Pờ Sảo Mìn, một cá tính thơ độc đáo, hồn nhiên

Vanvn- Pờ Sảo Mìn là nhà thơ duy nhất của dân tộc Pa Dí, sinh ngày 1.5.1944 tại xã Tung Chung Phố, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Ngoài bút danh Pờ Sảo Mìn, ông còn có các bút danh khác như: Bạch Minh, Thiếu Minh, Pao Li.

Các tác phẩm tiêu biểu: Hoa trên núi đá (in chung); Cây hai ngàn lá; Bài ca hoang dã; Mắt lửa; Con trai người Pa Dí; Bài ca đẹp nhất trần gian; Đáp từ trái tim; Đôi cánh chim rừng; Cung đàn biên giới; Tiếng hát Mường hoa; Mủa say say… Ông đã đạt nhiều giải thưởng văn học nghệ thuật cao quý:  Giải thưởng Phan Xi Păng; Giải thưởng của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam; Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam… Hiện ông vẫn sống và sáng tác tại Mường Khương

Thơ Pờ Sảo Mìn gồ ghề như tiếng nói của người miền núi, nhưng là một giọng điệu thơ độc đáo nhất trong những nhà thơ Việt Nam đương đại. Đọc thơ Pờ Sảo Mìn cái đọng lại trong tâm hồn người đọc là giọng điệu gân guốc, mạnh mẽ, nhưng cũng không kém phần tình tứ, say đắm. Nói về thơ Pờ Sảo Mìn chỉ một ý ngắn gọn, đó là một cá tính sáng tạo độc đáo mà vẫn hồn nhiên tình tứ.

Pờ Sảo Mìn là nhà thơ duy nhất của dân tộc Pa Dí

1. Cá tính sáng tạo độc đáo

Trong sáng tác văn học hiện nay, các nghệ sĩ rất có ý thức coi trọng cá tính sáng tạo của bản thân mình. Nhiều người hiểu cá tính sách tạo là sự thể hiện qua những hình thức độc đáo, không lặp lại. Do đó văn học đương đại có khá nhiểu trường phái coi trọng sự mới, lạ của ngôn từ, hoặc sự khác biệt về hình thức… Nhưng cá tính sách tạo của một nhà văn không phải là sự cố tình tạo nên sự khác biệt ấy. Mà đó là một cá tính sáng tạo độc lập thể hiện qua cách nhìn thế giới, biểu hiện thế giới, lý giải thế giới của riêng mình và bằng một hình thức độc đáo. Đó chính là thái độ thẩm mĩ đối với xã hội, được bộc lộ bằng ngôn ngữ và giọng điệu riêng không thể lẫn, nó tự nhiên dường như nằm trong “gien” của nhà văn ấy.

Nhà thơ có cá tính sáng tạo độc đáo là đạt đến sự thành công của nghệ thuật ngôn từ. Bản chất thơ ca là sự độc đáo, nhưng để có một giọng điệu riêng không phải là dễ có, bởi có những nhà thơ sáng tác cả ngàn trang giấy, cả một đời thơ mà vẫn không có nổi một giọng điệu, một phong cách riêng. Pờ Sảo Mìn là một nhà thơ có cá tính sáng tạo độc đáo được thể hiện ở những phương diện sau:

Thơ Pờ Sảo Mìn là diễn ngôn nghệ thuật. Với Pờ Sảo Mìn, thơ là một phương thức đặc biệt để nói về và cắt nghĩa về thế giới thông qua nghệ thuật ngôn từ. Ông đến với thơ ca dường như để giải tỏa những uẩn ức từ vô thức. Thơ ca là không gian ý nghĩa, nhưng nó cũng giúp ông thể hiện tình yêu của mình đối với cuộc sống, đối với con người và quê hương yêu dấu. Không mượt mà tình tứ, đậm chất dân ca như Lò Ngân Sủn, không trầm ngâm suy tư như Inrasara, Thơ Pờ Sảo Mìn giản dị, tự nhiên mà phóng túng. Làm thơ, với Pờ Sảo Mìn tự nhiên như chú gà rừng ăn sỏi đá uống nước sương:

Tôi chỉ là môt con gà rừng/ Trên triền núi đá hoang vu/ Tự uống sương mù và ăn sỏi đá/ Và tiếng gáy chẳng còn ai xa lạ/ Te… te … te –(Tiếng của rừng xanh)

Bài thơ Tiếng của Rừng xanh là một diễn ngôn sáng tác của Pờ Sảo Mìn. Ông coi mình là chú gà rừng trên những cánh rừng thăm thẳm của đại ngàn, không kiêu sa như chim công chim trĩ, không điệu đà, lảnh lót như chim khiếu hay họa mi. Tiếng gáy chú gà rừng ngắn gọn, khô, nhưng đó là tiếng hót của tự do, là tiếng nói tự nhiên của con người. Trên hết, thơ là tiếng nói giản dị mà chân thành xuất phát từ tình cảm tự nhiên nhất của con người:

Vâng. Đúng là cái giọng tôi đang gáy/ Vén màn đêm giục mặt trời thức dậy…/…Và tiếng gà đã lướt qua bao thế kỷ/ Đến bao giờ? Ta đi tới hạnh phúc và văn minh Tiếng rừng xanh giọng của kết tinh/ Bình minh lên kìa hoàng hôn đang xuống/ Tiếng rừng xanh lại gáy/ Te… te… te

Không ồn ào với những tuyên ngôn, về giá trị của thơ và sứ mệnh cao siêu của nhà thơ, tiếng chú gà rừng tự nhiên như suối nguồn chảy. Đó là thơ. Hơn nữa đó là sự kết tinh của cuộc sống, là tiếng nói của tự do. Bởi tự do là quyền tự nhiên nhất  của con người. Thơ giống chú gà rừng tự nhận trách nhiệm “vén màn đêm giục mặt trời thức dậy”, nhưng phải nói bằng đúng giọng riêng không thể lẫn “Đúng là cái giọng tôi đang gáy…”.

Thơ Pờ Sảo Mìn kiệm lời, thơ ông ít chữ nhưng lại nhiều tầng ý nghĩa. Cái vẻ đẹp của thơ ông chính là sự liên tưởng độc đáo bất ngờ:

“Đời người sợ nhất ba cái thủng:/ Thứ nhất sợ thủng quần/ Thứ hai sợ thủng nóc nhà trên cao/ Thứ ba sợ thủng đít chảo đang đun…” – (Sợ)

Pờ Sảo Mìn làm thơ bằng thứ ngôn từ bình dân giản dị, không quá cầu kỳ, và hình như ông không chú ý nhiều đến việc đẽo gọt ngôn từ. Nhưng chính những ngôn từ đời thường ấy đã làm nên một diện mạo thơ Pờ Sảo Mìn độc đáo không thể lẫn.

Thơ Pờ Sảo Mìn có chiều sâu suy tưởng. Ông không nói nhiều bằng những từ ngữ trừu tượng, nhưng có nhiều tứ thơ siêu thực độc đáo gợi lên nhiều chiều liên tưởng, bài thơ Mắt rừng xanh là một ví dụ tiêu biểu:

Ban ngày mắt có: Mặt trời/ Buổi đêm  mắt có: Những vì sao/ Và mặt đất có mắt của rừng…/ Mắt rừng xanh xoe tròn mở mãi/ Ồ! Mắt rừng xanh muôn năm

Tại sao mắt rừng xanh lại “xoe tròn mở mãi”? Tứ thơ thật khó giải thích bằng ngôn từ, mà người đọc chỉ có thể cảm nhận được bằng tâm hồn. Ý thơ siêu thực ấy khiến người đọc liên tưởng tới Đoàn Phú Tứ với hương thời gian, màu thời gian trong bài thơ “Màu thời gian” rất nổi tiếng:

Màu thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngát/ Hương thời gian không nồng/ Hương thời gian thanh thanh

Thơ Pờ Sảo Mìn đã đạt đến trình độ tượng trưng klhông kém gì so với những tài năng của các trường phái thơ siêu thực, thơ tượng trưng của thế giới.

Người làm thơ hay nói đến mình, nói tâm trạng cá nhân mình. Đó cũng là một sự độc đáo, nhưng Pờ Sảo Mìn nói đến bản ngã luôn nằm trong cái tổng thể của cộng đồng. Ông nhấn mạnh đến cái tôi rất riêng của bản thân mình và của dân tộc mình:

Con trai người Pa Dí/ Cha mẹ sinh ra trên đỉnh núi tai mèo/ Uống nước nguồn trong veo/ Mắt một mí, tóc đen, mũi tẹt, da vàng/ Dáng ngang tàng vẻ quẫy đạp trần gian/ Con trai người Pa Dí/ Đã đi là như chạy/ Như mưa bay, lửa cháy ầm ầm/ Đã uống không biết say/ Chỉ âm thầm quay cuồng trong bão gió/ Con trai người Pa Dí/ Đã đi là đến/ Đã đến là ở/ Đã ở là ở rất lâu/ Đã yêu là yêu nhiều yêu mãi/ Yêu cho đến tận cùng man dại… (Con trai người Pa Dí)

Những con người sinh ra trên cao nguyên cằn cỗi sỏi đá nhưng thấm đậm tình người “không hận thù, không ghét bỏ cùng ai/ Đến chín phương là chín phương bè bạn/ Tới mười phương là mười phương thương nhớ…/ Đã lên yên là không bao giờ ngã ngựa/… cứ thế phi bay”. Những diễn ngôn của một dân tộc bé nhỏ, khiêm cung nhưng kiên cường cùng đá núi được cất lên thành những lời ca. Những diễn ngôn đầy tự hào, là lời nhắc nhở độc đáo bằng nghệ thuật thi ca tóm gọn lịch sử một dân tộc gan góc. Một dân tộc sống trên đá, chết hóa thành đá, mỗi con người như một lá cây trên cái cây giữa rừng đại ngàn:

Dân Tôi chỉ có hai ngàn người

Như hai ngàn chiếc lá

(Cây hai ngàn lá)

Đó là lời tự bạch hay một diễn ngôn ngệ thuật về dân tộc mình. Bài thơ Cây hai ngàn lá là một đỉnh cao nghệ thuật của thơ ca Việt Nam đương đại. Bài thơ là diễn ngôn về vị thế dân tộc, về đời sống tinh thần của dân tộc Pa Dí, ít người nhưng không hề kém cỏi. Nhà thơ nhắc đến dân tộc mình với giọng điệu tự hào, nhưng hơn hết là một cái nhìn độc đáo về lịch sử.

Nếu Con trai người Pa Dí với những diễn ngôn giới thiệu về người Pa Dí “Uống nước nguồn trong veo/Mắt một mí, tóc đen, mũi tẹt, da vàng” có tinh thần hào sảng, tâm hồn mã thượng, thì ở Cây hai ngàn lá, nhà thơ nhìn đại dân tộc Việt Nam như một rừng cây, hay rộng hơn cả nhân loại là một rừng cây rộng lớn, trong đó dân tộc Pa Dí như một cây có hai ngàn chiếc lá giữa đại ngàn: “Dân tôi chỉ có hai ngàn người/Một cây dứng trong muôn vàn cây đứng/Muốn hiểu ta qua bao chịu đựng/Thì cây ơi ta sẽ hát đời mình”. Đó là dân tộc của những con người sinh ra trên rừng núi ngang tàng, gai góc, vượt qua mọi khắc nghiệt của thiên nhiên hoang dã, ngang tàng giữa đất trời mà vẫn duyên dáng tình tứ. Điểm nhìn của nhà thơ cũng rất độc đáo tạo nên một diễn ngôn thơ trác việt mà cực kỳ chặt chẽ trong cấu tứ. Hình ảnh thơ cụ thể nhưng độ khái quát rất cao:

Con trai trần trong mặt trời nắng cháy/ Ép đá xanh thành rượu uống hàng ngày/ Con gái đẹp trong buốt giá đông sang/ Tước vỏ cây thêu áo đẹp năm tháng

Từ những hình tượng cụ thể, nhà thơ đi đến những hình ảnh khái quát giàu sức tượng trưng. Ông lại không hề dùng từ ngữ trừu tượng để câu thơ mang ý nghĩa khái quát. Chỉ với những từ ngữ bình dị hàng ngày, Pờ Sảo Mìn đã xây dựng nên hình tượng dân tộc Pa Dí bằng những câu thơ lung linh siêu thực:

Dân Tôi chỉ có hai ngàn người/ Biết gọi gió, gọi mưa, gọi nắng/ Chặn suối, chặn sông, bắt nước chảy ngược dòng/ Ngô lúa cười reo tận sân trời ta đó/ Ta dang tay gặt mùa hạnh phúc ấm no/ Dưới bầu trời tự do yên hòa…

Bài thơ là một minh chứng sống động cho việc xây dựng hình tượng thơ tượng trưng đâu cần phải dùng đến những ngôn từ bí hiểm, hay cách đặt câu gieo vần như đánh đố người đọc. Pờ Sảo Mìn đã lay động đến tận nơi sâu thẳm nhất trái tim bao thế hệ với diễn ngôn tự hào: “Dân Tôi chỉ có hai ngàn người/Như cái cây có hai ngàn chiếc lá”. Việc lặp đi lặp lại thành điệp khúc những câu thơ ấy là một diễn ngôn về tình yêu tha thiết cháy bỏng của nhà thơ đối với con người. Bài thơ kết lại trong một diễn ngôn khác đậm chất tự hào yêu thương về người dân quê mình về dân tộc mình:

Hỡi trần gian/ Dân tôi chỉ có hai ngàn người Như cái cây có hai ngàn chiệc lá/ Cạnh rừng già là rừng non trẻ đấy/ Lá ơi

Thơ Pờ Sảo Mìn tự nhiên như tiếng lá rừng, như tiếng chim hót trên cao nguyên, như tiếng gà rừng gáy mỗi khi trời sáng. Có rất nhiều vấn đề trở nên quen thuộc, thậm chí đã trở thành nhàm chán nhưng được Pờ Sảo Mìn nói bằng một giọng điệu rất riêng. Có lẽ chỉ có ông  mới nhìn hình ảnh Tổ quốc như thế này:

Ôi Tổ quốc chúng mình/ Đâu đâu cũng có rượu ngon và gái đẹp/ Rượu ngon thì uống/ Gái đẹp ngắm xem – (Mỗi bước chân đi).

Pờ Sảo Mìn có cách tiếp cận khá độc đáo đối với những sự vật, hiện thực mà thơ ông đề cập đến. Điều đó đã tạo nên giọng điệu thơ riêng không thể lẫn. Giống như các nhà thơ miền núi, Pờ Sảo Mìn có sự so sánh rất cụ thể: “Con tim như con quay con trẻ”, “tóc dài như suối, mắt sáng như sao”… Nhưng ở những so sánh ấy, Pờ Sảo Mìn có cái nhìn rất riêng mà không một nhà thơ nào có được: “Hạt thóc mẩy căng tròn/Như ngực em hồng hào trình trắng”. Với cách so sánh như thế, nhà thơ đặt vẻ đẹp phồn thực trinh trắng của người thiếu nữ trở thành mầm ươm sự sống.. Từ đó đưa đến một diễn ngôn thẩm mỹ của ông: Vẻ đẹp con người là tâm điểm, vẻ đẹp của người phụ nữ là chuẩn mực của vũ trụ, là khởi nguyên sự sống.

Cũng như các nhà thơ khác, Pờ Sảo Mìn viết nhiều về tình yêu. Pờ Sảo Mìn viết về tình yêu ngay từ những dòng thơ đầu tiên. Những bản tình ca tuổi trẻ được ông viết gửi những mối tình xa là trong những năm tháng du học công nhân kỹ thuật tận Tiệp Khắc xa xôi. Những mối tình tuổi trẻ vụng dại, thời gian trôi chảy có những lúc tưởng như đã quên rồi, nhưng bất chợt như cái dằm trong tim chồi lên đau nhói, nỗi nhớ trong vô thức khiến nhà thơ bật lên

Ơi cô gái mắt xanh, tóc hoe vàng/ Mang màu nắng xứ miền ôn đới/ Em là bình nguyên cao xanh vời vợi/ Để cho anh công nhân cày xới… yêu thương – (Nghĩ về tình ca Suriento)

Trong giấc mơ diệu kỳ về mối tình với cô gái mắt xanh mơ màng như nước biển Ban tích. Đến khi xa cách nửa vòng trái đất vẫn khắc khoải nhớ thương. Tình yêu trong ý thức, trong tiềm thức và nồng nàn trong vô thức, nó len lỏi vào trong giấc mơ của một thời trai trẻ bên trời Âu:

Anh chợt nhớ… Anh chợt quên ngày tháng/ Đêm nay… Anh trốn tới bên em trong giấc mơ diệu kì…/Em vẫn như ngày xưa xinh đẹp… trong hương sữa lúa mì..Bông hoa hồng anh đã hái từ xưa?… Từ xưa…/ Em đã hiến dâng… Em như huyền thoại…/ Tôi đã yêu em như điên như dại/ Phút ái ân qua rồi! Mà anh nhớ mãi em thôi/ Vì xa em nửa vòng quả đất (18.000km) đường dài…(Bức thư tình thứ ba gửi Anna)

Cái tâm trạng “Hỡi trái đất rộng làm chi bát ngát/ Cho loài người chia biên giới thế gian/ Cho sa mạc nổi bùng cơn bão cát/ Cho tình anh chưa bén đã lụi tàn?” trong bài thơ nổi tiếng “Em đi tìm anh trên bán đảo Bancang” của Khổng Văn Đương, giao thoa với tâm trạng nhung nhớ khát khao đến cháy bỏng muốn tìm về tình xưa, trong cơn mê hoang dại của nhà thơ người Pa Dí xứ Mường. Nỗi khắc khoải ấy theo ông đến tận tuổi già “Nhớ Anna Phisakova đôi mắt diệu huyền/ Đôi mắt màu biển xanh Ban tích”

Thơ tình của Pờ Sảo Mìn đẹp như những bài ca mà ông hay nói là bài ca hoang dã. Đã nhiều lần ông bảo với người viết: Tình yêu không man dại thì không phải tình yêu. Thơ viết về tình yêu mà không hoang dã thì thơ không thật. (Man dại, hoang dã ở đây ông nói với ý là đắm say, mãnh liệt). Quả đúng vậy, thơ tình của Pờ Sảo Mìn trải khắp nơi. Dường như nơi nào ông đặt bàn chân đến là ông có thơ tình. Những người tình thoáng qua phút giây, những người tình đậm sâu trong những đêm tình tự, đã để lại dấu vết qua những vần thơ độc đáo của Pờ Sảo Mìn. Với ông, tình yêu là lẽ sống “Em yêu anh như họa mi yêu tổ/anh thương em như trời thương đất”. Tình yêu trong thơ ông thường gắn với yếu tố vũ trụ, trăng sao, không có thề non hẹn biển, nhưng cũng không có những nỗi thất tình tê tái. Thơ tình của Pờ Sảo Mìn tự nhiên như không khí, nước chảy, như cơm ăn, nước uống hàng ngày:

Mặt trăng ơi! Hỡi ánh sao đêm! Xin đừng trôi, đừng tắt/ Cho đêm dài… anh bên em mãi mãi…/ Anh xin nhận là người man dại nhất trần đời/ Đêm đồng cỏ có mấy ánh sao rơi?- (Hát cùng sao đêm).

Thơ tình của Pờ Sảo Mìn có cái nhìn độc đáo riêng. Tình yêu trong thơ ông trẻ trung được thể hiện bằng những câu thơ ngắn gọn, chắc nịch nhưng lãng mạn bay bổng. Dường như đi đến đâu, khi nào ở mọi không gian và thời gian, Pờ Sảo Mìn đều làm thơ tình. Bởi lẽ tình yêu là lẽ sống của thơ ông, không kể tuổi tác, lúc nào cũng nồng nàn “man dại” và “hoang dã”. Cái tình trong thơ ông mãnh liệt. Không có tình yêu của em, không được nhìn thấy em dù một ngày có nghĩa là anh đã không còn trên đời này nữa:

Chỉ có 1 giờ, 1 phút, 1 giây/ Không gặp được em cười/ Không được nhìn em nói/ Anh đâu còn sống nữa…(Một ngày)

Pờ Sảo Mìn là một trong những thi sĩ si tình nhất thế gian, nếu không có em chỉ trong phút giây, anh không còn tồn tại nữa. Bài thơ Đến bây giờ em có còn yêu tôi nữa không, thì tình yêu được tính theo tháng năm, nhưng sự say đắm yêu đến kiệt cùng dường như không thời gian nào thay đổi: “Tuổi hai mươi anh mạnh như hổ/ Khỏe như trâu/ Tuổi bốn mươi anh mạnh như gấu/ Khỏe như voi…” Tình yêu dường như là động lực sống mãnh liệt của nhà thơ.

Dường như lúc nào ông cũng lo sợ không được yêu đến kiệt cùng, ngay cả khi bước sang tuổi già “Tuổi sáu mươi sức anh vơi dần/ Xin lỗi nhé, em còn yêu tôi nữa không?” Đến tận khi đã tuổi 70 ông vẫn còn ngất ngây men tình “Bây giờ tôi đã ngoài tuổi bảy mươi/Chân đã chậm, mắt đã mờ/Tấm lưng cong cong mang theo hình dấu hỏi/ Vậy bây giờ em có còn yêu tôi nữa không?”. Thậm chí đến cả khi hai người chung một giường một chiếu một chăn, nhân vật trữ tình vẫn đau đáu câu hỏi Đến bây giờ em có còn yêu tôi nữa không? Ở tuổi nào, ông vẫn cứ hỏi như một ám ảnh sâu trong vô thức. Trong thơ ca, có người ví đôi mắt người yêu như đêm đen, như dòng sông, như vực thẳm, nước giếng khơi trong… Nhưng chưa ai nhìn thấy đôi mắt người yêu như chiếc còng số 8 khóa chặt con người si tình lại:

Đôi mắt em đẹp/ Một bông hoa xinh/ Cung vòng số 8/ Khóa chặt anh lại/ Trong đáy mắt em – (Mắt em)

Đôi mắt là cái khóa số 8 khóa chặt đời anh trong đáy mắt em. Sự liên tưởng bất ngờ rất độc đáo này đã làm nên sự thú vị của thơ tình Pờ Sảo Mìn.

Cho đến tận tuổi già, trái tim nhà thơ vẫn dạt dào tình tứ. Gặp những người con gái đẹp, ông vẫn thấy mình như cây thông già tràn trề: nhựa sống. Ngắm cô gái trẻ xinh đẹp trên bờ biển Vũng Tàu, Pờ Sảo Mìn có tứ thơ thật hay: Trâu già và bãi cỏ non “Em ngồi đó hoa em bừng nở/ Tỏa hương thơm Bãi Trước, Bãi Sau/ Biển Vũng Tàu ngàn năm sóng hát/ Biển thì xanh, bãi cát dài trắng phau/ Như tôi và em đang bóng hình đâu đó/ Em ngồi đó, một đồng cỏ xanh nõn non tơ/ Tôi ngồi đây… Một cây thông già bất động/ Mà trong lòng nổi sóng biển sâu”. Trẻ trung cháy bỏng, đến mức lửa tình chẳng khác gì một lò phản ứng hạt nhân, không rượu mà thi nhân lảo đảo men say. Trong cái bồng bột, mãnh liệt của tình yêu, là nụ cười hóm hỉnh của một ông già tuổi tám mươi:

Tôi ngồi đây… Em ngồi đó/ Như một đồng cỏ xanh mướt non tơ/ Tôi  ngồi đây! Em ngồi đó hát ca/ Khổ thân tôi một con trâu đã già/ Trước đồng cỏ xanh mướt bao la – (Trâu già và bãi cỏ non)

Tứ thơ tưởng như gợi câu nói mà dân gian: “trâu già gặm bãi cỏ non”. Đó chỉ là tầng bề nổi của bài thơ. Đọc kỹ bài thơ, người đọc nhận thấy chất Uy-mua hài hước đậm chất Phương Đông. Bài thơ làm người đọc liên tưởng đến nụ cười hóm hỉnh của thi hào Tô Đông Pha đời Tống (hơn 1800 năm về trước). Trong giai thoại kể Tô Đông Pha được mời đến dự đám cưới vợ lẽ của người bạn đồng liêu (làm quan cùng triều) là Trương Tiên. Đến nơi ông thấy khá khập khiễng, khi Trương Tiên 80 tuổi lấy vợ lẽ là cô gái 18 tuổi, lại còn mời Tô Đông Pha viết tặng bức thi pháp chúc phúc. Ông bèn viết câu đối: Tuyển thụ khai xuân hoa – Ngưu lão xỉ phì cao (Cây khô nở hoa xuân – Trâu già gặm cỏ non) và một bài thơ tứ tuyệt:

Thập bát tân nương bát thập lang,/ Thương thương bạch phát đối hồng trang./ Uyên ương bị lý thành song dạ,/ Nhất thụ lê hoa áp hải đường.”

Tạm dịch:

Tân nương mười tám, chồng tám mươi/ Tóc bạc sương pha kề má hồng/ Chăn gấm uyên ương một đêm ấy/ Một cây lê cổ áp hải đường.

Có hiểu như thế, ta mới thấy nụ cười trong thơ của Pờ Sảo Mìn thẫm đẫm triết lý Đông Phương. Và đó cũng là ý nghĩa mỹ học của diễn ngôn thơ tình của thi sĩ xứ Mường Cang.

Thơ tình yêu của Pờ Sảo Mìn hay nhất là những bài thơ viết về người vợ tấm cám của ông. Xưa nay thơ viết về vợ khá nhiều, yêu thương có, biết ơn có, hờn giận có. Nhưng Pờ Sảo Mìn viết về vợ mình với tất cả sự trân trọng thương yêu bằng một giọng thơ độc đáo của riêng ông: “Một ngày qua tuổi sẽ già lên/Em vẫn là người đẹp của núi/Em vẫn là gái xinh của Mường/Tay em múa mọc ra ngô lúa/Chân em đi ngút ngàn nương ngô/miệng em ca ấm cửa ấm nhà…” (Xuân nhớ về thăm vợ). Người vợ tảo tần cùng ông đồng hành trong hành trình của số phận. Có lẽ những lời ca chân thật nhất, yêu thương nhất ông dành cho vợ. Pờ Sảo Mìn thấu hiểu nỗi vất vả gian truân của người vợ miền núi:

Cuộc đời em là tháng năm vất vả/ Ba mươi tuổi đời đã mấy lần sinh con/ Nỗi lo toan in trên vầng trán/ Nếp nhăn nheo chéo ngang chéo dọc/ Cái nhọc nhằn nói ở bàn chân/ Thương con trước mặt nhớ chồng ở xa

Trong khi đó, người chồng nhà thơ làm công việc nơi xa, thì mãi đây đó cùng với bạn bè, cảnh đẹp “Anh đến và anh đi như xin lửa vội vã”. Yêu đến tận cùng, thương đến vô biên, phải yêu đến thế nào mới có những câu thơ thảng thốt đến thế này:

Anh muốn sẻ anh làm trăm mảnh con người/ Mỗi mảnh một việc đỡ mệt nhọc vất vả cho em

Để em trở lại với tháng năm thiếu nữ xinh đẹp xa xôi diệu vợi. Để trở về những năm tháng yêu đương để được ngám em múa, ngắm em hát trong sự đắm say ở đôi mắt kẻ si tình. Những câu thơ được nói bằng ngôn ngữ dân dã rất đời nhưng lại giàu sức lôi cuốn người đọc. Những câu thơ hư ảo, chập chờn si mê tình ái

Đêm xuân này nửa tỉnh nửa say/ Anh bỗng nhận ra em ngày ấy/ Một bông hoa rừng ngất ngây hương bay/ Hạnh phúc xue tròn trong mỗi tầm tay

Được ngắm vợ trong mỗi tháng năm, tình yêu của ông với Din không bao giờ vơi cạn. Bài thơ “Vợ tôi” ông viết về bà khi đã 60 tuổi, là một trong những bài thơ hay nhất của ông. Bài thơ vẫn da diết, đậm đà thương nhớ. Nếu thời trẻ khi viết về vợ là sự cuồng nhiệt yêu đương, là nồng nàn thương nhớ, thì khi tuổi xế chiều giọng thơ ông ấm áp đằm thắm khi nói về bà. Ngôn ngữ thơ bình dị dân dã, giọng ông như nghẹn lại trong từng câu chữ, trong nhịp thơ:

Vợ tôi/ Năm nay em sáu mươi tuổi rồi/ Nửa thế kỷ đi qua, trải mái đầu bạc trắng/ Một đời gánh nặng khó nhọc trên vai/ Tôi con suối thì đi/ Em đất đai ở lại/ Với túp lều con cái

Bài thơ kể về một thời con gái  mà tóc dài như suối, mắt sáng như sao, tiếng nói trong trẻo như tiếng chim họa mi hát trên đầu núi làm say mê trái tim chàng trai Pa Dí. Để rồi học cùng, chung mái nhà với những tháng năm vất vả. Hình ảnh: “Em như con ong kiếm mật xây tổ” là một hình ảnh rất đắt, rất độc đáo có giá trị khái quát rất cao về hình ảnh người phụ nữ Việt Nam. Những tháng năm đi qua, nhìn thời gian phôi pha trên gương mặt xinh đẹp của cô giáo Din ngày nào, lòng ông trào lên nỗi niềm biết ơn:

Tôi gọi em đích thực: Mẹ ơi/ Mẹ của các con tôi/ Và Mẹ của chính tôi/ Không có vợ không câu thơ sinh nở/ Không có vợ không bài ca để hát/ Suốt đời…/Vợ ơi

Người ta nói đằng sau người đàn ông thành đạt là hình bóng người đàn bà. Nhưng với những câu thơ này của Pờ Sảo Mìn thì ý nghĩa người vợ còn hơn thế nữa. Những câu thơ này là sáng tạo mới về hình ảnh người vợ trong thơ ca, và cũng là những câu thơ trác việt vào hàng hay nhất thơ ca đương đại về vợ.

2. Giọng điệu thơ hồn nhiên

Tác giả Ngô Nguyên Quyền và nhà thơ Pờ Sảo Mìn 

Với cá tính sáng tạo độc đáo của mình, Pờ Sảo Mìn đã đem đến thơ ca Việt Nam một khuôn mặt khó có thể trộn lẫn. Cá tính sáng tạo ấy được thể hiện bằng giọng điệu thơ hồn nhiên. Thơ Pờ Sảo Mìn tự nhiên như lời nói hàng ngày.

Ngôn từ của thơ Pờ Sảo Mìn không cầu kỳ đẽo gọt. Ông không chọn cách làm thơ chú trọng ngôn từ theo lối thơ “đúc chữ” của thơ ca cổ điển. Ngôn ngữ trong thơ Pờ Sảo Mìn là ngôn từ của đời sống dân dã hàng ngày.

Khi xa rồi hóa trở thành nỗi nhớ/ Nỗi nhớ cháy bùng lên bao ngọn lửa/ Nhớ ngày uống rượu nhớ đêm viết thơ/ Đất trời lờ mờ lời hát lơ mơ/ Nhớ đêm hát lượn nhớ ngày bẫy chim/ Chim không bẫy được thì đi tìm gái…-(Nỗi nhớ Mường Khương)

Nhưng cái dân dã ấy được đặt đúng lúc đúng chỗ khiến hồn thơ bay lên tạo nên nhịp điệu. Nhịp điệu thơ Pờ Sảo Mìn khá tinh tế. Nếu ông không chú trọng ngôn từ, thì ông lại tinh tế khi chọn cho thơ mình sự giàu có nhạc điệu. Dường như mỗi bài thơ, câu thơ lại có nhạc điệu riêng. Tính nhạc ấy khiến thơ Pờ Sảo Mìn có sự tự nhiên và hồn nhiên làm nên đôi cánh nâng đỡ cho thi ca. Bài thơ “Cây ống khói” là một trong những bài thơ đầu tiên đạt được thành công của ông viết cách đây hơn 70 năm, ông đã chọn cho mình cái nhạc điệu riêng, đó là nhạc điệu trong lời nói của người miền núi. Bước nhịp của những câu thơ giống như tiếng nói kể vừa ngạc nhiên, vừa thích thú xen lẫn tự hào của nhân vật trữ tình.

Vượt qua giới hạn của khẩu ngữ hàng ngày, Pờ Sảo Mìn đem đến ý nghĩa thẩm mỹ riêng cho những diễn ngôn nghệ thuật của mình. Nhờ vào việc sử dụng các ngôn từ của đời sống hàng ngày, gần với khẩu ngữ nên thơ Pờ Sảo Mìn có cái hồn nhiên, trong sáng.

Tháng hai/ Nai hoẵng đi từng bầy/ Ngất ngây trong tình ái/ Trên cánh đồng hoang dại/ Da diết ngày lẫn đêm- (Tháng hai)

Viết về đời mình ông thấy mình như tảng đá xanh, nhưng tảng đá ấy nẩy sinh nhánh lan rừng. Ông thấy đời mình là con nai, con hoẵng lang thang cuối rừng, là họa tiết hoa văn im lặng ngàn đời. Nhưng đó là sự thâm trầm ẩn sâu trong những câu thư rất đỗi bình thường ấy.

Pờ Sảo Mìn lựa chọn thứ ngôn ngữ thơ gần với khẩu ngữ hàng ngày, vì thế thơ ông giản dị mà sâu lắng, ít lời nhiều ý:

Anh là cây thông trên đỉnh núi/ Em là cây cọ đất trung du/ Sinh ra số phận ta tạm đủ/ Lúc ngồi, lúc đứng, lúc đung đưa ca hát/ Thật diệu kỳ khi nhận ra chính mình –(Lời thì thầm với cây cọ trung du)

Những ngôn từ không mượt mà, được chắt lọc điêu luyện như vẫn thường thấy trong thơ ca, mà ngôn từ của thơ Pờ Sảo Mìn là những như lời ăn tiếng nói hàng ngày. Điều đó đã tạo cho thơ ông có sự hồn nhiên, tự nhiên dễ gần. Thơ Pờ Sảo Mìn đôi lúc cũng giãi bày giải thích về chính mình. Cũng trong bài thơ Lời thì thầm với cây cọ trung du, ông trần tình một cách mộc mạc tự nhiên về mình: “Anh là cây thông trên đỉnh núi/ Em là cây cọ đất trung du/ Thân anh sần sùi xù sì/ Mà lừng thơm khắp rừng khắp núi/ Thợ xẻ mới chẻ anh ra/ Thành tấm, thành ván, làm nhà, làm cửa, cọ ơi”. Em, cây cọ trung du cũng mảnh khảnh gồ ghề để làm mái nhà mát mẻ mùa hè, ấm cúng mùa đông. Trong những câu thơ mộc mạc ấy, bật chợt sáng lên câu thơ: “Đứng chở che, nằm xuống cũng che chở” giàu chất triết lý như một minh triết, tạo nên cảm xúc thẩm mỹ bất ngờ cho người đọc.

Tình yêu được Pờ Sảo Mìn cảm nhận với tất cả các giác quan. Với ông đã yêu thì yêu kiệt cùng. Đó không chỉ là sự hòa nhập của trái tim, mà còn là hòa nhập của xác thịt để cảm nhận tất cả những gì đẹp nhất mà tạo hóa ban cho con người ta khi yêu nhau:

Một đêm xuân bên nhau/ Con mắt nhìn con mắt/ Cái tai nghe cái tai/ Tóc cuốn tóc không rời/ Da thịt mài da thịt/ Trái đất xoay tít mù

Bởi lẽ cả ngìn năm nhân loại yêu nhau như thế, tại sao phải lảng tránh không gọi thú vui trần thế ấy ra “Một đêm xuân bên nhau/ Sao thời gian dài thế/ Như thể trăm năm vậy/ Như những nghìn năm ấy” (Một đêm xuân). Yếu tố “nói thẳng” không lảng tránh đã tạo cho thơ Pờ Sảo Mìn sự tự nhiên như cuộc đời vốn vậy.

Từ ngữ của thơ Pờ Sảo Mìn thô ráp, ông đưa vào thơ rất nhiều câu nói là lời ăn tiếng nói hàng ngày: “Tay run run bủn rủn bùn rùn” (Anh Nhàn); “chó già chủ mang ra chợ bán /Ít nhất cũng có vài trăm đồng đút túi…”; “Mít ngọt xù xì sao ngọt thế mít ơi”… Chất khẩu ngữ trong thơ Pờ Sảo Mìn đã làm cho thơ ông dung dị, dễ gần. Vì thế ta có thể nói thơ Pờ Sảo Mìn là tiếng nói của cuộc sống trần ai bụi bặm, gần với đời sống của nhân dân lao động. Phải chăng điều này sẽ làm cho Pờ Sảo Mìn bất tử với thời gian.

3. Tính triết lý, thời gian, không gian và cảm thức nghệ thuật của thơ Pờ Sảo Mìn

Thời gian nghệ thuật trong thơ Pờ Sảo Mìn là thời gian tuyến tính. Thơ ông ít có thời gian dồn nén hoặc kéo dãn theo tâm trạng. Pờ Sảo Mìn không có nhiều thời gian tâm trạng, mà thời gian trong thơ ông là thời gian thực tế, thời gian cụ thể của đời sống thường nhật. Phải chăng đó làm nên chất dung dị hồn nhiên trong thơ ông? Khi còn trẻ, những tháng năm sôi nổi đi du học tận trời Âu với bạn bè người Đức, người Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc, Xu Đăng với mọi màu da, khoác vai nhau hô vang ủng hộ Việt Nam trong những năm đánh Mỹ, cái nhìn của chàng trai Pa Dí tuổi đôi mươi thấy cuộc đời thật đẹp:

Pờraha chiều nay đẹp lạ/ Tháp mai rùa đầy nắng hoàng hôn/ Im lặng đứng nhìn/ Công việc cuối cùng Pờraha chiều nay còn lại/ Ủng hộ Việt Nam- (Pờraha một buổi chiều)

Cảm nhận về thời gian nghệ thuật trong thơ Pờ Sảo Mìn là thời gian trôi chảy không dừng lại, đó là quy luật của tự nhiên. Do đó thơ Pờ Sảo Mìn ít nuối tiếc, mà hồn nhiên đón nhận quy luật ấy:

Thời gian trôi, thời gian không ở lại/ Có tuổi rồi tôi đâu còn trẻ mãi –(Bản Lầu yêu dấu)

Đó là thời gian được cảm nhận bằng sự từng trải của đời người. Những đắng cay, vinh, nhục, nhưng năm tháng trẻ tuổi mải miết với những cao vọng, những tháng năm của tuổi già với sự tự tại “tri thiên mệnh”. Vì thế thơ Pờ Sảo Mìn không có cái hốt hoảng cuống quýt khi thời gian trôi chảy mà cuộc đời quá hữu hạn như Xuân Diệu, và một số nhà thơ đương đại sau này. Trước thời gian trôi chảy nhà thơ ung dung trước quy luật (có tuổi rồi, tôi đâu còn trẻ mãi):

Nửa thế kỷ  đi qua bao buồn vui mưa nắng/ Hợp tan… tan hợp… như mưa giông sét đánh/ Mái nhà vẫn thủy chung yên lặng/ Tôi đã về với mái nhà xưa cũ ngày xưa- (Mái nhà xưa)

Thời gian tuyến tính tự nhiên, không sử dụng các thủ pháp ước lệ tượng trưng khi thể hiện thời gian trong tác phẩm cùng với việc sử dụng ngôn từ dân dã đã làm cho thơ Pờ Sảo Mìn có cái hồn nhiên, gần gũi. Không chỉ có thế, trước thời gian, Pờ Sảo Mìn thấy ung dung, tự tại, tuổi nào việc ấy sức lực nấy:

Em cứ tin tuổi bốn mơi chưa khọm lắm đâu

Mùa giá lạnh đi qua đồng cỏ xanh lại hát – (Hát cùng sao đêm)

Thơ Pờ Sảo Mìn đôi lúc cũng có sự nuổi tiếc khi thời gian trôi chảy, mà đời người thì hữu hạn. Tuổi già đến, đất trời vẫn vậy, mùa xuân vẫn thế, nhưng ông cảm nhận thấy mùa xuân có tuổi, nhăn nheo như một ông già, lưng còng tóc bạc và chậm chạp. Mùa xuân hiện hữu có hình khối, có sự tiếc nuối của một thời tuổi hai mươi lên rừng săn hổ, săn gấu, chặt gỗ làm nhà… vậy mà mùa xuân đến để bao đêm xuân vẫn thì thầm hỏi Đến bây giờ em có còn yêu tôi không?

Thời gian như mũi tên bay vút ngang qua

Tuổi bảy mươi đã đến

Rồi lại mong tuổi thơ ấu trở lại đôi lần- (Mong)

Pờ Sảo Mình viết về nhiều vùng đất khác nhau, nhiều không gian khác nhau: từ không gian núi rừng trải rộng đến không gian biển cả. Tuy nhiên cảm thức về không gian trong thơ ông vẫn là không gian của miền núi. Đặc biệt hình ảnh Mường Khương quê ông được viết nên bằng những vần thơ da diết nhớ thương. Đó là dòng suối Thu Bô êm đềm, là đỉnh Pắc Chi, núi Pồ Nhê… Không gian ấy quen thuộc nên ngay cả khi đứng trước biển khơi mà ông thấy: “Tôi ngồi đây /Một cây thông rừng già”. Khi nghe bản nhạc Ba Tư xa xôi, trong khúc nhạc của miền sa mạc cháy nắng ngút ngàn cát trắng, ông vẫn thấy hình ảnh quê mình trong đó “Đâu sung sướng Mường Tiên/ Đâu kinh thành cổ kính/ Bản Mèo em rồi cũng thấy bình yên” (Cô gái Mèo và bản nhạc Phiên chợ Ba Tư). Bởi đó là nơi ông sinh ra, nơi nuôi ông lớn lên bằng nước nguồn trong vắt, đó là nơi Dân tôi chỉ có hai ngàn người/ Như hai ngàn chiệc lá. Vì thế không gian nghệ thuật của Pờ Sảo Mìn là cảm thức về miền núi. Điều đó tạo nên những ám ảnh nghệ thuật trong thơ ông. Nhìn bất cứ sự việc nào, ông cũng liên tưởng đến những hình ảnh quen thuộc với người miền núi: Cây thông, con trâu già, vách đá… Khi đi xa ông thổn thức nhớ mảnh đất Mường Khương thân thương

Đến Hà Nội nhớ ngược Mường Khương

Như ngọn lửa rực sáng biên cương

Thôi! Mai ta về Mường Khương đất mẹ – (Nhớ)

Đó không chỉ là không gian sinh tồn, đó là không gian tình yêu của nhà thơ, là nơi khởi nguồn mọi cảm hứng thi ca. Nơi Bản Lầu có suối Na Lốc “cá quẫy đạp sao trời”. Đối với ông, quê hương và người tình hòa thành một trong vòng ông xiết chặt không rời:

Tôi ôm em/ Như ôm bản mường/ Trong vòng tay xiết chặt – (Tia chớp)

Đó là quê hương với Bắc Hà, Sa Pa, Si Ma Cai, với những khu rừng thiêng trầm mặc, với đỉnh Phan Xi Păng nóc nhà của Đông Dương, đâu đâu ông cũng thấy yêu thương và ở đâu lời thơ ông cũng như khúc ca ngọt ngào hát về những miền quê yêu dấu ấy.

Thơ Pờ Sảo Mìn triết lý bằng những ngôn từ đời thường giản dị. Cách triết lý của ông phản anh tư duy của người miền núi, tính khái quát được quy nạp từ những sự việc cụ thể. Nhưng có thứ triết lý nằm ẩn sâu trong câu chữ. Đó là những triết lý không được nói thành lời, nhưng chính nó tạo cho những câu thơ của Pờ Sảo Mìn những ý nghĩa mới mẻ trên những câu chữ cũ. “Diễn ngôn nghệ thuật phải là diễn ngôn tạo hình cho những cái chưa thành hình, phát ngôn cho những điều đang ấp úng, đặt tên cho các hiện tượng chưa có tên gọi trong từ điển. Đó là thực chất xã hội, thẩm mĩ của diễn ngôn nghệ thuật” (Trần Đình Sử – Bản chất xã hội và thẩm mĩ của diễn ngôn văn học). Vì thế khi đọc thơ Pờ Sảo Mìn đôi lúc phải ngẫm ngợi  nhiều điều:

Đến Thái nguyên anh mới hiểu đôi điều/ Đất nước mình nhiều gang ít thép/ Tổ quốc ta giàu đẹp sao dân mình mình nghèo thế/ Điều buồn hơn anh không thể gặp em – (Đi tìm em ở thành phố Thái Nguyên)

Chính những triết lý ẩn sâu trong câu chữ ấy mới tạo nên giá trị của thơ ca. Bởi lẽ, ý nghĩa của thơ ca không chỉ nằm trên bề nổi ý nghĩa tự thân của câu chữ. Thơ càng hay, càng có giá trị thì nó càng chứa nhiều tầng ý nghĩa. Đó là vẻ đẹp của diễn ngôn trong nghệ thuật thơ ca.

Cây ống khói/ Là cái cây không lá không cành/ Không! Đấy là cây đầy nhựa lá xanh/ Sức sống ngàn trăm triệu người thợ/ Tôi nói cây ống khói/ Là cây của tình yêu – (Cây ống khói)

Điều gặp trong thơ Pờ Sảo Mìn là ông hay dùng cây để ví von so sánh. Đây là một ẩn dụ, một hình tượng trở đi trở lại làm nên sự ám ảnh nghệ thuật trong thơ ông, Rất nhiều bài thơ lấy cảm hứng từ cây – lá: Cây hai ngàn lá,; Cây đất nước; Tìm cây làm nhà; Cây trúc; Cây ống khói…; Có lẽ cuộc đời thi sĩ gắn với rừng, ngay từ khi mở mắt chào đời nên đã thấy cây, thấy lá. Vì thế nên hình tượng cây, lá đi vào thơ ca như một hình tượng chủ đạo. Tự hào với dân tộc mình như cây hai ngàn lá:

Hỡi bạn bè và hỡi cả trần gian/ Dân tôi chỉ có hai ngàn người/ Như cái cây hai ngàn chiếc lá/ Cạnh rừng già là rừng non trẻ đấy/ Lá ơi!

Bên cạnh hình tượng cây – lá, vẻ đẹp của con người nhất là vẻ đẹp người phụ nữ trong thơ Pờ Sảo Mìn mang vẻ đẹp phồn thực. Hình ảnh người vợ sinh sôi nảy nở, luôn là hình ảnh đẹp nhất trong thơ ông:

Trên núi rừng bao la/ Có muôn ngàn loài hoa/ Loài hoa nào cũng quý/ Quý nhất là hoa em/ Sinh ra nhân loại mà – (Hoa)

Vẻ đẹp phồn thực của người phụ nữ được Pờ Sảo Mìn vẽ nên với giọng điệu say mê nồng nàn. Người phụ nữ trong thơ ông rất ít được tả thực hay cận cảnh. Nhà thơ coi người phụ nữ là biểu trưng cho cái đẹp, nhưng cái đẹp ấy thường được nói qua cảm nhận qua lăng kính tâm hồn thi sĩ mà vẻ đẹp phồn thực luôn được tôn sùng:

Mắt em đen tròn lông mày lá liễu, lá đào xanh biếc; đôi môi hồng tươi như giọt sương long lanh óng ánh

Dáng âu eo hình chữ S mang hình đất nước; ngực căng mông nở xoe tròn và chắc là mắn đẻ

Để cho tôi xin chết cho nhiều kiếp người

(Bài thứ 7 – Tám bài thơ 3 câu không vần)

Người phụ nữ mà tiêu  biểu là người vợ mà ông yêu đến kiệt cùng suốt cả cuộc đời cũng hiện lên trong thơ ông như ví dụ một tiêu biểu. Hình ảnh người vợ sinh ra những đứa con, nhưng đâu phải là chỉ cho riêng anh, mà cho cả nhân loại. Trong thơ Pờ Sảo Mìn, người vợ ngoài thiên chức của người phụ nữ còn là ngọn nguồn của cảm hứng thi ca. Cảm thức về cái đẹp được Pờ Sảo Mìn hay nhắc đến bộ ngực người phụ nữ. Bởi lẽ bộ ngực người phụ nữ theo ông, nó tương trưng cho sự sinh sôi nảy nỏ, tượng trưng cho những gì tình khiết, trong trắng.

Tôi đóng một dấu o tròn thắm đỏ thánh thiện trên ngực giữa của em

Bút đầy ngực làm lưỡi cày, cày thẳng, cày băng băng trên cánh đồng màu mỡ

Rồi tin tưởng tương lai ngày mai em sẽ sinh ra những cô gái và những chàng trai Pa Dí

(Bài thứ 6 – Tám bài thơ 3 câu không vần)

Bầu ngực căng tròn của người thiếu nữ da diết trong nỗi nhớ của ông

Nỗi nhớ nào hơn nỗi nhớ Mường Khương

Ơi cô gái Mường, ngực trong căng như trái núi

(Nỗi nhớ Mường Khương)

Điểm nhìn nghệ thuật của Pờ Sảo Mìn được ông thể hiện với tư cách người trong cuộc. Vì thế thơ Pờ Sảo Mìn là thơ nhập thế. Với cách sử dụng ngôn ngữ thơ gần với khẩu ngữ làm cho thơ Pờ Sảo Mìn vừa có cái độc đáo, vừa hồn nhiên dung dị. Chính điểm nhìn ấy khiến thơ ông dễ gần, không kiêu sa đài các. Đồng thời với tư duy rất đặc trưng của người miền núi qua những triết lý rất tự nhiên đã khiến thơ Pờ Sảo Mìn giàu chất triết lý nhưng lại gần với đời sống hàng ngày. Bài thơ Cây hai ngàn lá là một trong nhưng bài thơ hay nhất của thơ ca  đương đại thể hiện rõ điều ấy

***

Thời gian trôi chảy, nghệ thuật vốn là một cuộc đào thải khắc nghiệt, thơ ca không nằm ngoài quy luật ấy. Với cá tính độc đáo và hồn nhiên, Pờ Sảo Mìn đã góp vào kho tàng thi ca dân tộc một giọng điệu riêng không thể lẫn. Trong cuộc đào thải khốc liệt của thời gian, chúng ta tin rằng thơ Pờ Sảo Mìn sẽ còn mãi, như một minh chứng về sức sống trường tồn của nghệ thuật thơ ca dân tộc thiểu số.

Tháng 3 năm 2026

NGÔ NGUYÊN QUYỀN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *