Vanvn- Chuyện Tây thủ tiêu người rồi chuyện của cậu bé Thầu thành hiệu ứng dây chuyền, dân phu rùng rùng chuyển động, mắt đổ dồn về Khờn nhọn, khiến lão và đám đệ tử đành co lại, dòng người như thác cuốn xuống triền dốc, họ đằng đằng sát khí.

Cuối tháng mười âm lịch, trời rét như cắt da thịt. Gió mùa Đông Bắc cào cấu, rít từng cơn, như muốn hất tung từng kiếp cơ hàn, tựa hồ những sinh linh bị đọa đầy ở chốn trần gian. Tầng than nham nhở, chỏng chơ đá cùng xít. Một đường ray chạy xe goòng bằng sức người. Phu làm mỏ đến từ các miền quê, họ trốn thuế khóa, lao dịch, trốn lính, cả những tay đục tường khoét vách không còn đất dung thân, thành phần chủ yếu vẫn là dân nghèo, không tấc đất cắm dùi tha hương, đổi sức kiếm miếng cơm manh áo.
Đám dân phu gầy nhẳng, đầu trần, chân đất quần manh, áo mảnh, mụn vá chồng chéo, lao vào công việc dưới những lằn roi bằng song mây của đám cai. Công việc cực nhọc giúp họ phần nào không còn cảm giác về cái rét, lưng họ oằn xuống giữa công việc và lằn roi như nhân thêm tầm thảm khốc của kiếp người. Từng cơn gió rít ào ào, rung lắc những lùm lau le, những vạt cây bên cạch rừng tạo nên từng hồi âm thanh rú rít giống tiếng ma quái hiện hồn, lốc tung từng luồng bụi đen mù mịt vây bủa, xô đẩy kiếp nhân sinh vào khổ tận.
Trong đám phu mỏ, có một cậu bé tuổi mới mười ba. Cậu gầy nhẵng nhưng được cái nhanh nhẹn. Cậu chào đời trong hoàn cảnh rất đặc biệt. Mẹ cậu là con một gia đình khá giả ở vùng quê Thái Bình, Nam Định gì đó. Nhưng anh trai sa vào cờ bạc khiến sản nghiệp của cha mẹ đội nón ra đi. Ông bà uất thành bệnh theo nhau qua đời. Anh trai gán vợ, đợ con trên chiếu đỏ đen. Cuối cùng, cô em gái cũng chẳng tha. Cô may mắn được một thanh niên nghèo cảm mến, dũng cảm giúp trốn thoát bàn tay những kẻ cờ gian bạc lận.
Cái nghèo, sự khốn cùng đã đưa hai con người họ gắn bó với nhau. Cuộc trốn chạy đưa họ xa mãi… đến tận miền đất lam lũ, cơ hàn này. Họ có mặt trên tầng mỏ ở xứ Cẩm vào những năm giữa thập niên ba mươi của thế kỉ hai mươi. Họ làm phu mỏ cho người Tây và cùng nhau khai rừng, vạt núi, tạo được một mảnh vườn, một túp lều tại nơi gọi là lán phu mỏ. Chàng trai bị sốt cấp tính do đòn roi, không tiền thuốc thang đã từ giã cõi đời, để lại cô gái với cái thai mới vài tháng tuổi. Cuộc đình công năm 1936 khởi nguồn từ những người cùng khổ*, họ chuẩn bị lương ăn, thực phẩm cho cuộc đấu tranh với chủ Tây. Lúc xuống đường, đòi chủ Tây phải tăng lương, giảm giờ làm, cấp dụng cụ sản xuất… lúc cam go nhất, cô gái bụng chửa vượt mặt đã sinh con thiếu tháng. Sức yếu, cô đã nhắm mắt theo chồng ngay lúc đứa con trai cất tiếng chào đời.
Cái tên Thầu của cậu, theo lời của mẹ nuôi thì xuất phát từ cái cây thầu dầu mọc hoang trong vườn nhà cậu… nó còn nghĩa đồng âm chữ giầu có. Những người thợ mỏ cưu mang cậu từ khi lọt lòng. Cậu lớn lên cùng mẹ nuôi, đấy là một phụ nữ chưa lập gia đình, bà có tình thương vô hạn với cậu. Tuổi thơ của cậu lớn cùng lau le và tầng mỏ. Mười tuổi, cậu đã đi làm nhau để đỡ đần mẹ nuôi. Thời gian như thế chẳng được bao lâu.
Chiều bước vào ngày sinh thứ mười ba, cậu cùng bạn rủ nhau đi câu cá đục ở vũng biển. Các cậu phát hiện dưới nước trong vắt có nhưng khối lấp lờ. Thấy lạ, trời rét nhưng tò mò, các cậu quyết lôi lên xem cái gì? Các cậu hè nhau, kéo được một khối gần nhất vào thì ra đây là những chiếc bao gai, phải gỡ hòn đá to bị cột bằng loại cây leo ra mới đưa được cái bao lên bờ, miệng bao còn buộc chặt bằng dây đồng chỉ bọn Tây mới có. Các cậu hí hửng cùng mở bao, mới tá hỏa trong đó là một xác người. Xác ngâm trong nước biển chưa phân hủy nhưng mùi hôi thối cũng xộc ra rất khó chịu. Các cậu bỏ cả cá lẫn cần câu, chạy một mạnh về báo cho người lớn.
Chuyện bọn Tây thủ tiêu người bị chúng bắt, tra tấn rồi nhét vào bao gai, buộc đá dìm xuống vụng biển cho chết bị lộ. Cái tên Vũng Đục được gọi từ đấy, nó không phải là nơi có nhiều cá đục mà có nghĩa là “Đục” trong nghĩa mờ ám của chính quyền thực dân Pháp với phu Mỏ bấy giờ. Phu mỏ cùng cảnh ngộ, dễ bị kích động, họ đã kéo xuống Vũng Đục đông lắm, mò hết những gì có thể… họ đem cả về bốt Cẩm, không khí căng như dây đàn, đa phần xác chết bị biến dạng nhưng họ vẫn còn nhận ra một số người từng quen biết bị bắt chưa được thả về.
Đám mật thám chối quanh, chúng phủ nhận toàn bộ cáo buộc của dân phu. Chúng huy động lực lượng mật thám, chỉ điểm đông nhất có thể. Chúng tuyên bố, những người chúng bắt đã được thả ra còn vì sao họ chết là chuyện của người xứ A Nam! Chúng còn hùng hồn “sẽ tăng cường lực lượng mật thám, không để những sự việc tương tự và yêu cầu giải tán, không được gây rối trị an và đưa các thi thể người chết về mai táng”. Chuyện ầm ĩ cũng lắng xuống. Người ta không thể thống kê được con số cụ thể bị thủ tiêu trong thời gian này là bao nhiêu. Nhưng sự tàn nhẫn đã vượt giới hạn.
Những cuộc đàn áp, bắt bớ vẫn tiếp diễn. Chúng vẫn tra tấn man rợ rồi bí mật thủ tiêu người bằng cách nhét vào bao gai buộc chặt rồi quăng xuống ven suối, nơi có thủy triều lên xuống. Xác người không bị thú rừng ăn thì cũng theo thủy triều về với biển. Đất rộng, người thưa, lau le rừng rú um tùm, những hành động của chúng bị phát giác thì cũng đã không biết bao nhiều người bỏ mạng. Mẹ nuôi củaThầu cũng bị bắt vào đầu năm 1949, chúng nói bà là ủy viên Công hội Đỏ gì đó. Chúng bắt bà giam trong bót Cẩm cùng hàng loạt những người khác mà chúng cho là thành phần nguy hiểm, đe dọa đối với chính quyền… Thầu còn một mình, phải làm lụng nuôi mình và để có thể mua được những thứ cần thiết khi có dịp được vào thăm mẹ nuôi.
– Thầu, mày không biết gì sao?
Cậu bé đen nhẻm, gầy gò đang cố cái sức còm đun xe goòng than về bãi. Cậu dừng lại phóng tầm mắt về phía có tiếng người:
– Chuyện gì chú ơi?
– Vừa nẫy bên tầng Y có tin bọn Tây sáng nay đem thủ tiêu người ở Vũng Đục, trong đó có mẹ mày.
Thầu tái mặt, bỏ chiếc xe goòng chỏng chơ giữa đường ray, cắm đầu lao xuống dốc. một cơn gió thổi ngược ào ào như ném từng đụn bụi đen xì vào mặt người, như muốn nhấn chìm tất cả vào lốc bụi. Thầu mặc kệ, cứ thế lao xuống. Không ngờ, lão sú-ba-giăng tên là Khờn hoắt chìa chân ra ngáng! Khờn có cặp mắt tam bạch thượng, lúc nào cũng liên láo, nom rõ nanh ác! Lão còn sở hữu cái cằm nhọn quá mức, khiến người ta quên cặp mắt tam bạch thượng của lão, thế là biệt danh Khờn “hoắt” gắn liền với lão. Tức lắm! Nhưng lão chẳng làm gì được vì người ta chỉ réo sau lưng lão, cây roi bằng song mây trên tay lão luôn vung lên như thể trút hận vào đám phu phen, dám đặt biệt danh cho lão!
Dân phu đồn rằng, lão đã hành ai thì người đó chỉ có chết! Lão là một sú-ba-giăng khét tiếng, là nỗi kinh hoàng của dân phu! Lão không chỉ nanh ác mà còn có tật mê gái, lão để mắt cô nào thì đó là đại họa, không cho thì bị lão cho ăn đòn! Vì tội này, lão bị trùm bao tải, táng vài trận, thừa sống thiếu chết. Những lão vẫn chứng nào tật ấy! Người ta đồn, của lão to như chiếc chày giã cua. Lại có chuyện rằng, lão cưỡng hiếp dân phu, chứ vợ lão bị thằng mật thám người Tây nhá lâu rồi! Lão biết mà vẫn ngậm miệng…
Cú ngáng chân của lão, tưởng là đòn trời giáng, không giập mặt thì cũng bò không nổi. Ai ngờ, Thầu vốn tinh mặt, lại nhanh nhẹn, cậu nhẩy quớ lên thoát được đón hiểm. Nhưng cái quằng tay túm lại của lão lại giúp Thầu tránh được cú ngã lăn lốc theo sườn dốc, tay kia lão vung lên, vút chiếc roi bằng song mây xuống người Thầu. Chợt lão hét toáng, buông vội Thầu ra. Lão quyết không tha, đưa chân khuèo cho Thầu ngã sấp mặt xuống, không ngờ lão lại ăn một hòn đá vào đúng mắt cá chân, lão la như bò rống. Khi lão tĩnh trí, Thầu đã mất hút sau lùm le lưng dốc. lão gượng đứng dậy, chân cà nhắc nhưng vẫn vung song mây vút “veo véo” vào không khí, chửi thề:
– Mẹ kiếp! Rồi mày biết tay ông!
Chuyện Tây thủ tiêu người ở Vũng Đục, lão Khờn nhọn bị Thầu cắn một nhát vào tay rồi dùng đá đập vào mắt cá chân nhanh chóng láo loạn cả tầng mỏ, người này bảo người kia, tầng này sang tầng nọ. Dân phu bắt đầu hè nhau bỏ hết việc đang làm, người cuốc, người thuổng, người lăm lăm sà beng… tất cả như sẵn sàng nhẩy vào cuộc sinh tử máu chẩy, đầu rơi. Tầng mỏ phút chốc thành hỗn loạn. Khờn nhọn kinh hãi, lão nói như để động viên đám đệ tử:
– Quan trên khắc có biện pháp. Mình đợi thôi!
***
Chuyện Tây thủ tiêu người rồi chuyện của cậu bé Thầu thành hiệu ứng dây chuyền, dân phu rùng rùng chuyển động, mắt đổ dồn về Khờn nhọn, khiến lão và đám đệ tử đành co lại, dòng người như thác cuốn xuống triền dốc, họ đằng đằng sát khí. Gió biển ào ào thổi ngược từng hồi, như những lớp kình phong của vũ trụ hòng lấn lướt ý chí xoay chuyển càn khôn của kiếp người.
Chuyện tưởng như không gì cản được. nhưng đoàn người bỗng chững lại, dường như họ nhận được thông tin nào đó. Có điều Thầu mất hút luôn từ đó. Người ta đồn là Thầu bị bắt, bị thủ tiêu hoặc là bỏ đi nơi nào? Thầu là trẻ mồ côi. Mẹ nuôi bị bắt không biết giờ ra sao? Chuyện dăm bữa cũng lắng xuống. Tin Tây thủ tiêu người dưới Vũng Đục là giả, chúng cốt tìm ra những ai đang hoạt động ngầm trong đội ngũ phu phen để làm mọt mẻ tóm sạch…

Cuối tháng 4 năm 1955, người ta thấy Thầu trở về ngôi nhà xưa với cái nghề thợ xây. Thầu ra dáng một chàng trai bẻ gây sừng bò, mặt vuông chữ điền còn biết đọc, biết viết chữ… Sau khi ghè đá vào chân Khờn nhọn, Thầu đã phóng xuống dốc như điên nhưng chợt trong lùm cây bên đường có tiếng người gọi giật giọng. Thầu ngó vào thì đó là người đàn ông chừng ngoài ba mười tuổi. Thầu bật thành tiếng:
– Chú Thìn!
người đó ra hiệu cho Thầu im lặng, Thầu biết chú Thìn, do một lần chú đến nhà gặp mẹ mấy tháng trước khi bà bị bắt. Ở đây, Thầu được biết chúng di chuyển tù nhân bằng đường thủy, lại ngầm đưa tin, đem thủ tiêu người ở Vũng Đục, lấy cớ là phu mỏ tổ chức bạo động cướp tù để đàn áp phong trào đấu tranh của phu mỏ. Mục đích chính là tóm những thành phần hoạt động ngầm trong dân phu. Hôm đó, cũng là ngày bi thương với Thầu. Chú Thìn đưa cậu đi theo đường tắt sang Hoành Bồ, chưa ra khỏi ranh giới Cẩm Phả gặp phải ổ mai phục. Chú Thìn chỉ kịp ẩy Thầu xuống một sườn dốc, chú lăn sang một phía sườn dốc trong tiếng quát tháo và cả tiếng súng “đì… đùm”. Thầu túm một gốc cây, gián người xuống đất, trườn lên quan sát. Cuộc đấu súng xảy ra, một tên có lẽ bị trúng đạn, nó rống lên như bò.
Màn đấu súng kết thúc ngắn gọn, chú Thìn loạng choạng rồi đổ xuống vạt rừng. Cả đám trang phục mầu xanh lá cây, đầu đội kê-pi trắng xúm lại, chúng lật sấp, lật ngửa chú Thìn, chúng xì xồ nửa tiếng Ta, nửa tiếng Tây, đại loại là: “Nó chết rồi”! Một tên đầu đội kê-pi đen, có chiếc mũi khoằm như mỏ chim ưng, cái tai như mộc nhĩ treo trên má, tai với mắt hắn thoạt nhìn như dính sát vào nhau. Hắn còn có cái xương hàm bạnh quá cỡ, thồ lố chạy dài như tận tới gáy. Mắt hắn đảo như bi… thấy có vẻ an toàn, hắn mới quay lại ra lệnh bằng tiếng Việt:
– Phải đem xác nó về bót!
– Nhưng đường rừng khó đi lắm, nó chết rồi sếp ạ!
– Mày ăn gì mà ngu thế! Đi người không về bẩm được à?
– Dạ… hay chặt cái đầu của nó đem về!
– Không bàn nữa. Hai thằng kéo nó! Những đứa còn lại xem xét kĩ trước sau, kẻo bị úp là khốn đấy!
– Còn thằng kia sếp ơi! Một tên đội kê-pi trắng lên tiếng, trỏ tên bị thương vào đùi đang nhăn nhó.
Tên đội kê-pi đen ngó tên lính bị bắn vào đùi, đã tự băng bó được vết thương, thủng thẳng:
– Đồ vô tích sự, may nó chỉ có một viên đạn mà bắn cũng thuộc loại xoàng chứ không thì chầu ông vải rồi! – dừng một lát, tên này ra lệnh – một thằng cõng nó đi!
Đám đội kê-pi trắng, thằng này dừa thằng nọ. cuối cùng, chúng cũng phải làm theo lệnh của tên đội kê-pi đen. Cả bọn, tất cả hơn mười tên kéo nhau đi, súng lăm lăm trong tay, lặng lẽ đứa trước, đứa sau, mắt lâng láo, tên đội kê-pi đen lăm lăm khẩu súng ngắn trên tay, mắt đảo liên hồi, chúng kéo nhau đi ngay trên sống lưng con dốc, ngay trên đầu, chỉ cách chỗ Thầu ẩn năm, sáu sải tay! Sau bốn tên đi đầu là hai thằng lấy dây rừng cột túm hai tay chú Thìn lại kéo đi, tiếp đến là hai tên dìu thằng bị thương, sau là tên đội kê-pi đen. Cuối cùng là bốn tên đoạn hậu. Đầu chú
Thìn lúc ật phía này, lúc ặt phía nọ! Thầu căm quá, vớ được hòn cuội cỡ nắm tay, đợi tên đội kê- pi đen ngang qua, Thầu vùng dậy tương thẳng vào mặt tên đội kê-pi đen… một bàn tay vô hình túm lấy vai Thầu lôi giật cậu xuống và cùng từa theo chiều dốc trong tiếng thét lẫn tiếng súng chát chúa…
***
Thầu thường có mặt ở Vũng Đục vào những ngày cuối, trước khi chính quyền cụ Hồ tiếp quản vùng Mỏ tháng 4 năm 1955. Thầu chứng kiến cảnh những tên thực dân bóc lột cuối cùng phải cuốn xéo xuống tầu rời khỏi vùng đất chúng cho chúng là ông chủ… cậu thấy lại Khờn nhọn ở Vũng Đục vào một buổi chiều, lão đi tập tễnh và leo được lên chiếc tầu đã chật ních người do chính quyền Pháp tổ chức đón người của chúng và dân di tản theo. Một tên Tây mũi khoằm giống mỏ chim ứng… “Ồ, đúng tên đội mũ kê-pi đen hồi trước…”.
Rõ ràng, cái mũi khoằm với cái tai như mộc nhĩ treo trên má nom như dính với mắt, cả cái hàm bạnh nổi gờ tận gáy làm sao lẫn được, có điều trên cái mặt bạch tạng của hắn, một bên má gần thái dương có cái sẹo to sần lên, khiến gương mặt hắn như biến dạng, tạo thêm vẻ nanh ác đồng hành cùng cái mũi mỏ chim ưng. Tầu nổi tín hiệu nhổ neo, tên mũi khoằm dùng cùi trỏ huých một cái, cùng động tác đệm mông rất điệu, hắn đã xô nhào Khờn nhọn xuống biển. một đứa trẻ chừng mười tuổi choài ra, hét lớn:
– Mẹ ơi, bố!
Một thiếu phụ có nước da trắng hồng xuất hiện, vẻ lãnh đạm, ôm thằng bé vào lòng, nhìn xuống lòng biển nơi Khờn nhọn đang chới với, nói với tên mũi khoằm gì đó. Tên mũi khoằm ghé vào tai thiếu phụ thầm thì. Thằng bé bật khỏi vòng tay mẹ, nó lao xuống nước, nơi Khờn nhọn đang chới với. Nước đang nổi, tầu đã tăng tốc. Ai đó lẳng xuống chiếc phao cứu sinh. Khờn nhọn vớ lấy, lão ôm con bơi ra xa thân tầu. Thiếu phụ bàng hoàng! Thị quay lại tát “bẹt” một cái vào mặt tên mũi khoằm rồi nhảy theo xuống biển.
Tầu Tây đi rồi, Thầu cũng nhào xuống biển, quyết tính sổ một phen với Khờn nhọn. Linh tính có chuyện chẳng lành, Khờn nhọn cùng vợ và con lái chiếc phao rạt vào hòn đảo đá gần đấy. khi Thầu bơi được một đoạn, một chiếc thuyền chài đi qua, họ cho cả nhà Khờn nhọn lên thuyền rồi dong buồm thẳng hướng Cẩm Phả huyện… hai ngày sau, dân đi soi tôm he ở Cẩm Phả phát hiện một xác chết trôi giạt vào bờ cát, người ta kiểm tra trong túi áo nạn nhân một mẩu giấy viết bằng Pháp ngữ “Le meurtrier doit être puni”**. Dân đổ xô đi xem xác chết. Không khó khăn gì để người ta nhận ra tên mật thám có cái mũi khoằm, cái hàm bạnh và cái tai như mộc nhĩ dính như liên với mắt này là ai…
Một người đàn ông đi rừng, chẳng biết xuất hiện ở cạch Thầu từ lúc nào, đã nhanh tay kéo cậu, cùng từa theo chiều dốc, nhờ rừng rú um tùm nên đám mật thám mặt như quỷ dữ, hung khí đầy mình đành bỏ cuộc. Thầu ở lại nhà với người đi rừng đã cứu cậu bởi hành động bốc đồng hôm ấy. Ở đây, Thầu gặp cậu bé tên Thìu, con trai của người đã cứu mình. Thìu là một cậu bé chưa đầy tám tuổi, có chiếc bớt tròn nằm ngay dưới dái tai trái. Nhà ẩn trên sườn núi, phía dưới là đồi núi trập trùng chạy tới tận biển xanh.
Ở đây không khí thoáng và mát. “Cháu không thể về nhà được đâu” người đi rừng bảo thế. Cậu bé Thìu chỉ còn cha, mẹ đã mất. Người đi rừng kể, vợ chồng ông dắt dìu nhau từ vùng Kinh Bắc đến đây. Lúc đầu cũng làm phu mỏ, Năm sinh Thìu, bà bị dong huyết, người yếu như cây sậy, bà qua đời hai năm sau. Mình ông gà trống nuôi con, ít lâu sau ông bỏ nghề phu mỏ, tìm cách kiếm cơm áo trên rừng. Ngoài cuốc nương làm rẫy, ông vào rừng tìm nguồn thu nhập khác. Hôm đó, ông đi đặt bẫy bắt gà rừng, lại theo dấu một con hoẵng nên nghe tiếng súng đì… đùm phía sườn dốc bên kia. Ông chưa biết lành dữ thế nào thì phát hiện ra Thầu đang ở rất gần đám mật thám, ông rén chân lại gần cũng là lúc Thầu nổi máu anh hùng…
Ông đưa Thầu về nhà, biết hoàn cảnh của cậu, ông muốn cậu ở lại bầu bạn với con trai. Nhưng Thầu nói: “Phải đi tìm mẹ nuôi”! Ông biết ý của Thầu, nhân xuống chợ, ông tìm cho cậu một việc làm phu hồ ở một gánh thợ xây. Làm nhau than từ lúc mười tuổi nên việc. phu hồ cũng chẳng nghĩa gì, Thầu rất được lòng mọi người trong gánh thợ xây, nay đây mai đó khắp khu Mỏ.
Những ngày gần giải phóng, Thầu đã thành một thợ xây vững vàng, có điều kiện len lỏi trong những khu nhà ở do người Tây xây dựng dành cho quan chức, cho cai, kí, sú-ba-giăng phục vụ cho chính quyền cai trị, bóc lột, vơ vét tài nguyên của chúng, cả trong nhà thờ xứ Đạo Cẩm Phả. Thầu lang thang cùng cánh thợ xây, cố gắng nghe ngóng tin tức của mẹ nuôi… đến tận ngày chính quyền cánh mạng về làm chủ khu Mỏ, mẹ nuôi vẫn bặt vô âm tín. Thầu trở về ngôi nhà xưa và đến trụ sở chính quyền để khai báo thông tin của mình, người tiếp nhận là một người đàn ông chừng gần bốn mươi tuổi, dáng cao nhưng gầy, đôi mắt to sáng có quầng thầm, có lẽ do thiếu ngủ! Ông giở quyển sổ và chấm ngòi bút vào lọ mực trên bàn, chỉ chiếc ghế đối diện bên chiếc bàn cũ kĩ, bảo Thầu ngồi rồi hỏi:
– Cháu ở đâu? Họ tên là gì?
– Dạ bẩm… cháu tên Thầu! Ở Lán phu mỏ ạ!
– Ồ sao lại bẩm, bây giờ chính quyền là của cách mạng, của nhân dân rồi. Hiện, cháu đang làm chủ cuộc đời mình nên không phải thưa bẩm nữa đâu. – Người tiếp nhận giải thích một hồi rồi tiếp – cháu họ là gì?
– Dạ… bẩm… cháu không biết ạ…- Thầu lúng túng – cháu xin lỗi ạ!
– Ồ! Sao thế được! – người tiếp nhận ái ngại nhìn bộ dạng của Thầu, khiến anh càng lúng túng. – Dạ thưa… cháu không biết thật ạ!
– Vậy nghĩa là sao? Chẳng lẽ cháu không có họ?
– Dạ thưa… cháu là trẻ mồ côi, sống với mẹ nuôi từ lúc mới đẻ. Rồi bà cũng bị bắt năm cháu mới mười ba tuổi, bây giờ cháu vẫn không có tin gì ạ!
– Ồ vậy sao? – Người tiếp nhận gãi gãi đầu rồi tiếp – Trước kia và bây giờ cháu làm gi?
– Dạ… trước cháu làm nhau than cho Tây, sau thì làm phu hồ, bây giờ cháu biết xây ạ!
– Vậy hả? – người tiếp nhận có vẻ vui mừng, tiếp – thế cháu có nhớ họ tên của mẹ nuôi không?
– Dạ họ thì không biết! Cháu chỉ biết mọi người gọi bà là cô Hợi nhỏ thôi ạ!
– Cháu biết chữ không? – người tiếp nhận thân thiện.
– Dạ… cháu thuộc hết mặt chữ cái và viết được ít chữ thôi ạ!
– Vậy hả?… – người tiếp nhận ngẫm nghĩ một hồi, nói tiếp – cháu về nhà nghỉ, mai đến đây, giờ để chú báo cáo với các đồng chí lãnh đạo đã nhé!
Thầu được nhận vào làm công nhân ở Cẩm Phả mỏ với họ, tên là Trần Quang Thầu. Mẹ nuôi của Thầu họ Trần, tên tục của bà là gì không rõ chỉ biết tài liệu của mật thám sở Cẩm để lại, tên là Hợi nhỏ, gọi chệch của tổ chức “Công hội đỏ”. Bà bị bắt giam giữ vào giữa năm 1949. Bị thủ tiêu hay mất tích cũng như quê quán không có ghi chép trong tài liệu nào. Thầu được bố trí làm ở phòng Kiến thiết cơ bản vì có tay nghề thợ xây. Lãnh đạo phòng yêu cầu Thầu phải theo lớp học văn hóa buổi tối.
Ban ngày đi làm, tối cuốc bộ gần sáu cây số đến lớp học văn hóa… nhưng Thầu vui lắm! Nhất là, khi gặp lại Thìu ở đây. Biết chuyện bố Thìu đã bi Tây sát hại, giờ em là kẻ lang thang, không chốn nương thân. Thầu đưa Thìu về nhà ở cùng! Từ chuyện học văn hóa, Thầu gặp một người con gái kém ông hai tuổi tên là Lựu, đó là cô gái xinh xắn, dễ gần. Quê gốc Hải Dương, cha mẹ mất cả, bà chạy loạn, trôi giạt ra Mỏ vào những năm cuối của cuộc chiến tranh Pháp – Việt. Hai cuộc đời, hai thân phận, họ đến với nhau bằng sự cảm thông và chia sẻ.
Năm 1956, đứa con đầu lòng của họ chào đời vào một đêm tối thui. Cả lán phu mỏ tập chung đèn dầu lại cho bà đỡ có điều kiện giúp sản phụ vượt cạn. Trong kí ức, đấy là một đêm hạnh phúc nhất của Thầu. Chú em nhận cứ luống cuống hết chạy chỗ này, lại vòng chỗ khác… khi trong nhà có tiếng trẻ “oe… oe…“. Tiếng bà đỡ và mấy bà bên trong cùng reo: “Con trai”! Thìu chạy vội đến bên anh, giọng hào hển:
– Đặt tên nó là gì hở anh?
– Dầu! Tên nó là Trần Quang Dầu! – Thầu sung sướng nói với chú em nhận và mọi người.
Năm 1960, con gái chào đời. Thầu nhớ kỉ niệm không thể quên với bất kì ai có mặt ngày đó, ngày Bác Hồ về đi bộ trên tầng mỏ nơi anh đang làm. Thầu và lực lượng Đoàn thanh niên cứu quốc đã đăng kí đảm nhiệm phong trào thi đua phá kỉ lục năm ấy. Một phong trào của người vùng than đã tạo thành dấu ấn thời đại. Lựu thành kiện tướng của phong trào này. Phong trào còn có mặt cả chú em Thìu. Thầu đã quyết định đặt tên con gái là Trần Thi Đua. Lựu phản đối:
– Con gái, người ta phải đệm là thị!
Thầu bảo:
– Trần Thị Thi Đua thì cổ quá. Tôi muốn con gái mình phải mạnh mẽ như mình trong phong trào thi đua phá kỉ lục ấy! Nghe ông nhắc đến điều này, Lựu cười tít cả mắt. Lại được chú em Thìu câu ra, câu vào. Vậy là Lựu chấp thuận cái tên do ông đặt cho đứa con gái yêu của mình. Đặt tên con hôm trước, hôm sau Thầu được lệnh lên gặp Thư kí Công đoàn xí nghiệp. Thầu đần cả người, nửa mừng nửa lo khi nghe trưởng phòng nhật lệnh thế! Chuyện gì? Hỏi lại, trưởng phòng chỉ bảo: “Cứ sang khắc rõ”! Vui hay buồn mà đích danh thư kí Công đoàn mời gặp, hẳn không phải việc chơi! Thầu gõ cửa phòng Thư kí Công đoàn mà tim đập, chân run! Trong phòng có tiếng vọng ra:
– Xin mời vào!
Thầu lấy hết sức bình sinh, mở cửa ngập ngừng bước vào, miệng lắp bắp
– Dạ…báo cáo bác Thư kí… cháu là Thầu ạ!
Thứ kí Công đoàn đứng dậy tươi cười, đi ra phía Thầu! Đó là một người chừng ngoài bốn mươi tuổi, có khôn mặt vuông vức, phúc hậu họ tên đây đủ là Ngô Đức Thế. Sau cái bắt tay thân thiện, ông Thế chỉ cho Thầu chiếc ghế đẩu đặt bên kia chiếc bàn cũ kĩ nằm dọc ở phía ngoài, tạo thành chữ T với chiếc bàn làm việc của ông cũng chẳng mới gì hơn. Hai bên chiếc bàn này, có bốn chiếc ghế đẩu, tất cả đều cũ như hai chiếc bàn… ông Thế với chiếc bình tích hãm chè xanh, rót ra hai chiếc cốc bằng sành có tráng men, ông thân mật đặt một cốc nước trước mặt Thầu rồi nhẹ nhàng ngồi xuống chiếc ghế đối diện, giọng trầm ấm:
– Đồng chí uống nước đi! Xí nghiệp mới thành lập còn khó khăn quá! Cô ấy và cháu bé có khỏe không? Công việc của anh em ổn cả chứ?
– Dạ… Cảm ơn bác Thư kí ạ, nhà cháu với cháu ổn cả! Còn công việc của anh em trong cơ quan vẫn tốt ạ, có điều vật tư khan hiếm quá bác ạ!
– Cái đó lãnh đạo xí nghiệp cũng có kế hoạch tháo gỡ từng bước, sẽ ổn cả thôi.
Dạ… vâng ạ!
Sau vài câu thăm hỏi về gia đình và công việc, ông Thế vào vấn đề: Ngành Than được mời tham gia thi công rạp chiếu bóng Công nhân ở thị xã nhà. Trên yêu cầu mỗi xí nghiệp cử hai người có tay nghề xây dựng vững vàng tham gia. Các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy và Ban giám đốc có ý điều động đồng chí và một đồng chí nữa tham gia. Tôi nói, vợ đồng chí mới sinh con liệu có làm khó gia đình đồng chí không? Các đồng chí ấy yêu cầu, Công đoàn xem xét cụ thể hoàn cảnh của đoàn viên! Tôi muốn trao đổi với đồng chí trên tình thần thẳng thắn của giai cấp vô sản… nếu đi làm việc xa, phương tiện đi lại không có, con còn nhỏ, vợ đang ở cữ, liệu có ảnh hưởng nhiều đến đời sống gia đình đồng chí không?
Thầu trầm ngâm, suy nghĩ lung lắm. Lát sau, ông ngẩng đầu, trả lời dứt khoát:
– Cháu chấp hành lệnh sản xuất, thưa bác thư kí Công đoàn!
– Đồng chí nên suy nghĩ thật kĩ. Các đồng chí được cử vào đấy xem như đại diện cho tập thể công nhân cán bộ của xí nghiệp ta và cũng là vai trò của ngành Than đối với vùng đất này. Trách nhiệm không nhỏ đâu! Vì thế, tôi mới đề nghị đồng chí suy nghĩ kĩ trước khi quyết định nhận nhiệm vụ vì thời gian không phải ngắn!
– Dạ… cháu hiểu ạ!
***
Công trình xây dựng rạp công nhân ở thị xã Cẩm Phả được khánh thành trong niềm kiêu hãnh của thợ mỏ ngành than và nhân dân vùng Mỏ. Hôm cắt băng khánh thành có lãnh đạo khu Hồng Quảng, lãnh đạo ngành Than, Thị xã Cẩm Phả và đại diện lãnh đạo các xí nghiệp có người tham gia thi công. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã, trong báo cáo tổng kết đã đề cập, sao lại đặt tên rạp Công nhân Cẩm Phả? Giản đơn là thị xã chúng ta được xây dựng trên nền tảng giai cấp công nhân Mỏ, gắn liền với tài nguyên thiên nhiên của đất nước.
Công nhân Mỏ Cẩm Phả là đội ngũ khởi nguồn cho truyền thống Anh hùng cách mạng – Bất khuất – Kỉ luật và Đồng tâm! Đã làm nên một ban mai huy hoàng 12 tháng 11, thành lịch sử Anh hùng cách mạng của giai cấp cần lao! Là lực lượng tiền phong của Đảng, của nhà nước và nhân dân ta! Đặt tên Rạp Công nhân Cẩm Phả là để tôn vinh đội ngũ công nhân mỏ bất khuất và anh hùng trong đấu tranh giai cấp, giải phóng dân tộc! Là để đồng tâm lao động xây dựng quê hương – đất nước dân chủ và giầu mạnh. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân đã nhận mạnh: “Tôi mong, chúng ta sẽ giữ vững kỉ luật và đồng tâm trong lao động, sáng tạo, xây dựng văn hóa vùng Mỏ, bảo vệ thành quả cách mạng để xứng đáng với thế hệ những người thợ Mỏ ưu tú đã ngã xuống vì cuộc sống ngày hôm nay…”
Báo cáo tổng kết, có sự đánh giá rất cao về đội ngũ công nhân ở các xí nghiệp được cử đến tham gia thi công. Thầu được đánh giá cao về năng lực sáng tạo trong lĩnh vực vận chuyền vật liệu xây dựng từ mặt đất lên giàn giáo, giảm được nhân công, tiết kiệm sức lao động… và nằm trong danh sách được thị xã trao giấy khen, kèm tặng phẩm là chiếc bút máy trường sơn. Vùng Mỏ thay đổi mỗi ngày. Mỏ khai thác than lộ thiên của Thầu được thành lập và đã bước vào sản xuất năm thứ tư.
Cơ giới từng bước thay thế sức người. Tầng Than một thời nổi tiếng phong trào thi đua phá kỉ lục, nay là công trường khai thác chính của mỏ. Người ta bắt đầu khai thác xuống âm, đất được bóc đi, than được lấy lên. Sản lượng ngày một cao, lòng mỏ bắt đầu to và sâu, giống như một cái chảo khổng lồ. Danh từ “Moong” xuất phát bằng tiếng Pháp bắt đầu quen thuộc với người thợ mỏ. Tấn than cuối cùng trong năm đã được xúc lên từ đáy mỏ, được chuyển giao cho xí nghiệp cảng bằng tầu hỏa kéo. Trong cuộc họp cận tết nguyên đán, Giám đốc mỏ sau khi biểu dương thành tích đạt được của năm trước và hai mười ngày đầu tháng của năm mới, đã nói:
– Kế hoạch năm mới, trên giao cao hơn nhiều với năm trước. Năng lực và sức người chúng ta hạn chế, Phòng kĩ thuật khai thác xem phương án xuống sâu năm nay, triển khai cả trong mùa mưa có khả thi không?
– Thưa đồng chí giám đốc – Trưởng phòng Kĩ thuật khai thác băn khoăn – nước chảy chỗ trũng, muốn thoát nước, hệ thống thoát nước phải nằm trên cao mà chúng ta đã khai thác xuống dưới mực nước biển. Mùa mưa bão, không thể triệt tiêu được nước xối xuống. Máy móc và
người làm việc ở dưới đáy mỏ rất nguy hiểm. Vấn đề an toàn cho người và thiết bị lấy gì bảo đảm!
– Như vậy mới yêu cầu các đồng chí nghiên cứu!
– Thưa…
– Không có thưa gửi gì hết, bằng mọi cách phải làm bằng được! Đồng chí không thấy phong trào thi đua phá kỉ lục trước đây sao? Quân và dân Miền Nam đã đại thắng ở chiến dịch Ấp Bắc kia. chúng ta cần phải hành động để thi đua với chiến thắng Ấp Bắc! Quyết tâm hạ mong thành công, lấy thật nhiều than cho Tổ quốc và phải hoàn thành vượt mức kế hoạch ngay từ tháng đầu, quý đầu để chi viện cho miền Nam ruột thịt! Đồng chí Thầu phụ trách mảng xây dựng có sáng kiến gì không?
– Da… thưa… tôi cũng có suy nghĩ vấn đề này – Thầu ngập ngừng một chút rồi nói tiếp – chưa khái niệm được cụ thể nhưng chắc rằng tổn kém ạ!
– Đồng chí cứ nói xem!
– Dạ… có thể xây đê chắn nước xuống moong ạ!
– Tiếng cười “Ồ” nổi nên trong phòng khiến Thầu đỏ bừng cả mặt! Giám đốc lại rất trân trọng, trầm ngâm một lúc, ông nói:
– Phòng kiến thiết cơ bản xem xét phương án xây đê chắn nước, đo đạc cụ thể, tính toán xem khối lượng xây dựng bao nhiêu thì chắn được nước, an toàn cho sản xuất! Chi phí giá thành và nhân lực thế nào? Sau tết báo cáo chi tiết trước thường vụ! Một xí nghiệp miền Trung có ý hỗ trợ chúng ta một chiếc máy bơm đủ công suất để giải quyết vấn đề nước ở đáy mỏ trong mùa mưa.
Cuộc họp mở rộng do ban giảm đốc trù trì diễn ra ngay đầu giêng, có nhiều vấn đề nhưng trọng tâm vẫn là xem xét xây đê ngăn nước có khả thi không? Chiều dài, chiều cao, độ dầy cần thiết để an toàn của con đê, khối lượng cần xây dựng và nhân công phải đầu tư được chi tiết!
Vấn đề ai là người thực hiện được đặt ra? Cả xí nghiệp chỉ có hai người phụ trách kiến thiết cơ bản có tay nghề xây dựng. Còn vật liệu nữa chứ, đá xây trên mỏ thì không thiếu, cát có thể huy động xúc từ khe suối hoặc dùng cát mặn ngoài bãi biển. Nhưng vôi rõ ràng phải đặt hàng với xí nghiệp khai thác đá vôi, than thì khỏi bàn, tự tổ chức đốt lò nung vôi được! Cơ bản là nhân lực xây dựng! Mắt xích cuối cùng đã được giải quyết là Đoàn thanh niên đảm nhiệm công trình với phương trâm “Thanh niên ba sẵn sàng”. Thường vụ Đoàn thanh niên tổ chức họp ngoài giờ vào ngay tối hôm ấy. Thìu được triệu tập vì là lực lượng lòng cốt của kế hoạch xây dựng đê chắn nước. Phương án được thông qua, Bí thư Thanh niên làm tổng chỉ huy, Thầu làm chỉ huy phó trực tiếp chỉ đạo, giám sát thi công. Chủ tịch công Đoàn Ngô Đức Thế cũng phát động tổ chức
Công đoàn hỗ trợ tối đa những gì có thể làm đối với công trình. Thoả ước thi đua được kí với nội dung công trình sẽ được hoàn thành, bàn giao trước ngày Cốc vũ. Khí thế thi đua của tuổi trẻ được đấy lên thành cao trào với khẩu hiệu “Thi đua Ấp Bắc – Hạ Moong Đất Đỏ”! chiến dịch hạ mong mang tên “Đất Đỏ” là quê hương của nữ anh hùng Võ Thị Sáu đã thành cao trào! Thầu như dao pha giữa trận tiền, khi hướng dẫn cánh thanh niên, Đoàn viên cách xây dựng, kê đá và vôi vữa như thế nào cho phù hợp, cho kết dính tốt, không lãng phí, lúc ở khu vực khai thác đá xây dựng, khi về nơi nung vôi. Thìu được phân công trực tiếp xây và quản lí thi công đê chắn nước. Công việc khó nhọc! Chiến dịch tăng ca, làm thêm giờ được phát động. Lao động xã hội chủ nghĩa được Công đoàn liên kết phát động.
Cuối cùng đích đã về trước ngày cốc vũ. Những trận mưa đầu mùa bắt đầu xối xuống. Nước mưa bị đê ngăn nước cản lại, theo lối thoát ra khỏi khai trường, phần còn lại bị bơm nước hút sạch. Năm ấy xí nghiệp được mùa than, mới qua tháng bẩy, đã hoàn thành tám mười phần trăm sản lượng cả năm. Chỉ đến khi mưa bão quá lớn mới phải tạm dừng khai thác dưới đáy mỏ. Năm ấy là năm xí nghệp của Thầu chuẩn bị tiếp nhận loạt thiết bị do nước bạn đầu tư như máy xúc EKG, Máy khoan BY… hàng loạt thanh niên đã được bố trí theo học các lớp khoan, xúc, gạt và sửa chữa các loại máy mỏ cũng như gia công cơ khí cần thiết. Thìu được theo học nghề vận hành máy xúc. Thầu được xí nghiệp bố chí đi học tại chức trung cấp khai thác mỏ.
TRẦN ĐÌNH NHÂN
——————————————–
*Truyện được hư câu trên cơ sở chuyện có thật ở vùng Mỏ
**Kẻ sát nhân phải bị trừng phạt















