẩm bẩm, lẩm bẩm rằng rồi anh sẽ chết, người ta sẽ lấp đất lên anh, những lớp đất sét lạnh lẽo nơi nghĩa trang, và những đồng xu bạch dương bằng vàng nhỏ bé sẽ rơi rụng xuống nấm mồ như những đồng tiền bố thí, rồi chiếc thập giá gỗ hay cái hình chóp bằng gỗ dán – thứ gì đó rẻ tiền mà người ta không tiếc để cắm lên mộ anh – sẽ mục nát dưới những trận mưa thu, rồi tất cả sẽ lãng quên anh, chẳng có ai thèm đến viếng, chỉ có một người khách qua đường rảnh rỗi nào đó đứng lại một chút để nhẩm tính làm phép trừ mấy con số có bốn chữ số – anh chuyển từ thơ có vần điệu sang thứ thơ tự do nặng nề, ẩm ướt như củi gỗ thông, hoặc thứ văn xuôi nhịp điệu sầu thảm. Và thay vì ngọn lửa thuần khiết, từ những dòng thơ độc hại ấy lại tỏa ra một làn khói trắng ngột ngạt đến mức Nina phải ho sặc sụa, xua tay lia lịa rồi kêu lên trong nghẹn ngào: “Anh dừng ngay cái kiểu sáng tác ấy lại cho tôi!!!”. Sau đó, có những người tốt bụng mách lại với cô rằng Grishunya muốn quay trở lại căn nhà phụ, rằng anh đã đến gặp mụ lao công mới thế chỗ anh – một con mụ béo ú – để mặc cả xem mụ ta lấy bao nhiêu tiền thì chịu nhượng lại cuộc sống trước đây cho anh, và mụ béo đó đã bắt đầu vào cuộc thương lượng. Nina vốn có mối quan hệ bên ngành quản lý nhà thuốc thành phố, cô liền đánh tiếng ở đó rằng có một tòa nhà ba tầng tuyệt đẹp ở trung tâm, có thể trưng dụng làm cơ sở hoạt động, mà đúng lúc họ lại đang tìm kiếm. Phía quản lý nhà thuốc  thành phố vô cùng cảm ơn cô, nơi đó rất hợp ý họ, và thế là chẳng bao lâu sau, cái phòng lao công không còn nữa, lò sưởi bị đập phá, và một trong những trường đại học y đã đặt các bộ môn của mình ngay tại căn nhà phụ ấy.

Grisha im bặt và suốt khoảng hai tuần liền, anh trở nên lầm lũi, ngoan ngoãn. Nhưng rồi sau đó anh thậm chí còn vui vẻ trở lại, cất tiếng hát trong phòng tắm, cười đùa, chỉ có điều là anh hoàn toàn không ăn uống gì và lúc nào cũng đứng trước gương để tự sờ nắn khắp người mình. “Sao dạo này anh có vẻ vui sướng thế?” – Nina gặng hỏi. Anh liền mở cuốn hộ chiếu ra cho cô xem, nơi khoảng trống màu xanh đã bị đóng một cái dấu mực tím dày cộp: “Không thuộc diện chôn cất”. “Thế này là nghĩa làm sao?” – Nina hoảng sợ. Còn Grishunya lại cười và bảo rằng anh đã bán bộ xương của mình cho Viện Hàn lâm Khoa học với giá sáu mươi rúp, rằng anh sẽ sống thọ hơn di hài của chính mình và trốn thoát khỏi sự thối rữa, rằng anh sẽ không phải nằm dưới lòng đất ẩm ướt như anh hằng lo sợ, mà sẽ được đứng giữa mọi người trong một gian phòng sạch sẽ, ấm áp, được xỏ dây liên kết xương và được đánh số đàng hoàng, rồi sinh viên – cái lũ thanh niên vui tính ấy – sẽ vỗ vai anh, búng trán anh và mời anh vài điếu thuốc; đấy, anh đã nghĩ ra một kế hoạch vẹn cả đôi đường chưa kìa. Anh chẳng thèm giải thích gì thêm trước những tiếng gào thét của Nina, mà chỉ rủ cô đi ngủ, nhưng không quên nhắc cô lưu ý rằng kể từ nay, cô đang ôm ấp tài sản của nhà nước và phải chịu trách nhiệm vật chất trước pháp luật với số tiền là sáu mươi rúp hai mươi lăm kopek.

Và chính từ thời khắc đó, như sau này Nina kể lại, tình yêu của họ bắt đầu trục trặc, bởi cô không thể nào nhen nhóm nổi một thứ đam mê trọn vẹn dành cho một khối tài sản công cộng và đi hôn một món đồ thuộc danh mục kiểm kê của Viện Hàn lâm. Chẳng còn thứ gì trên cơ thể anh thuộc về cô nữa.

Và thử nghĩ mà xem, cô đã phải trải qua những cảm xúc gì – cô, một người phụ nữ tuyệt vời, bình thường, một bác sĩ, người hiển nhiên xứng đáng có được một phần bánh hạnh phúc trong đời như bao người khác, một người phụ nữ đã đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân đúng như những gì chúng ta đều được dạy bảo, một người có thể nói là đã giành được quyền lợi của mình qua đấu tranh?

Thế nhưng, bất chấp mọi nỗi đau khổ mà anh đã gây ra cho cô, suy cho cùng cô vẫn giữ lại được một thứ cảm xúc rất ngời sáng, cô nói vậy. Và nếu tình yêu không được vẹn tròn như mơ ước, thì đó tuyệt nhiên không phải lỗi của Nina. Lỗi là tại cuộc đời. Sau cái chết của anh, cô đã vô cùng suy sụp, các cô bạn đều đồng cảm với cô, và ở cơ quan người ta cũng tạo điều kiện cho cô nghỉ mười ngày không lương. Đến khi mọi thủ tục hậu sự đã xong xuôi, Nina năng đi thăm thú mọi người và kể rằng Grisha bây giờ đang đứng ngay trong căn nhà phụ năm xưa như một giáo cụ trực quan, người ta đã đóng cho anh một cái biển số kiểm kê, và cô cũng đã đến tận nơi để xem rồi. Ban đêm thì anh được cất trong tủ, còn ban ngày thì lúc nào cũng được ở bên cạnh mọi người.

Nina còn kể thêm rằng lúc đầu cô cũng suy sụp vì mọi chuyện lắm, nhưng rồi cũng chẳng sao, cô đã nguôi ngoai sau khi có một người phụ nữ – một người cũng rất dễ mến và cũng có chồng vừa qua đời – kể với cô rằng, xét cho cùng, chị ta đại loại là thậm chí còn thấy hài lòng.

Chuyện là người phụ nữ đó có một căn hộ hai phòng, và chị ta thì luôn ao ước được trang trí một phòng theo phong cách thuần Nga: sao cho ở chính giữa chỉ đặt độc một chiếc bàn không hơn không kém, còn xung quanh kê toàn những chiếc ghế băng trường kỷ thật đơn sơ, không thèm bào nhẵn. Rồi trên tường thì treo đủ thứ nào là giày cỏ bện, tranh thánh, liềm cắt cỏ, guồng kéo sợi – ồ, đại loại tất tần tật những thứ như thế. Và giờ đây, khi có một phòng bỏ trống, người phụ nữ đó liền bắt tay vào làm đúng như vậy, biến nơi đó thành phòng ăn, và khách khứa đến chơi ai nấy đều khen ngợi hết lời.

NGUYỄN VĂN CHIẾN dịch từ nguyên tác tiếng Nga

__________________________

[1] Chim ưng yêu quý Finist: Nhân vật nổi tiếng trong văn hóa dân gian Nga: một anh hùng dũng mãnh và có khả năng biến hình, có thể hóa thân thành một loài chim xinh đẹp. Finist được biết đến là người hùng trong một câu chuyện dân gian Nga kinh điển về lòng chung thủy, trong đó một thiếu nữ giải cứu người yêu của mình khỏi một mụ phù thủy độc ác. (ND)

[2] Hūrīs: Thường được dịch là “tiên nữ thiên đường”, là những linh hồn thuần khiết, tuyệt đẹp cư trú tại Jannah (Thiên đường). Họ được nhắc đến trong Kinh Qur’an như một phần thưởng và biểu tượng của sự thanh khiết, niềm vui tinh thần cho các tín đồ ở thế giới bên kia.(ND)

[3] Saint Bernard: Một giống chó rất lớn từ Ý và Alps Thụy Sĩ, ban đầu được nuôi với mục đích cứu hộ. Giống này đã trở nên nổi tiếng qua câu chuyện về các cuộc giải cứu trên núi cao, cũng như kích thước to lớn của nó. (ND)

[4] Đi mòn bảy đôi giày sắt: Rút từ motiv trong “Truyện chim ưng yêu quý”: Rồi chim ưng trong veo cất tiếng nói lớn:
  – Tạm biệt, hỡi thiếu nữ xinh đẹp! Nếu nàng cần ta, nàng sẽ tìm thấy ta, dù ta có thể ở rất xa! Và trước đó, khi đi đến chỗ ta ở bên kia vùng đất thứ mười ba, đến căn phòng thứ mười ba, nàng sẽ phải đi mòn bảy đôi ủng sắt, gặm bảy ổ bánh mì sắt”. Tức là, tình yêu như một lời kêu gọi, sức mạnh thanh tẩy, cứu rỗi. (ND)

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *