Thủ lĩnh Rừng Già – Tiểu thuyết của Hà Lâm Kỳ – Kỳ 5

Vanvn- Giữa năm Hợi (Đinh Hợi 1887), lẽ ra đạo binh Cần Vương vùng Tây Bắc phải được tĩnh tại để củng cố lực lượng. Nhưng người Pháp tính kế áp dụng chiêu trò mới với dân An Nam. Từ Hà Tĩnh lãnh tụ Nghĩa sỹ Phan Đình Phùng nhắn tin đến Đại thần Hiệp thống, đại ý: Nay Phụ chính ở xa (Tôn Thất Thuyết đang bị Pháp cô lập ở Vân Nam). Đức Vua vẫn được các phụ tử bảo đảm nơi Sơn phòng. Thương cho Nguyễn Cao minh chủ Bình Định đã bị người Pháp xử chém, ông chết như một người anh hùng vậy. Toàn quyền Đlam nét xăng đang dùng mưu độc chia để trị”, Hoàng Giáp Tướng công hãy cảnh giác mọi bề!

Nhà văn Hà Lâm Kỳ ở Yên Bái

>> Cảm hứng lịch sử trong “Thủ lĩnh Rừng Già”

>> Thủ lĩnh Rừng Già – Kỳ 1

>> Thủ lĩnh Rừng Già – Kỳ 2

>> Thủ lĩnh Rừng Già – Kỳ 3

>> Thủ lĩnh Rừng Già – Kỳ 4

 

Một người dân đi làm đồng, vừa ra tới ruộng thì thấy lố nhố người lạ, ăn mặc kỳ quái liền chạy về hô hoán. Lý trưởng làng Kháo cho là có cướp liền nổi trống mõ báo động. Tất cả các nhà trống mõ inh om, những đõ ong mật được bê ra chặn lối đi, nhà nào có chó thả vung ra đường sủa cắn loạn xạ. Bọn lính thấy bị lộ, những con chó của người dân tộc to cao như con dê đực chồm chổ xô vào người lạ, bầy ong cứ túm tụm vào đám lính mà đốt. Chỉ huy đội càn, đại úy Go be vừa vuỗi ong bám vào áo, vào mặt, vừa hét lính chạy ngược đường. Lính càng chạy đàn chó nhà và ong rừng càng đuổi. Đội quân nghĩa sỹ của Lê Văn Nghìn chạy tắt đường đồi chặn đánh. Bọn khố xanh la hét. Bỗng có tiếng kêu to.

– Đại úy Go be, ngài chùm chiếc khăn này vào người, mau lên ngựa!

Viên sỹ quan Pháp tay rũ rũ những con ong bám dai như đỉa trên cổ áo, tay kia khoác chiếc khăn mà tên lính vừa chùm cho, cứ thế leo lên mình con hắc mã (ngựa đen). Tiếng giục giã của tên lính hộ vệ lọt vào tai Lê Văn Nghìn. Lập tức đốc Nghìn xô tới. Một mũi giáo phóng trúng vai tên chỉ huy người Pháp. Đại úy Go be ngã nhào xuống đất lùng nhùng trong chiếc khăn dù tây to tướng. Đại úy Go be bị tướng quân Lê Văn Nghìn và nghĩa binh Cần Vương bắt sống.

Trên tuyến Vần Dọc, thiếu tá Pátxăng chỉ huy một đội kỵ quân tinh xảo hầu hết là khố đỏ. Pátxăng giơ cao khẩu côn bát ngạo mạn tuyên bố:

– Chiến binh. Bỏ qua đao kiếm quân triều đình phiến loạn mà đánh từ trong ra ngoài. Đưa tất cả bọn chúng vào lưới Giamông!

Pátxăng tuyên bố rồi vỗ ngựa, hung hăng dẫn đầu đội kỵ binh, vượt đèo Giang, nhằm thẳng hướng làng Vần, làng Dọc mà dong cương bất chấp dõng binh canh điếm báo động.

Vương Văn Doãn, Phạm Đình Tế, Trịnh Bá Đanh đã đoán trước, rất có thể tướng Pháp sẽ thúc một đội quân khố đỏ, khố xanh thọc sâu nên cho lãnh Năm, đốc Đặng và đội Hoàng Đình, mật phục chân đèo Din. Tổng Khảm và lãnh Tế phục chân đèo Cuồng. Nhưng không thể ngờ, đám Tây thọc sâu đó lại là đội lính kỵ binh, có đến hai chục đầu ngựa.

Đội ngựa chiến đóng hàm thiếc thật nhanh, Pát xăng vung súng hô tiến, lập tức đám ngựa hý vang. Vì là ngựa cướp được của dân bản, chưa quen với chiến trận nên nhiều con cứ quay tròn. Nhưng rồi cũng vẫn đua nhau phi ngược dốc. Bo rítx biết đội thọc sâu của Pét xăng đã vượt núi , liền ra lệnh cho cả tiểu đoàn quân hỗn hợp: lê dương, khố đỏ, khố xanh, trương tuần… kéo theo sau hộ tống. Đại tá Bo rítx, trung tá Ben, thiếu tá Bre ăng ghe, đại úy Béc beng ghe… đủ mặt quan một, quan hai, quan ba chễm chệ lưng ngựa chiến hung hăng ngược đèo Giang tiến vào Vần. Lá cờ ba sọc của Tây trên lưng ngựa bay phần phật. Dân bản vừa sợ vừa không hiểu vì sao quân Tây lại kéo hàng đoàn dọc đường súng đạn nghênh ngang mà không bị ai đánh đuổi?

Đoàn binh mã đang hăng chiến thì bỗng trời tối sầm. Một trận mưa như nước đổ trút xuống. Khe Nước Mát chốc lát lũ ống đổ dâng ngập cả những cồ đá làn to bằng cái bịch.

Pátxăng:

– Trời hại ta rồi.

Một thông ngôn người Việt:

– Thưa ngài. Lũ quét to thế những chỉ một lúc là tan thôi, không nên sang suối lúc này.

Đám ngựa hí vang, chân cào đạp tung đất đường.

Phía bên kia, mấy người dân Đại Lịch đi ra Vần nhìn thấy đám người ngựa, lại có cờ Tây nên hiểu ngay là giặc Pháp càn vào Đại Lịch nhưng bị mắc kẹt lũ ống, vội vàng chạy về báo tin. Điếm canh Thanh Bồng nổi mõ, tù và thổi inh ỏi. Lãnh Năm, đ0ốc Đặng, đội Đình lập tức sắp trận dưới chân đèo Din. Tổng Khảm, lãnh Tế chuẩn bị ra đèo Cuồng.

Phút gấp bách, Vương Văn Doãn Phó Đề đốc điều chỉnh kế mai phục lập mưu nhử địch vào thung lũng cụt để quây đánh, tránh xa nơi đồn phủ.

Tổng Khảm Trịnh Bá Đanh cho làm một hình nộm bằng rọ nứa, to cao, đội mũ cánh chuồn, mặc áo Triều phục bằng giấy, tay cầm kiếm dài chỉ ra phía trước. Hình nộm  được đưa đến phía sau bãi chằm rôm, đặt bên bụi cây. Trịnh Bá Đanh, Hà Đình Đặng trực tiếp chỉ huy. Quân nghĩa binh dàn hai bên cánh đầm chằm, phục sẵn. Lãnh Năm Phạm Đình Thọ và đội binh Hoàng Đình sẽ chặn đánh ở suối Nước Mát rồi rút chạy nhử giặc vào bãi chằm. Vương Văn Doãn và Phạm Đình Tế có một đại đội dự phòng, chủ yếu là dân binh giỏi dùng dao găm, mã tấu và võ dân tộc, Đội binh dự phòng luôn được luyện tập phương pháp võ binh, giáp lá cà của người dân tộc thiểu số. Lãnh Tế quay sang nói với Phó Đề đốc: Bãi chằm này, mười năm trước, người Đại Lịch đã tiêu diệt cả trăm quân Cờ Vàng.

Lũ ống kéo dài đến ba mươi phút rồi ngớt dần. Pát xăng vung súng ngắn hét.

– Tiến. Binh mã, tiến vào phủ tổng!

Lập tức lũ ngựa hý dậy trời. Phạm Duy, đại úy người Việt, phó đội quân binh mã, một lính chiến vừa có tài, vừa tục tằn và háu gái, chửi vung.

– Đeo mẹ thằng trời, lẽ ra tao phải được chơi gái Đại Lịch trước lúc mưa to.

Tên hầu vệ đi lên:

– Kỵ mã ta như gió bão, quân phiến loạn dạt lên rừng. Đêm nay ngài đại úy tha hồ mà “chén” gái đẹp.

– Thằng này nói đúng đấy. Bắt được đứa xinh nhớ biếu anh mày trước, nghe không!

Tên lính kỵ mã:

– Dạ! Vâng, vâng. Sẽ dâng ngài, dâng ngài đại úy!

Nói rồi Phạm Duy giơ súng thúc quân lính.

– Tiến mau. Trước mặt kia là đèo Din, sang đèo là phủ Tổng Đại Lịch. Tiến mau.

Phạm Duy phi con mã nâu lên trước, vượt cả đội trưởng Pátxăng.

Chân đèo Din ngổn ngang  cây xanh.

Phạm Duy thốt lên:

– Đúng là trời hại, mưa bão cây đổ chắn đường ta chinh chiến.

Hai ba tên lính khố xanh chột dạ vội châu lại thưa.

– Thưa đại úy Pát. Thưa đại úy Duy. Không phải do mưa gió mà có dấu dao, dấu dìu ngả đổ chặn đường đấy ạ.

Phạm Duy hung hăng nhảy xuống ngựa bước lại hai cây xanh, lá cành um tùm, chặn ngang đường. Duy vung tay quát lớn.

– Lính lệ. Chặt cành cây, mau!

Vừa lúc đám lính túm tụm, đội kỵ binh đứng chực chờ dọn đường thì một tiếng thét lớn.

– Bọn giặc cướp kia, quân binh Cần Vương đây.

Tức thì mấy khẩu kíp nhả đạn tới tấp vào đám lính. Rồi đá cục, mẩu cây từ trên sườn đồi ném thẳng vào lũ giặc.

Phạm Duy nhảy lên ngựa quát.

– Nã đạn lên ven đồi. Rồi lại giục lính. Dọn mau, dọn cây mau lên.

Phạm Duy phát hiện một bóng lính Cần Vương nhảy xô xuống chặn đường liền giơ khẩu mooc chi ê nhả đạn. Nhưng rủi cho Duy, viên đạn không trúng đối phương mà lại đúng phiến đá đen, dựng như tường thành đầu đạn bật lại trúng mắt đại úy chỉ huy Pátxăng.

– Ối! Pátxăng ôm mặt.

Hai tên hầu cận đỡ quan Pháp lùi ra phía sau băng bó. Phạm Duy điên khùng quát tháo, quất ngựa vượt đám cành cây đang được dọn khỏi mặt đường. Lãnh Năm vạch lá cây bảo Hoàng Đình.

– Diệt thằng chỉ huy!

Hoàng Đình nâng khẩu hai nòng bóp cò. Đại úy Phạm Duy lảo đảo rồi lăn xuống chân ngựa, máu chảy đẫm vai áo. Không để mất mặt trước quân lính. Duy chồm dậy bám ngựa leo lên yên.

Trong lúc đội kỵ mã đang mắc kẹt vì lũ ống. Borítx một mặt cho đại quân tiến nhanh vào Vần Dọc để đánh thốc lên Đại Lịch hợp quân với đội kỵ mã, mặt khác, lại cử đại úy Bécbengghe đưa một cánh quân có thổ dân dẫn đường, luồn rừng tránh được điếm canh của Lê Văn Nghìn nên khẩn tốc vượt đèo Kháo, tiến vào làng Mỵ. Rồi từ Mỵ đánh ra Đại Lịch nhằm chặn đường, bắt sống các tướng quân của nghĩa binh Cần Vương nếu họ rút chạy vào Nghĩa Lộ. Đội quân khố xanh tiền trạm của Bécbengghe đang xuống dốc Đát Quang, đi tắt sang Khe Ngủ, phục sẵn lưng chừng đèo Bẳn giáp ranh giữa làng Mỵ và Đại Lịch thì tuyến Vần Dọc, đại quân của Brêăngghe cũng vừa tới.

Thấy đại quân đông, lại lố nhố mũ sắt tây trên lưng mười mấy con ngựa, cờ Pháp dương oai. Phạm Đình Thọ thấy khó chặn nổi quân giặc ở đèo Cuồng, nên cho nổ dăm ba phát súng rồi tháo chạy về theo hướng đầm chằm.

– Hô lê! Bắt, đuổi bắt Thủ lĩnh quân phiến loạn.

Đám ngựa hí vang phi bừa vào lòng chảo tổng Đại Lịch. Lãnh Năm, Hoàng Đình và quân binh vừa chạy vừa bắn trả. Bécbengghe giơ súng. Trương Đen vội tâu.

– Đại úy. Kẻ chạy kia chính là quân vệ sỹ của Trịnh Bá Đanh đấy. Đám tướng binh của chúng chắc cũng sẽ quanh đây.

– Đưa Trịnh Bá Hoàn lên đầu quân. Mau.

Nguyễn Quý dí súng vào lưng Hoàn.

– Này, gọi thằng Bá Đanh em mày về với nhà nước Đại Pháp anh em họ hàng đều được sung sướng, có hơn không?

– Được thôi chú “dõng” binh ạ. Không gọi được chú Đanh, tôi sẽ có cách bắt cả nhóm chỉ huy của nó về nộp.

– Hay quá. Quý đất tâu ngay lên Phạm Phú đội phó T90. Phú tâu lên Trương Đen đội trưởng.

Trương Đen:

– Được, sẽ cho nó một quả mìn sát thương. Loại này, nếu nó liều, mạng nó sẽ “bay” trước.

Quý cất quả mìn vào túi, đợi lúc hai anh em Bá Hoàn, Bá Đanh gần giáp mặt mới đưa đề phòng Trịnh Bá Hoàn làm phản.

Thấy quân Nghĩa binh ở chân đèo Cuồng chống trả yếu ớt rồi bỏ chạy sâu vào làng đầm Rôm, trung tá Ben thúc quân đuổi theo. Borítx khôn ngoan giơ tay.

– Trung tá là lính thủy đánh bộ, ít có kinh nghiệm truy kích. Ngải “nắm” năm chục quân trụ lại ngã ba đường này chặn quân phiên loạn tiếp ứng. Ngài Breăngghe, ngài Trương Đen hãy cùng tôi!

Trương Đen là người Việt tỏ ra thận trọng nhưng lại xông xáo trước quan thầy.

– Lê Bình đâu, Nguyễn Quý đất. Các ngài dẫn đội tinh nhuệ truy kích ngay.

Bọn Bình trâu điên, và Quý đất cùng đám khố xanh thúc ngựa chồm trên đường mòn. Trương Đen, Breăngghe, Borítx quất mã phi theo. Kẻ phiến loạn đội binh Hoàng Đình chạy bộ ngoằn nghèo dốc đá, vừa chạy vừa bắn, rồi bỗng xuất hiện thêm năm sáu phiến quân chạy vào rừng chằm.

Borítx quát to.

– Xông lên, bao vây bắt sống phiến tướng.

Trịnh Bá Đanh, Hà Đình Đặng, Hoàng Đình, an trú trong bãi chằm lau sậy quân binh ba phía vẫn im lìm chờ lệnh.

Do thám Nguyễn Quý đất đã đóng giả đi tìm cây thuốc nam từng mò đến bãi chằm đầy cỏ rôm này tháng trước nên biết rõ là bãi sình lầy. Nhưng cũng lại đoán Trịnh Bá Đanh và các chỉ huy bản địa đang trú trong đó. Quý đất chạy đến Trương Đen.

– Bãi trận này là sình lầy, nếu càn đánh, e rằng không rút được.

Trương Đen hung hăng:

– Bình trâu, đưa con tin lên gọi bọn nó đầu hàng đi.

Trịnh Bá Hoàn anh họ yêu quý của Trịnh Bá Đanh bị bọn Bình trâu đưa lên. Sau Hoàn là hai tên lính lệ.

“Trời ơi. Anh Hoàn. Một năm nay rồi bây giờ mới nhìn thấy anh đây. Anh vẫn khỏe mạnh, đẹp lão và hiền hậu như ngày anh em mình ngồi đánh cờ ở sân nhà? Sao anh lại rơi vào tay giặc? Sao anh lại đến đây tìm em, anh Hoàn ơi?!” Trịnh Bá Đanh vừa nghĩ, vừa lấy tay gạt nước mắt. Nòng khẩu súng Branô cướp được trong trận Đầm Đen bỗng hơi chúc xuống.

Trước mặt kia, cách đầu khẩu Bra nô chỉ hơn trăm mét, một giọng đàn ông nói to. Đúng là anh Trịnh Bá Hoàn rồi.

– Chú Tổng Khảm Trịnh Bá Đanh có ở đây không? Nếu ở đây thì nói to với anh một tiếng. Anh là Trịnh Bá Hoàn đây mà! Anh là Trịnh Bá Hoàn, quê nhà ta bình yên cả. Người Pháp đưa anh lên đây dụ em về. Việc anh, anh làm; việc của em, em tự làm em Bá Đanh nhé.

Trịnh Bá Đanh thấy trong người giật giật, nhưng kinh nghiệm Đầm Mực giúp cho tướng quân tỉnh táo, cảnh giác. Tổng Khảm quay mặt sang đốc binh Hà Đình Đặng và đội binh Hoành Đình.

– Nó xui anh Hoàn dụ ta ra hàng, anh Hoàn đã một lần bị địch lừa bắt ở trận Đầm Đen, anh ấy không chịu nhục đâu. Đốc binh ra lệnh cho nghĩa sỹ sẵn sàng, khi nào chúng tràn vào đầm, là xông ra đánh.

– Vâng. Tướng quân Tổng Khảm, hãy tin ở chúng tôi. Hà Đình Đặng nói khẽ.

– Nói, nói nữa đi tên hàng binh già kia. Quý đất giục.

Trịnh Bá Hoàn cười.

– Cho tôi quả mìn. Tôi sẽ vòng ra sau bụi cây gọi chú Đanh. Nếu tướng binh họ không chịu, tôi sẽ nổ mìn phá trại.

Bình trâu đưa mắt cho Quý rồi nói.

– Được, cho lính lệ bám sát chân ông ta đấy.

Trịnh Bá Hoàn cầm quả mìn, nhìn rõ dây chốt. Cười cười:

– Các ngài, tôi đã là hàng binh, tôi làm theo lệnh quan Tây.

Nói rồi. Trịnh Bá Hoàn đi vòng ra sau. Trương Đen, Bình trâu, cả Bre ăng ghe và đám lính vệ sỹ lê dương, khố đỏ quây quanh nhìn theo.

Bất ngờ Trịnh Bá Hoàn lao thẳng vào đám chỉ huy, giật chốt. Quả mìn nổ tung, khói mù bùng lên.

– Giết. Giết quân cướp nước!

Trịnh Bá Đanh hô to. Hà Đình Đặng, Hoàng Đình cùng năm sáu chục nghĩa sỹ hét vang.

– Giết, giết giặc Tây!

Bọn giặc sau tiếng mìn nổ hoảng loạn, lại thấy tiếng la hét. Trương Đen bị thương ở chân nhảy phốc lên ngựa. Borítx cùng mấy vệ sỹ đứng phía xa, thấy vậy quát to:

– Đại úy Đen, không được chạy. Xông lên, xông lên!

Trương Đen cùng đám lính bị viên đại tá Borítx vung tay chặn đường, đành quay lại. Hai bên giáp mặt giữa chằm cỏ rôm lầy thụt. Đạn súng tây súng ta nổ đoàng đoàng. Dao, kiếm, giáo, mác, mã tấu va chát chát.

Đại úy thám báo gìa nghề Trương Đen thấy khó thắng bại, lại là địa hình túi cụt, nên ghé sát Borítx, nói bằng tiếng Pháp.

– Ngài đại tá. Ngài hãy nghe tôi, lui về ngã ba đường phủ tổng chờ quân ứng cứu.

Borítx hò hét đám lê dương khố đỏ đặt súng máy bắn tới tấp vào đầm Rôm mặc cho đạn súng trúng bên nào, rồi quay đầu ngựa cùng hai mươi vệ sỹ chạy tháo ra gò Bằng giữa lòng chảo Đại Lịch nơi trung tá Ben đã dựng trại

Quân Borítx gặp may. Cánh Bre ăng ghe gặp đội nghĩa binh của lãnh Năm. Hai bên giao chiến tới mấy chục phút, đội Nghĩa binh hy sinh ba bốn người, Lãnh Năm ra lệnh rút lên rừng. Breăngghe đốc đám lính xốc thẳng vào Đại Lịch, đã thấy cờ Pháp bay bên sườn gò.

Trận đầm Rôm đại binh Pháp bị thiệt hại nặng nề. Đại úy Tây Breăngghe, trung úy do thám Bình trâu, mấy lính lê dương, cùng năm sáu chục khố  đỏ, khố xanh, lệ binh. Bọn bị thương ôm đầu cõng nhau chạy theo chủ tướng về tổng phủ. Thấy quân Pháp rút chạy, dân bản, dân binh và chiến binh còn lại tiếp cận đầm lầy. Thương cho anh em Tổng Khảm Trịnh Bá Đanh và Trịnh Bá Hoàn hy sinh tại chỗ. Nghĩa binh Cần Vương hao hụt quá nửa đội quân.([1])

Nhận thấy thế giặc quá mạnh, lại ba mũi tiến quân do Pháp chỉ huy giáp công đánh vào Đại Lịch, súng đạn áp đảo vũ khí thô sơ của chiến binh và dân binh. Phó Đề đốc Vương Văn Doãn và lãnh binh Phạm Đình Tế buộc phải để ngỏ phủ tổng, tạm rút lên đồn Lũng Gà, bảo toàn lực lượng.

Chiếm được phủ tổng Đại Lịch. Quân Pháp tuy thắng nhưng không dám trụ lại. Ngay tối hôm đó Borítx chia làm hai cánh. Một cánh do trung tá Ben chỉ huy tiến vào Thượng Bằng La. Cánh chính Borítx đích thân, vượt đèo Mỵ tiến vào Ba Khe đánh úp đồn Đèo Ách của Nghĩa binh. Trại binh Đèo Ách mất cảnh giác, lại bị tập hậu vào gần súng nên Borítx chiếm được một cách dễ dàng. Tướng quân Đề Kiều khi đó đang ở trong Bản doanh Mường Lò nghe tin thế giặc như bão nên tăng cường quân binh ra giữ trại Đồng Khê hy vọng kìm chân giặc để tạo thời gian phòng thủ vững chắc trận địa “cửa” Ngòi Thia. Được tin cấp báo tổng phủ Đại Lịch bị quân Pháp chọc thủng, nghĩa binh đã rút lên Lũng Gà. Thấy trại binh Đèo Ách, Đồng Khê khó giữ, Thủ lĩnh Tướng công Nguyễn Quang Bích quyết định rời Bản doanh từ Pu Chạng (Đồi Ông Voi) vào thung lũng Pú Chạng (Núi ông Voi) – Nậm Tộc. Lại điều Bố chánh Nguyễn Văn Giáp, ra chỉ huy trấn giữ cửa Ngòi Thia. Đề đốc Hoàng Văn Thúy, Phó Đề đốc Vương Văn Doãn cùng bộ tướng rút cả về Nậm Tộc chân núi Voi giáp hai bản Nghĩa Sơn, Phúc Sơn.

Nghe tin phủ tổng, tổng Đại Lịch bị quân Pháp chiếm đóng rồi hạ trại khố xanh ở Khe Kè, quân binh Lãnh Tế rút lên Lũng Gà củng cố lực lượng. Tướng quân Vương Văn Doãn lại được Thủ lĩnh Tướng công điều vào Mường Lò. Đề đốc Hoàng Đình Cương sốt ruột gọi đốc binh Lý hữu Kim và Đặng Phúc Thành đến bàn luận.

– Hai tướng binh. Các anh là người Mán, thấu hiểu vùng đất. Ta có ý tăng cường hai đốc binh về vùng ngoài. Đặng Phúc Thành trợ lực cho Lãnh Tế đánh chiếm lại phủ tổng Đại Lịch, còn Lý Hữu Kim trợ lực Hoàng Thương Thân chắn cửa Thượng Bằng La.

Đốc binh Đặng Phúc Thành băn khoăn:

– Cửa Tây, tuy chưa chạm trán với Pháp, nhưng chúng đã dòm ngó, hai tướng binh đi, sợ rằng Đào Chinh Lục (Giàng Nủ Kư Nâu) và Bàn Hiệp khó giữ nổi.

Đề đốc:

– Biết thế, nhưng ta còn ở lại đây. Các anh cứ yên tâm mà đi.

Ngày hôm sau Đặng Phúc Thành đã cùng lãnh Tế, lãnh Năm, Hà Đình Đặng bàn bạc việc “nhổ” trại Khe Kè và lập ngay doanh trại quân binh Đại Lịch tại chỗ để án ngữ ba trục đường liên thông: Vân Hội, Mường Hồng, Thu Cúc.

Chập choạng tối, Hà Đình Đặng và Đặng Phúc Thành ăn vận bộ quần áo khố xanh lấy được trong trận đầm Rôm, đi thẳng đến trại dã chiến Khe Kè. Tên lính gác nâng ngọn súng hỏi.

– Các anh người quân nào?

– Hai đứa tôi đánh nhau với quân phiến hai hôm trước, bị lạc đường, bây giờ mới tìm được quân ta.

– Thế trại trưởng ở đây là ai, có biết không?

Đặng Phúc Thành đang lúng túng trả lời thì Hà Đình Đặng rút dao găm dí vào ngực tên gác. Vừa lúc đó tốp lính đi ăn cơm về thấy vậy la toáng lên. Tình thế nguy cấp, Hà Đình Đặng rút chốt lựu đạn ném thẳng vào đám đông. Một tiếng nổ long trời. Lãnh Năm phục sẵn ngoài cổng trại hô to:

– Bắt sống, bắt sống bọn lính trại.

Hà Đình Đặng và Đặng Phúc Thành dùng võ dân tộc đánh tới tấp. Ngoài mấy lính chết do lựu đạn, số còn lại có đến chín mười tên khố xanh đều bị bắt sống.

Lãnh binh Phạm Đình Tế ra lệnh lập quân binh tạm thời giao cho đốc binh Hà Đình Đặng làm trại trưởng. Đám lính khố xanh bị tước hết vũ khí chỉ còn bộ quần áo, tay bị trói quặt ra sau. Hà Đình Đặng sai ba chiến binh áp giải ra Vân Hội, cắt dây trói, buộc chúng phải về quê làm ăn hứa không đi đánh thuê cho người Pháp.

Cũng ngay đêm hôm đó Phạm Đình Tế và Đặng Phúc Thành cho người thăm dò, được biết trại lính dã chiến của quân Pháp ra Đèo Ách chỉ có dăm bẩy tên lính khố xanh, còn đại quân đã kéo vào Đồng Khê. Lãnh Tế chỉ huy, cử Đặng Phúc Thành và hai nghĩa binh Thổ, Mán bí mật bất ngờ đột nhập vào cửa, khống chế tên gác, dùng võ Mán khóa tay bọn lính, thu súng đạn rồi đốt trại. Mấy tù binh được đưa về đồn Lũng Gà, giải thích cặn kẽ, cả mấy khố xanh nhận lời đi theo quân binh lập công chuộc tội. Trong số bọn lính bị bắt có một tên khai là họ Hà, dân tộc Mường ở Phù Yên, nhà nghèo mà đi đánh thuê chưa lần nào bắt giết đánh đập người dân. Biết đốc binh Hà Đình Đặng cùng họ, anh ta lấy làm hối hận nguyện xin làm em, Đốc Đặng chấp nhận và nói:

– Nếu chú thật lòng, tôi sẽ giao việc, chú chuộc được tội, mới là anh em.

Người lính có tên là Hà Văn Ban chắp tay như lạy tạ,

Sau trận phá trại Khe Kè, Hà Đình Đặng được lãnh binh Phạm Đình Tế cử làm phó đồn binh Đại Lịch. Năm đó đốc Đặng sinh con gái đặt tên là Hà Thị Chiện. Theo tập tục người Thổ địa phương, từ đây đốc binh Đặng được Lãnh Tế, Lãnh Năm và quân binh, dân làng Đại Lịch gọi thân mật là ông Phó Chiện([2])

Chỉ trong hai đêm một ngày quân nghĩa sỹ tổng Đại Lịch phá tan hai trại tạm trú của quân Pháp ở Khe Kè và Đèo Ách rồi nhanh chóng rút về khu căn cứ Lũng Gà.

Biết rõ quân Pháp sẽ đánh vào Thượng Bằng La nơi trại binh của Hoàng Thương Thân, Phạm Đình Tế cho Đặng Phúc Thành cùng hai mươi tay võ sỹ có súng kíp, giáo mác đi kèm, cấp tốc đến thẳng thung lũng Tam Sơn (thung lũng ba ngọn núi) nơi  Hoàng Thương Thân đặt Bản doanh ([3])

Trận Tam Sơn thật kịch chiến.

Kẻ dẫn đường cho đội quân khố đỏ khố xanh của trung tá Ben không thuộc địa hình Thượng Bằng La nên kế hoạch đánh úp lũng Tam Sơn bị lệch sang Lũng Dê (nơi dân bản rào để nuôi dê). Chỉ thấy trại gia súc, không gặp chiến binh, Ben tức khí rút súng bắn chết kẻ dẫn đường tại chỗ. Nghe tiếng súng, quân binh Thương Thân và Lý Hữu Kim bao vây hai đầu đường độc đạo. Quân Pháp cố thủ không ra hàng. Ngày thứ tư, hết lương thảo. Đặng Phúc Thành cho đội võ Mán nửa đêm xông thẳng vào trại đánh tay vo từ trong ra. Thương Thân, Lý Hữu Kim cho quân binh đánh ập vào. Trung tá Ben bị chém vào tay, được các vệ sỹ đẩy lên ngựa, mở đường máu chạy thoát ra đường Thu Cúc. Xác quân lính khố đỏ, khố xanh nằm ngổn ngang nơi Lũng Dê, số bị thương đều xin tha chết. Đốc binh Thương Thân cho mời già làng đến cảm ơn hai tướng binh người Mán và tiễn họ trở lại Mường Lò.

Sau những thất bại liên tiếp ở phủ tổng, tổng Đại Lịch, dù là các Trại binh dã chiến tạm thời theo phương sách đánh chiếm “cắm chốt”. Nhưng các chốt cắm đều bị nghĩa binh Cần Vương nhổ bật. Tổng Đại Lịch có đến ba trại khố xanh khố đỏ bị xóa. Quân lính chết, bị thương, rồi đầu hàng có đến trăm đứa. Sự hoang mang, rã đám tràn lan trong đạo binh. Tướng Gia mông thỉnh thị cấp trên rồi chỉ định cho đại tá Bo rítx lập đồn Ngòi Nhì thật vững chân để củng cố lực lượng, đánh những trận quyết định vào lòng chảo Mường Lò.

Toàn bộ tổng Đại Lịch từ Thượng Bằng La, Đại Lịch, ra đến Hạ Bằng La không có quân Pháp đóng chốt ngoại trừ thành phủ Trấn Yên và Vân Hội, miền Tây là Ngòi Nhì.

Chánh tổng Tổng Đại Lịch Hoàng Hữu mừng lắm, ông cho khao dân binh hai ngày đêm. Lãnh binh Phạm Đình Tế, lãnh binh Phạm Đình Thọ, các đốc binh Thương Thân, Hà Đình Đặng, Hoàng Đình được công kênh reo hò. Chánh tổng cũng không quên ca ngợi và gửi bạc trắng đến tướng quân Vương Văn Doãn, các đốc binh Lý Hữu Kim, Đặng Phúc Thành. Chánh tổng còn gửi thư cảm tạ Thủ lĩnh Tướng công Nguyễn Quang Bích cùng Bộ tướng, đã vì quê hương Tổng Đại Lịch mà chịu khổ cực nằm gai nếm cực.

Một chiều, Chánh tổng tổng Phù Nham Đào Ngô Dụng bất ngờ đến Gò Lim tổng phủ Đại Lịch chia vui với Chánh tổng vùng ngoài. “Trợ lý” tự nhận của Đào Ngô Dụng là Nghiêm Thái Báo nửa đùa nửa thật, nói bâng quơ.

– Người Pháp sẽ lấy lại các tổng cho mà xem!

Hoàng Hữu không để tâm, nên buột miệng:

– Phù Nham, Sơn A, Hạnh Sơn, chứ Pháp mà vào tổng Đại Lịch thì đồn binh Lũng Gà của Lãnh Năm, Lãnh Tế tổng tôi sẽ không cho chúng chạy thoát.

– Bằng cách nào ông Chánh, ông cho Phù Nham kinh nghiệm?

– Thì đấy. Quân binh dân binh tổng tôi dăng đồn suốt từ Thượng ra Hạ Bằng La. Lại nhiều chỉ huy giỏi như Đốc Đặng, Đốc Kim, Đốc Thành, Đội Đình, Đốc Thân, ấy là chưa kể Tướng quân Vương Văn Doãn nằm vùng ở tổng suốt mấy tháng trời.

– Các ngài ấy bây giờ ở đâu rồi ông?

– Ờ! Việc binh mà. Vương Văn Doãn vào Bản doanh, Lý Hữu Kim, Đặng Phúc Thành trở lại Nậm Mười để cùng Hoàng Đình Cương canh cửa miền Tây…

Chánh tổng Hữu nói một mạch, rành rọt, rõ ràng; làm cho tổng trưởng Phù Nham Đào Ngô Dụng há mồm nghe; còn Nghiêm Thái Báo thì cứ thích thú hỏi thêm, hỏi tường tận về các chỉ huy nghĩa quân, về cách đánh du kích, cả về cá tính, kiểu đi lại của những lãnh binh, đốc binh gan dạ đánh Pháp.

Bất chợt Thái Báo thở dài.

– Đánh người Pháp chỉ là gãi ngứa thôi, mà họ gợi ý cho chức cho tiền, không nhận, lại còn gửi lời thách thức. Dại dột!

– Ai, ai? Tôi mà biết ông nào nhận lời với thằng Tây thì cứ chết. Hoàng Hữu sẵng giọng

Nghiêm Thái Báo giơ ngang bàn tay.

– Ấy, ấy! Đấy là nói về ông Thủ lĩnh Nguyễn Quang Bích, đang ở Bản doanh Pú Chạng kia kìa. Hì hì!

Đến lúc này Đào Ngô Dụng mới leo theo “trợ lý tự nhận”:

– Thái Báo nó khôn đấy ông Chánh ạ, nên nó hợp với tính tôi. Gì thì gì, no thân ấm cật dậm giật cái đã! Hà hà! Thôi nhé, chào ông Tổng chánh Đại Lịch.

Khách ra khỏi cổng. Chánh Hữu nhìn theo lầm bẩm.

– Mẹ cái đám quân ăn ở hai mặt!

Chánh tổng Hoàng Hữu bước vào nhà thì Phạm Đình Tế cũng vừa đến.

– Cụ Chánh. Nghe nói quân Pháp chuẩn bị đánh lớn vào Mường Lò, Thủ lĩnh đã di chuyển, cụ cho chúng tôi vào Pú Chạng xem hư thực thế nào và thỉnh thị Tướng công.

Chánh tổng Hữu:

– Ai đi cùng Lãnh binh?

– Dạ. Lãnh Năm và đốc Đặng!

– Ai ở lại canh phòng?

– Việc đồn binh, giao cho đội Hoàng Đình, trong thì Thương Thân, ngoài đã có tướng quân Lê Văn Nghìn và Trần Đình đang ở Vần Dọc. Với lại, đi đường rừng cũng ít ngày. Mọi sự nhờ cụ Chánh và dân binh.

Chánh tổng gật đầu.

Chập tối hôm đó. Trời sấm chớp, đổ trận mưa rào. Ba lãnh binh Đại Lịch cùng hai hậu vệ cải trang thành người mua trâu ngựa chùm áo tơi đi vào miền trong.

Đồi Pú Chạng đây, Bản doanh Thủ lĩnh Tướng công mà sao chỉ có vài ba lính dõng canh cổng. Lãnh Tế hiểu rõ sự tình. Cả nhóm đi tiếp. Hà Đình Đặng nói tiếng Thái với một thanh niên.

– Đây là đâu?

Chàng trai người Thái dáng lanh lợi nói:

– Đây là núi Voi (Pú Chạng). Đi ra Thu Cúc cũng được, đi vào Tú Lệ cũng được, đi lên Trạm Táu cũng được.

Đốc Đặng lại hỏi.

– Tớ có nghe nói chân núi Voi được canh giữ cẩn thận lắm, ta vào thử xem.

– Ấy ấy. Chúng “cháu” còn không được đến, ở đấy có quan mới về.

– Thế à. Chú cố giúp tớ. Có bạc trắng trả công chú đây này. Nói thật, chúng tớ được “quan” gọi vào gặp nhưng không biết đường thôi.

– Bạc trắng cháu cũng chả lấy. Nhưng cháu nhờ người em họ đưa đường cho, cháu hay ra vào thung lũng Nậm Tộc.

Trưa hôm đó là lần thứ hai Lãnh Tế, Lãnh Năm, được tiếp kiến vị Thủ lĩnh Tướng công Quân vụ Đại thần Nguyễn Quang Bích, nhận thấy so với tháng trước Thủ lĩnh đến Đại Lịch phủ tổng kiểm tra đồn binh. Ngài gầy hơn, đôi mắt hõm sâu hơn mà như vẫn tỉnh táo, nụ cười hiền lành luôn khép trên khuôn mặt mỗi khi gặp tướng sỹ quân binh. Vị Đại thần Triều đình nhà Nguyễn mà áo sờn nâu tóc đốm bạc nơi rừng núi thế này ư? Cả lãnh binh Phạm Đình Tế, lãnh binh Phạm Đình Thọ, và đốc binh Hà Đình Đặng thấy xót xa, thương cảm trong lòng.

Phó Đề đốc Vương Văn Doãn có lời với Thủ lĩnh:

– Thưa Tướng công. Hai tháng nay quân Bo rítx không vào được Nghĩa Lộ, một phần nhờ dân binh và các tướng quân Lê Văn Nghìn, Lãnh Tế, Lãnh Năm, Thương Thân đấy ạ.

Phạm Đình Tế vội quỳ xuống khoát vòng tay.

– Thưa quan Hiệp thống Tướng công. Có được như thế là nhờ Tướng công và Bộ tướng Cần Vương. Thưa quan.

Nguyễn Quang Bích sai Bố chánh Nguyễn Văn Giáp đỡ Tế đứng dậy, đưa bàn tay gầy guộc ra ngang mặt nhẹ nhàng nói.

– Công đức của Đức Vua anh minh Hàm Nghi và Đại thần chủ chiến Tôn Thất Thuyết, chứ ta và Bộ tướng cũng chỉ như các lãnh binh mà thôi.

Nói rồi Thủ lĩnh bảo Đề đốc Hoàng Văn Thúy tiếp cơm các lãnh binh tổng Đại Lịch chu đáo. Thủ lĩnh nói thêm với Bố chánh và Đề đốc Kiều.

– Người dân tộc thiểu số như các tướng binh đây, như Đốc Kim, Đốc Thân, như Giàng Nủ Kư Nâu, rồi Đốc Thành, Bàn Hiệp, Cầm Văn Thanh… thì giặc Pháp có vào được thì cũng sẽ phải nằm lại đất Rừng Già Tây Bắc mà thôi.

Bố chánh Nguyễn Văn Giáp, Đề Kiều Hoàng Văn Thúy, Phó Đề đốc Vương Văn Doãn hiểu thâm ý sâu xa của Đại thần Hiệp thống.

Lãnh Tế, lãnh Năm, Hà Đình Đặng cáo từ bữa cơm Bản doanh, theo chân thanh niên Cầm Văn Dón, liên lạc Nậm Tộc, rời thung lũng Pu Chạng nơi có đội cận vệ của đội binh Lả Xanh, canh giữ nghiêm ngặt.

Đại tá Borítx đã lập xong trại binh ở Cửa Nhì. Trương Đen muốn thăm dò quan Pháp nên tâng bốc:

– Dân bản địa gọi là Cửa Nhì vì nó thông với phủ Trấn Yên. Nay mai ta có dinh công sứ ở An Bái thì có nghĩa nó thông suốt với bản dinh Đại Pháp ở Tây Bắc đấy.

Bo rítx cười hài hước:

– Thế cửa nhất ở rừng núi Lai Châu xuống à?

Đại úy Đen lúng túng, nhưng khá nhanh trí:

– Thưa ngài. Cửa nhất không theo đường bộ, mà đường không, từ trên trời xuống.

Bo rítx không nói. Bỗng quay lại:

– Ngài đại úy. T90 của ngài đến đâu rồi?

– Thưa đại tá. Đất lạ, dân thổ, nên đang khâu nối.

– Thổ dân quan trọng hơn ngài nghĩ đấy. Ngài đại úy!

Trương Đen biết mình nói hớ, coi chừng cái lon thiếu tá tình báo lại do chính Borítx, một sỹ quan Tây thân cận, cắt bỏ. Trương Đen đành chép miệng.

– Vâng. Tôi sẽ khôn ngoan hơn. Thưa ngài đại tá.

Ngay trong ngày đại úy Đen bàn với trung úy Quý đất.

– Nghe nói chánh tổng Phù Nham cũng dễ tính, trung úy thử tìm tay chân ông ta là ai, lôi kéo họ.

Quý đất la cà mấy hàng quán, cô hàng quán xinh đẹp có tiếng đánh động.

– Anh có thưởng gì nào?

– Gì cũng được, của chìm, của nổi; tình và tiền, nếu em giúp được anh?

– Em thì chỉ cần mấy sóc trắng (bạc trắng) là được. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã mà anh. Cô hàng lửng lơ nói.

– Thế nhé. Điểm gặp là quán em đây. Nhưng nhớ chỉ có hai người. Hai người, anh và cậu Báo. Quý đất cười.

Không đợi đến ngày hôm sau, mà ngay tối ấy Nguyễn Quý đất và Nghiêm Thái Báo khi gật gù, lúc cười tươi tại quán hàng nước, cô chủ cố ý vắng mặt.

Chỉ ba mươi phút vừa làm quen, vừa nhập tâm Quý đất đã nắm được thông tin bốn tổng vùng Văn Chấn: Đại Lịch, Phù Nham, Sơn A và Hạnh Sơn. Tin tức cũng đến ngay với sỹ quan phòng nhì Trương Đen. Dĩ nhiên Trương Đen đang chờ mề đay thiếu tá nên nhanh chóng gặp Borítx. Nhận tin tức Gia mông chỉ thị: “- Trận tập kích vào Bản doanh quân phiến loạn Cần Vương, chậm nhất là đêm chủ nhật.”

Borítx không hiểu ý Gia mông, ngày “chúa nhật”, binh lính khố đỏ, lê dương bận cầu nguyện tại gia. Tinh thần lính chiến chưa chắc đã sẵn sàng.

Gia mông:

– Đại tá, ngài là tướng trận già nghề mà chậm hiểu. Ngài hãy cho đạo quân đến cầu nguyện đúng giờ chúa nhật tại nhà thờ Nghĩa Lộ!

Borítx giật mình. Đúng là chậm hiểu, nhưng rất khó thực hiện. Borítx chưa kịp thỉnh thị thì Giamông đã rung chuông điện thoại vô tuyến.

– Tôi sẽ tăng cường trung tá Porétsin và hai trăm lính chiến từ Yên Lập, hợp lực với ngài. Được chứ đại tá?

– Rõ!

– Thôi, cứ kế hoạch, mục tiêu cầm cố Bản doanh Pu Chạng. Chúc ngài có đêm chúa nhật sâm banh và gái đẹp tại Mường Lò.

– Vâng. Thưa thiếu tướng.

Borítx nhăn mặt. “Porétsin chưa hiểu địa hình, đường đất nếu không bị vây hãm dọc đường là may!”

Nhưng tướng Borítx nhầm. Tiểu đoàn Po rét sin đã ém sẵn trên trục đường Thu Cúc. Trại binh Hoàng Thương Thân đóng ở lũng Tam Sơn nghe dân bản nói có quân lính đi trong đêm, tắt qua gò đồi Yên Ngựa. Đốc Thương chưa kịp cho thám sát theo dõi thì đạo binh khố xanh khố đỏ do thổ dân Yên Lập đưa đường đã ấp sát bản Trạm Táu. Chiều chủ nhật quân Porét sin bất ngờ đột nhập vào Pu Chạng. Bản doanh Pu Chạng trống không, mấy nghĩa binh canh gác lợi dụng đêm tối chạy thoát. Đạo quân Borítx lại không thấy đâu. Porétsin nghi ngờ quân “Cần Vương” nghĩa binh tạo hiện trường giả để đánh úp nên vội vàng rút lui về bản dưới Trạm Táu.

Borítx thúc quân tiến vào Mường Lò cũng từ chập tối chủ nhật, nhưng đến chân dốc Thái Lão bị dân binh Phù Nham đổ ra đường ngăn chặn. Đá hộc từ đồi hang Thẩm Lé lăn xuống ầm ầm. Cây cối dốc Bồ Hòn nằm ngang dọc đường đi khiến đám ngựa chiến phải hý vang mà chồm qua. Lại có tin đồn tung ra, quân của Bố chánh Nguyễn Văn Giáp và Phó Đề đốc Vương Văn Doãn đã phục sẵn hai bên bờ suối Thia quyết sống chết với tướng giặc Borítx. Tin tức loang ra, mà vẫn không thấy tăm hơi đạo đoàn trung tá Porétsin đâu, cả tướng Borítx và đạo quân hoang mang. Borítx quyết định lui về Ngòi Nhì giữ đồn Cửa Nhì chờ lực lượng từ Trấn Yên vào rồi tính sau.

Thám sát của võ tướng Quang Hoan báo tin.

– Có một đạo quân khố đỏ khố xanh đang lập trại ở bờ suối Hát thung lũng Trạm Táu.

– Tin từ đâu? Cụ thể ra sao. Lãnh Hoan hỏi.

Thám sát.

– Mấy người Mèo đến báo tin như thế.

Nguyễn Quang Hoan cử Cầm Văn Dón và Lả Xanh, hai quân binh hiểu biết nhất thung thổ Trạm Táu Hạ đi điều tra.

– Đích thực là quân Pháp có đến năm ngựa chiến buộc ngoài trại. Lính khố đi lại, đun nấu nhưng không to tiếng. Tình thế nguy cấp, vì từ Trạm Táu Hạ đến Bản doanh Nậm Tộc chỉ vài cây số. Võ tướng gặp Bố chánh xin đánh úp.

Bố chánh Giáp.

– Quân Pháp kẹp ta vào hai mũi. Tướng quân chọn một đội tập kích vào Trạm Táu Hạ, mục tiêu là giết chết bọn tướng Pháp, gọi hàng đám lính khố. Tôi sẽ canh giữ tuyến Ngòi Thia Mường Lò. Đề đốc Kiều đề phòng phía ngòi Nung. Đề Doãn canh phòng Bản doanh. Tướng công mấy đêm nay mất ngủ, mệt nhược; đừng nên tin tức với Ngài.

– Thưa Phó Tướng Công. Tôi sẽ phá quân giặc ngay đêm nay, không kịp để trại Cửa Nhì kịp ứng cứu.

– Hay lắm chúc tướng quân chiến thắng. Bố Chánh vỗ vai khích lệ.

Nguyễn Quang Hoan đem theo mười đội binh bắn tỉa, và một tổ dân binh rất giỏi võ dân tộc do Lả Xanh chỉ huy.

Gà rừng gáy sáng. Thung lũng suối Hát im lìm chỉ có tiếng nước trong rào rào chảy. Đội binh Lả Xanh cho ba dân binh lẻn vào trạm gác. Hai tên lính bị trói gô, nhét giẻ vào mồm. Một dân binh ra quần ngựa, lần lượt cắt đứt dây các bộ yên da. Trại binh vẫn im lặng, chỉ có tiếng ngáy to xen nhau như kéo cưa của đám lính. Vẫn không xác định rõ nơi ngủ của bọn chỉ huy nhưng chắc chắn khá xa đội ngựa.

Lả Xanh thì thầm:

– Quân giặc đông quá, mà ta thì chỉ có mười mấy người, đánh thế nào tướng quân?

– Chỉ còn cách mạo hiểm này. Lãnh Hoan nhìn Lả Xanh. Chú cho mấy dân binh chui vào lấy cắp mươi bộ quần áo, ta đóng giả lính trại trực sẵn bên đàn ngựa. Bọn chỉ huy chạy ra, đâm chém ngay.

– Nhưng nguy hiểm cho tướng quân lắm. Lả Xanh lo lắng.

– Tôi và các tay súng bắn tỉa sẽ bắn tới tấp vào đám lính gây rối loạn, rồi ta rút lên rừng.

– Không được tướng quân ạ.

– Thế còn cách nào? Trời lại sắp sáng rồi?

Lả Xanh trầm ngâm giây lát rồi quyết đáp.

– Lả Xanh và võ binh mặc quần áo khố, trực bên đàn ngựa để diệt bọn chỉ huy. Lả Xanh sẽ cho hai dân binh lấy rơm khô chất đống phía sau trại. Khi lửa cháy, bọn lính đổ xô ra đấy. Tướng quân chỉ huy quân binh bắn tỉa vào đó, lúc nào ngựa chạy tán loạn, ta rút lên rừng cũng chưa muộn.

Lãnh Hoan cười.

– Kế của Lả Xanh được đấy. Còn cách nữa, hay là ta cướp hết đàn ngựa, phi về Mường Lò, bọn chỉ huy chạy ra ta bắn tỉa, rồi rút lui?

Lả Xanh.

– Thật hay. Nhưng cướp ngựa rồi, phải nhiều quân ta đánh giáp mặt mới diệt được bọn người Pháp.

Võ tướng Quang Hoan.

– Thôi thôi. Theo kế Lả Xanh, cho người đi lấy rơm ngay rồi đốt. Lả Xanh nhắn đội binh chú ý, cứ thấy Tây là xông vào chém trước. Khi có ba tiếng súng liên tiếp thì tất cả rút lên rừng. Nhớ đấy.

– Vâng. Vâng ạ.

Mười phút, mười lăm phút, vẫn chưa thấy tín hiệu lấy trộm được quân trang. Lãnh Hoan sốt ruột chưa dám ra lệnh đốt cây rơm. Chỉ đến khi con ngựa vằn, có lẽ ngựa của trung tá chỉ huy, hý ầm ỹ, thì cũng là lúc các chiến binh đóng giả đã đứng áp sát từng con chiến mã. Cây rơm bùng cháy. Lính đồn hô hoán. Súng báo động. Tiếng la quát inh om. Một tên Pháp râu quai nón dáng to cao, trong bộ binh phục, tay lăm lăm súng ngắn bổ xô đến con ngựa vằn. Vằn mã đạp móng bàn đạp xuống mặt đất. Thằng chỉ huy! Lả Xanh chợt nghĩ rồi xô đến. Một nhát dao phát rừng bổ đúng bờ vai tên chỉ huy. Po rét sin kêu rống, tên vệ sỹ người Tây xông lại đạp văng con dao trên tay Lả Xanh. Đội Xanh thúc đầu gối đúng mặt làm tên vệ sỹ ngã nhào, các đội binh Cần Vương mặc áo khố xanh đang vung dao kiếm tới tấp vào lũ giặc.

Sau nhiều tiếng súng chát chúa là ba viên đạn nổ điểm xạ. Đội binh Lả Xanh lợi dụng lúc náo loạn chạy lên rừng. Trời sáng dần. Xác quân lê dương, khố đỏ, khố xanh, có đến mười mấy tên. Đám lính bị thương chúng đưa vào nhà trại. Quá trưa trung tá Porétsin nằm trên cáng thương, ra lệnh cho trại binh Trạm Táu Hạ, dắt ngựa rút theo rừng Thu Cúc, xuôi về Hưng Hóa an tĩnh, chờ đón tháng Nô en trên đất A Nam quái quỷ.

Đội binh có tới năm người bị thương, hai dân binh hi sinh. Lãnh Hoan xin Bố chánh gửi đến mỗi gia đình có người tử trận ba lạng bạc. Đội binh Lả Xanh nói với Lãnh tướng Quang Hoan.

– Sao lúc đấy mình lại cắt hết bộ da yên ngựa nhỉ? Nếu không mình đã cướp được mấy chiến mã làm bọn nó mất đường về.

– Đánh giặc mà, mỗi trận đánh, ta lại có thêm kinh nghiệm và sự dũng cảm.

Võ tướng vỗ vỗ lưng Lả Xanh, cảm thấy yêu quý người chỉ huy Đội binh Khơ Mú địa phương gan dạ, thông hiểu nghệ thuật dùng binh theo kiểu dân tộc thiểu số rừng Tây Bắc.

Đánh đuổi được bọn giặc Tây âm mưu thọc sườn Bản doanh Mường Lò. Bố chánh Nguyễn Văn Giáp và võ tướng Nguyễn Quang Hoan đến ra mắt Thủ lĩnh Tướng công. Hiệp thống Quân vụ nhắc:

– Thế là các tướng quân có cảnh giác và chủ động đánh đuổi chúng. Nhưng lực của ta còn mỏng manh, dân binh các tổng vùng trong Mường Lò chưa được như Đại Lịch. Nếu Pháp cùng một lúc tấn công từ nhiều phía, ta sẽ khó khăn. Các tướng quân bàn xem có kế gì hơn?

Sáng hôm sau, không muốn làm ảnh hưởng đến sức khỏe Hiệp thống, Thủ lĩnh ốm nặng chưa lại sức; Bố chánh Phó Tướng công mời Bộ tướng và các lãnh binh của bốn tổng đến họp bàn.

Hiệp đốc Bố chánh Phó Tướng công trang nghiêm nói:

– Thám sát nằm vùng của ta tin tức về, tướng Brícdlin thống quản miền tây ra lệnh cho tướng Giamông tổng chỉ huy đạo binh sông Thao, là phải bình định xong Tây Bắc trước năm 1890. Đại tá Jemmolanh, đại tá Borítx quyết tâm kiểm soát toàn bộ Văn Chấn trong năm tới. Còn ta, Cần Vương, bình Tây phục quốc là đạo, là tâm để lại cho muôn đời con cháu, các tướng quân đã thủy chung theo Hiệp thống dựng cờ, nay dầu có chết, hãy chết dưới cờ Cần Vương và lưỡi gươm báu của Đức Vua anh minh Hàm Nghi chứ nhất quyết không chịu khuất phục.

Hiệp đốc Nguyễn Văn Giáp nói to, rắn chắc mà thấm thía. Các tướng quân, lãnh binh, đốc binh đứng cả dậy khoanh vòng tay cúi đầu. Ai nấy tưởng như hình bóng Hoàng thượng hiển hiện, sau bộ long bào khăn chít kia là hai vị Đại thần Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Quang Bích túc trực tả hữu Đức Hàm Nghi chủ chiến nơi sơn phòng rừng núi Quảng Trị. Bố chánh đưa hai tay mời ngồi. Nỗi xúc cảm ngập tràn các tướng lĩnh làm cho Hiệp đốc Bố chánh lên cơn ho khan dữ dội khiến thủ túc Trần Ngọc Dư phải vội đỡ ngài xuống tràng kỷ mây tre.

Đề đốc Hoàng Văn Thúy đứng lên:

– Phó Tướng công gian nan song hành cùng Thủ lĩnh mới được Vua tôi tin cậy. Nay ta lo việc lớn, đỡ đần chút nào cho Hiệp thống, Hiệp đốc cũng là tôi trung hiếu quốc vậy.

Nguyễn Văn Giáp qua cơn ho khan, bắt đầu thấy rét run nhưng cố nén, khẽ mỉm cười:

– Nào, ta bàn kỹ mấy việc lớn sau đây:

Bản doanh: Dinh chỉ huy chếch trên sườn núi cận bản Nghĩa Sơn của người Khơ Mú. Ba mặt có đường núi che chở, được các đồn trấn giữ, có đường thông sang Thượng Bằng La và Tú Lệ. Địa thế hiểm trở, thuận lợi cho việc hậu cần([4]). Thủ lĩnh Tướng công đã y thuận!

Kinh nghiệm dân binh ở  Cẩm Khê rất hay rất tốt, mà sao chưa làm rộng khắp Văn Chấn, Mường Lò? Đề đốc Kiều nghĩ thêm về binh pháp này.

Cửa suối Thia, cửa suối Nung, cửa Trạm Táu Hạ, đều là then cài chân chốt Bản doanh, Tôi và các tướng quân Lãnh Hoan, Đề Doan, Đề Cương phải đánh lật quân Pháp khi chúng tới các cửa này.

Lại một cơn ho kéo đến. Hiệp đốc Bố chánh ôm ngực gắng gượng nói tiếp:

– Các lãnh binh, đốc binh địa phương. Đức Kim Thượng  đã biết đến tên tuổi và quê hương các ngài. Thủ lĩnh, Hiệp thống Tướng công và Bộ tướng đạo binh Cần Vương rất cần các ngài – những tướng binh dân tộc Tây Bắc. Các ngài hãy cùng dân binh làng bản, nhất quyết mà đánh Tây, đánh bằng mọi kiểu cách, sao cho giết được giặc, đuổi được giặc Pháp ra khỏi làng quê nước Nam mình…

Nguyễn Văn Giáp thấy tức tức trong ngực. Ngài ra hiệu kết thúc cuộc họp.Việc bàn kỹ hơn, sẽ do từng tướng quân phụ trách, tiếp tục lo liệu.

Đề đốc Kiều đến tổng Sơn A. Chánh tổng tiếp đón và hứa sẽ cùng Đề đốc Hoàng Đình Cương lập ngay các đội dân binh Thái ở Ao Luông, dân binh theo đạo thiên chúa ở Bản Hẻo, dân binh người Dao ở Gia Hội; mở đường thông với trại binh của Đặng Phúc Thành, Bàn Hiệp. Riêng đốc binh Lý Hữu Kim được cử trở lại tổng Đại Lịch, dân vận người Dao vùng ngoài, cùng Hà Đình Đặng kìm chân quân Pháp, làm chậm đường tiến vào Mường Lò của chúng.

Phó Đề đốc Vương Văn Doãn xuống tổng Hạnh Sơn. Chỉ trong hai tuần đã lập được các đội dân binh Hạnh Sơn, Trạm Táu Hạ, Phúc Sơn, Nghĩa Sơn, Nghĩa An, Pu Chạng; cùng đội cận vệ Bản doanh của Đào Xuân Thái và Lả Xanh, bảo vệ an toàn thủ phủ đạo binh và chủ tướng Thủ lĩnh.

Chánh tổng Phù Nham Đào Ngô Dụng chủ động tìm đến Đề Kiều. Hai ông vui vẻ nâng chén rượu mừng. Đoạn Chánh tổng phàn nàn rằng dân binh trong tổng bận việc lo chuẩn bị làm đồng nên xin lùi lại, tết xong, sang xuân sẽ bàn với các trưởng bản.

Đề Kiều trợn mắt.

– Hả? Việc binh đao mà lại đợi sang xuân à? Tết nhất xong lại lí do rượu thịt hội hè. Không được! Ông biết tôi từng là Chánh tổng Cẩm Khê trước ông mấy năm rồi đấy.

Đề đốc Kiều đỏ mặt, nói nhẹ mà như quát. Đào Ngô Dụng, miệng ú ớ, lòng dạ run hơn gặp gió mùa đông bắc. Chỉ riêng trợ lý tự nhận Nghiêm Thái Báo thì ngẫm trong bụng: “ Lão Chánh chịu trận, việc  mình mình cứ làm, làm trong đầu, ai biết?”

Nhờ có thuốc lá rừng của bà lang Khơ Mú do Lả Xanh nhờ giúp, sức khỏe của Bố chánh hồi phục dần. Bệnh ho khan đã dứt hẳn. Ngài vui lắm. Những ngày tháng chạp Đinh Hợi, thủ túc Trần Ngọc Dư nhờ Lả Xanh đưa đến tận nhà bà lang vườn “sêu” tết theo tục người Kinh

– Ông bà đã làm phúc mà cứu được cho cả Thủ lĩnh, cả Tướng quân tôi, đã qua cơn bạo bệnh sốt rét rừng, tôi thay lời Thủ lĩnh mà đến giã ơn bà.

– Ấy ấy! Bà lang cười móm mém. “Nó” như thằng cháu Lả Xanh nhà “tao” thôi mà, lấy thuốc làm phúc, không nhận bạc đâu. Không nhận đâu.

Bà lang một mực từ chối. Thủ túc khoanh tay cúi đầu cảm ơn.

Mồng năm tết Mậu Tý, đích thân Bố chánh thay mặt Tướng công, đến nhà bà lang chúc tết. Biết tin vui cả bản Khơ Mú mổ hẳn một con lợn đón Hiệp đốc và mừng cho Lả Xanh “nên người”.

Mùa xuân xứ sở người Thái. Cả mường cả bản đi lễ hội hoa ban Thẩm lé, rồi lễ hội Thẩm Han. Một nơi, tưởng nhớ đôi trai gái Thái yêu nhau, không lấy được nhau Tạo bản ghen tị, đày chàng lên núi, cô gái đi theo người yêu trên núi đá Thẩm Lé, đi đến kiệt sức, ngã gục bên một gốc cây. Gốc cây đó, mùa xuân năm sau bỗng nảy ra những cánh hoa trắng mỏng, nụ hoa phớt tím hồng. Dân bản đồ rằng cánh hoa mỏng trắng kia là hình tấm áo cỏm, nụ hoa phớt hồng là đôi má hay cặp môi nàng, chấm nụ mầu tím dù mưa dông gió giật, vẫn không bao giờ phai. Đó là mối tình thủy chung của đôi trai gái độ trăng tròn. Còn lễ hội Thẩm Han hay lễ hội động nàng Han, là để tướng nhớ công lao của người con gái Mường vùng đất Ao Luông, chấp nhận sống độc thân, tự mình cầm gươm, quy tụ dân bản đánh giặc Tần. Bên nàng có thêm bao người lính tài giỏi, trung thành và dũng cảm. Chỉ đến khi có một gã trai bản, không lấy được nàng, mang lòng thù hận mà bắn lén khi nàng đang cùng bạn gái tắm dưới vực Vằng Phăng. Nàng Han bị thương vào ngực mà vẫn đuổi qua ba quả núi bắt tên sát nhân, cho đến khi nàng ngấm thuốc độc mà ngã xuống. Trước khi chết, nàng Han còn kịp dặn binh tướng trả lại hang động Ko Đúa (nơi nàng mượn đặt Bản doanh) cho dân bản Chiềng La. Thương xót và mang ơn người con gái anh dũng, dân bản Chiềng La đặt tên động Ko Đúa là Thẩm Han (động nàng Han) và làm lễ hội hàng năm để tưởng nhớ.

Vừa đi, Cầm Văn Dón quân binh liên lạc và bảo vệ Bản doanh kể lại hai sự tích ngày xuân trên đất Mường Lò khiến võ tướng Nguyễn quang Hoan vỗ đùi bừng bừng khí uất, còn quan Thủ túc Trần Ngọc Dư thì lại chớp chớp bờ mi.

Câu chuyện đi đường của đội binh Cầm Văn Dón về vùng dân tộc Mường Lò đến với Thủ lĩnh Tướng công. Hiệp thống khẽ vẫy thủ túc lại gần, nói nhẹ:

– Ta ta! Tạo vật hề dĩ ngã vi sinh! Dữ ngã dĩ chứ nhi đoản kỳ trí, dữ ngã dĩ thành nhi bệnh kỳ hình!

(Than ôi! Tạo vật đã sinh ra mình! Cho ta được chí mà không đạt trí, cho ta được danh thì khổ hài hình!)([5])

Thủ túc thấy thương cảm cho vị nghĩa sỹ từng là quan Đại thần Triều đình, nay phải dấn thân vào chốn rừng núi vì nghĩa lớn. Ngài nói ta, mà đang tự tình về mình vậy chăng?

Bước đi vài bước bước, bỗng Hiệp thống ngẩng nhìn Trần Ngọc Dư mỉm cười.

– Mà thôi, ngày xuân, văn nhân thủ túc cho ta cảm tác được chứ?

– Vâng, vâng! Xin mời Hiệp thống Tướng công. Ngọc Dư đáp nhỏ, rồi vội đưa giấy bút cho Ngư Phong Thủ lĩnh, rồi lui ra.

Nhìn khuôn viên tư dinh dưới chân núi, bắt gặp khóm hoa huệ mà cháu gái Mỹ Cẩm từ Cẩm Khê gửi biếu ngày nào, nay đơm bông trắng muốt. Ngư Phong hạ bút: Chờ đến đêm thanh tỏa ngát hương/Chê ngày bụi bặm, nhụy phong sương/Thân ưa đứng thẳng, trời cao vọi/ Một tấm lòng băng không bụi vương. ([6])

Bài thư “Vịnh hoa huệ” vừa tạm xong, Đề đốc Kiều đưa chân mấy vị Chánh tổng, lý trưởng, tạo bản đến chúc tết. Cảm hứng ngày xuân, Hiệp thống Tướng quân Ngư Phong đưa bài thơ ra đọc bên li rượu. Chánh tổng Phù Nham Đào Ngô Dụng vội vã tranh lời, miệng cười cợt:

– Thơ của quan ngài nói về ngài, hay quá!!

Ngư Phong Tướng công lạnh sắc mặt. Thủ túc Trần Ngọc Dư đứng bên vội vã đỡ lời.

– Ông Chánh chưa hiểu Thủ lĩnh tôi rồi, Ấy là bởi ngài mới được nghe câu chuyện về sự tích Hoa Ban, và truyền thuyết Nàng Han của ngay đất Mường này mà cảm tác đấy thôi.

Đào Ngô Dụng:

– Không, không! Thưa Tướng công, dân Tổng không có ý gì, không có ý dám nghĩ về Quan Hiệp thống đâu ạ.

Khách xuân rời hành dinh. Võ tướng Lãnh Hoan ghé tai phó Đề đốc Vương Văn Doãn.

– Ông Chánh Phù Nham nói vậy, là bởi ý hạ tín quỷ quyệt của cái anh “thầy dùi” lúc nào cũng cặp kè bên ông ta.

Vương Văn Doãn vốn già nghề chánh Sơn phòng bản doanh nên khi nghe Lãnh Hoan nhận xét, liền đồng tình.

– Tướng quân. Người xưa nói “Rắn ngoài đường, nó chạy. Rắn trong nhà, nó cắn”. Nghiêm Thái Báo là thế, ông chánh Dụng không khéo bị đớp có ngày.

– Thôi, đấy là chuyện của ông Tổng, còn huynh đệ ta, giữ nhà, phải nhìn từ ngoài cổng. Nguyễn Quang Hoan cười.

Cuối những ngày xuân là gió Lào thổi theo rãnh dãy Hoàng Liên Sơn đổ về Mường Lò Văn Chấn. Không phải heo may, chẳng phải hanh khô, gió lạnh mà khô khốc. Dân địa phương sống chung với gió Lào đã thấy khó chịu, với Đạo binh nghĩa sỹ, chưa thích nghi, quân số ốm đến nửa Đạo.

Đề đốc Hoàng Văn Thúy lo lắng, thỉnh thị ý kiến Bố chánh Hiệp đốc. Tướng quân Nguyễn Văn Giáp chưa thật bình phục, liền bàn.

– Hiệp thống gần đây tâm tư hơn, nhiều đêm ngài thức đến canh bốn canh năm, ta không nên để cho Ngài thêm lo lắng.

– Nếu quân Pháp biết tình hình, chúng đổ quân từ nhiều hướng đánh áp đảo, tướng quân tính sao?

– Khả năng này cũng không thể loại trừ. Bố chánh nói. Tôi và tướng quân cố gắng vậy. Trước mắt Đề đốc làm nhanh đội quân địa phương như ngày Tiên Động ấy. Nếu cần, tăng cường thêm tướng quân Hoàng Đình Cương cho việc tổ chức dân binh luyện tập.

– Thế còn quân binh? Đề Kiều chợt hỏi như có điều gì băn khoăn mà chưa tự làm rõ được.

Hiệp đốc Bố chánh:

– Với khu vực tứ tổng Mường Lò thì ta nắm được, nhưng còn Tây Bắc, địa bàn xa Hành dinh, các tướng quân ít đi đến, các đội binh bị hào lý, chẩu mường, thổ ty, thống lý, tạo bản, rồi cả mo then nữa thao túng giằng kéo, ấy là chưa nói đến người Tây tìm cách xỏ tay vào. Đội binh, quân binh dễ bề nghiêng ngả.

– Hiệp đốc. Ngài nhìn xa trông rộng mà trúng ý tôi vậy. Có tin Tri châu Mường Lay Đèo Văn Trì đang có ý nhận bạc trắng và ra làm cho Pháp. Ngay cả Chánh tổng Đào Ngô Dụng cũng bị kéo vào chiếu bạc và gái. Món này, quân phòng Nhì của Trương Đen giỏi giang lắm đấy.

– Tướng quân Đề đốc. Tôi có ý đi Lai Châu thuyết phục Trì, bàn việc với Đèo Văn Toa ở Phong Thổ, rồi về Sơn La gặp lại Tri châu Mai Sơn Cầm Văn Thanh. Bố Chánh trầm tư.

– Sức khỏe của Tướng quân…

– Không sao tôi đi được mà, phải đi. Đề Cương có ăn thề, Đạo binh ta mới có được các tướng Thổ phủ Bình sông Chảy Nông Đình Tẩn, Nông Đình Tần, rồi Giàng Nủ Knâu, Bàn Hiệp vùng Nậm Mười. Vương Văn Doãn cùng ăn cùng ở nhà dân mới xây dựng được tổng Đại Lịch chân vững như vách núi.

Hai vị Phó Tướng công vỗ vai nhau cười ha hả.

Bất chấp sức khỏe. Hai ngày sau Bố chánh Nguyễn Văn Giáp vẫn cùng trợ thủ Cầm Văn Dón lên ngựa. Đôi song mã ngược Gia Hội, Tú Lệ, Khau Phạ ghé thăm các tướng binh người Mán, người Mèo ở trại binh Nậm Mười, Nậm Khắt vài ngày, rồi dong thằng Mường Lay gặp Đèo Văn Trì.

Vốn đã quy phục Bố chánh, tiếng tăm từ ngày ông làm Tuần phủ Sơn Tây. Đèo Văn Trì ra tận cổng Mường Lay đón. Các thủ lĩnh người dân tộc thiểu số ở các địa phương thường lập cho mình một lãnh địa riêng, cung cách điều hành, tổ chức, ăn ở, bang giao, và cả sử sự nữa, ít ai giống ai. Đèo Văn Trì phá lệ Thái trắng, thắp hương lên bàn thờ gia tiên mà hứa trung thành với đạo binh Cần Vương chống Pháp. Kiểu cách ấy làm cho Phó Tướng công Nguyễn Văn Giáp thầm phục quay sang Cầm Văn Dón cố ý nói rõ ràng:

– Nếu ở Mường Lò từng có Cầm Hánh chỉ huy đánh giặc Cờ Vàng trở thành người anh hùng, thì ở Lai Châu cũng sẽ có Đèo Văn Trì tổ chức đánh giặc Pháp trở nên tăm tiếng!

Đèo Văn Trì biết Dón là cháu ruột tạo bản Viềng Công Cầm Hánh, nên chắp hai tay vái vái cả Bố chánh lẫn trợ thủ. Hiệp đốc đưa người thu tay Trì và trao cho Tri châu Mường Lay thanh gươm mà Hiệp thống Quân vụ đã dâng lên bàn lễ tế cờ ở Tiên Động. Tri châu Đèo Văn Trì vội vã rúm người lại nhận lấy gươm báu. Hiệp đốc nói thêm:

– Gươm này, lẽ ra đãphải trao cho Thủ lĩnh nghĩa quân Phong Thổ Đèo Văn Toa vì ông ấy đã biết gắn kết với dân binh địa phương Mường Lay dựng được tuyến phòng thủ “quân dân binh” từ Than Uyên đến Nam Lao Cai, lại biết phối hợp nhau mà đánh kiểu du kích, diệt nhiều giặc. Ta trao trước cho tri châu là tin ở ngài lắm lắm.

Đèo Văn Trì có lẽ không còn lời nào để tỏ lòng ơn nghĩa Thủ lĩnh binh Vương mà chỉ biết cúi đầu vái lạy.([7])

Giữa năm Hợi (Đinh Hợi 1887), lẽ ra đạo binh Cần Vương vùng Tây Bắc phải được tĩnh tại để củng cố lực lượng. Nhưng người Pháp tính kế áp dụng chiêu trò mới với dân An Nam. Từ Hà Tĩnh lãnh tụ Nghĩa sỹ Phan Đình Phùng nhắn tin đến Đại thần Hiệp thống, đại ý: Nay Phụ chính ở xa (Tôn Thất Thuyết đang bị Pháp cô lập ở Vân Nam). Đức Vua vẫn được các phụ tử bảo đảm nơi Sơn phòng. Thương cho Nguyễn Cao minh chủ Bình Định đã bị người Pháp xử chém, ông chết như một người anh hùng vậy. Toàn quyền Đlam nét xăng đang dùng mưu độc chia để trị”, Hoàng Giáp Tướng công hãy cảnh giác mọi bề!

Lặng nghe tin nhắn truyền miệng của sứ thần miền Trung, nhời nhẽ Phan Đình Phùng đại thần lạc làm sao được? Hiệp thống thốt lên:

– Phan tiên sinh. Lẽ ra Hiệp thống tôi đây đã được đón Tướng quân Phụ triều ở Mường Lò, mà không thành! Là bởi người Pháp đã cố ý cắt đoạn, chia để trị rồi,nói gì đến nghĩa binh với dân binh, dân tộc với dân tộc? Tiên sinh họ Phan nơi Hương Khê, ta cùng nhau dốc lòng phụng mệnh Cần Vương, bài Tây phục quốc, ấy mới là phải đạo với Hùng Vương tiên tổ.

Hiệp thống nói cùng lòng mình mà cảm như đang được nắm tay người bạn cùng chốn quan trường vốn yêu nước kính Vua. Hiệp thống ít nhiều cũng đã thấy nhẹ nhõm, liền giao thủ túc Trần Ngọc Dư thảo lời phúc đáp. Lòng tôi trung tràn ngập nỗi niềm tin yêu Thượng hoàng Chủ chiến – Đức Hàm Nghi.

Trở lại Tư dinh, Hiệp thống hạ mình xuống mặt giường đệm bông lau, vắt tay lên trán mặc cho chòm râu dài thưa tự do giữa khoảng không.

Người Pháp thâm hiểm và độc ác. Phan tiên sinh nói phải rồi. Nào có ai ngờ, đến hai đại Phụ chính Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường cùng dốc lòng cho cuộc bạo động của minh Vương, ấy thế mà Phụ chính Tường bỏ dở đường trường của Đức Vua Hàm Nghi, nghe lời Tây, quay đầu, tìm cách lật ngược Tôn Đại thần? Đến ta, mới đây thôi cũng được người Pháp dụ hàng. Tây Bắc nhiều tộc người tập tục khác biệt, đầu óc cũng khác biệt. Lại thêm hàng hào lý, mua tranh chức tước, ham hố chơi bời, cục bộ lãnh địa, thì làm sao mà tránh hỏi sự lừa phỉnh của người Pháp.

Càng nghĩ, Hiệp thống càng thấy lo ngại cái điều toàn quyền, công sứ, đặt ra: “Chia để trị!, Chia để trị!”

Chưa kịp chợp mắt thì văn thân Trần Ngọc Dư bước vào trình làng, sứ thần của Phan Đình Phùng đã nhận lời ân trao của Đại thần Hiệp thống hứa sẽ chuyển lời trực tiếp đến Phan tiên sinh. Hiệp thống thấy vui, vẫy thủ túc lại gần, thuận miệng, Ngài nói chuyện sử sách những thời Lý, Trần, Lê. Văn thân Dư nhân chủ đề do Hiệp thống khởi xướng mà nói.

– Tướng Công! Triều Tây Sơn, mưu thần Tĩnh phái hầu Ngô Thời Nhậm một văn quan phò tá Nguyễn Huệ – Quang Trung, Đặng Trần Thường nhiệm tấu với Đức Vua xin chức nho sỹ đầu phủ. Tĩnh phái hầu hiểu rõ Thường là người có bụng dạ cơ hội nên khuyên ông ta nên chọn việc khác. Trần Thường đem lòng ghen ghét người mình từng có ý nhờ cậy. Quang Trung mất, Nguyễn Ánh triệt hạ cận thần tôi trung, cho bắt Ngô Thời Nhậm, sai chính Đặng Trần Thường hành xử. Thường mỉa mai đọc một vế đối: “- Ai công hầu, ai khanh tướng; trong thần ai, ai dễ biết ai!” Ngô Thời Nhiệm nhìn thẳng vào mắt Trần Thường mà đáp: “- Thế chiến quốc, thế xuân thu; gặp thời thế, thế thời phải thế”. Thường uất ức mà sai lính đánh thần Tĩnh phái hầu cho đến chết.

Ngư phong Tướng công đứng lên đi đi lại lại trong phòng nhỏ, giọng trầm ấm:

– Đức vua Quang Trung là người Anh hùng, mưu thần Ngô Thời Nhậm xứng đáng là Tĩnh phái hầu của vị Vua Anh hùng ấy.

Thám báo Quý đất dò la từ Nghiêm Thái Báo biết tin Bố chánh Phó tướng công ốm vì sốt rét rừng thì mừng lắm, liền tâu ngay với Trương Đen. Đại úy Đen lên tư phòng đồn Cửa Nhì tìm gặp thượng cấp Binh đoàn.

– Chào “thiếu tá” phòng nhì chiến hữu!

– Chào ngài Borítx. Hy vọng lời của ngài sớm thành hiện thực! Trương Đen tế nhị.

– Ồ. Chỉ trong trận trước mặt này thôi, lon tá của người Việt sẽ không ngoài ai khác.

– Vâng. Thưa đại tá. Tin tức mà tôi khổ công tìm được sau đây sẽ là tốt cho cả ngài, và cả Trương Đen này nữa.

– Ô kê, ô kê!?

– Ta nên mở ngay một trận tập kích vào Nghĩa Lộ, chưa cần tới tướng Giamông phải biết đến. Hì!

– Tôi e rằng khó chắc thắng vì Sơn phòng Mường Lò của “Tuần phủ” Bích vẫn nhiều tay chân thuộc hạ giỏi bao quanh.

– Trương Đen cười hơ hớ.

– Đấy. Chính là chỗ đấy. Thưa ngài đại tá. “Tướng” số một của “Tuần phủ Bích” là Nguyễn Văn Giáp đang ốm thập tử nhất sinh, “bọn’ Đề Kiều, Đề Doãn, Đề Cương thì đang đi các tổng vận động lập dân binh. Chỉ còn… chỉ còn Lãnh Hoan là hơi đáng ngại. Thời cơ đến rồi, thưa đại tá Bo!?

– Nếu đúng như đại úy nói thì đáng lo gì. Bo rítx đưa mạnh bàn tay về phía trước. Ta chọc thằng đến bản doanh quân phiến loạn Triều đình rồi rút nhanh. Ít ra cũng bắt sống “Tướng” Bố chánh khiến “Tuần phủ” và binh quân nó rối loạn.

Hai tên chỉ huy “Đạo binh sông Hồng”, một xâm lăng, một phản quốc; vỗ đùi nhau cười khằng khặc. Bất chợt Borítx nghiêm trang hỏi Trương Đen.

– Đại úy, trận này ngài cùng với tôi được chứ?

Trưởng phòng nhì giật mình nhớ đến lần chết hụt trận Tuần Quán, mỉm cười chống chế.

– Sẵn sàng, thưa đại tá. Nhưng việc “đi” của tôi phải được tướng Giamông đồng ý, nên… nên tôi cử trung úy Quý đất “cây số một” của T90, và một điệp viên nằm vùng đầy khôn ngoan. Thưa ngài Bo!

Nói đến Quý đất, Borítx đã biết tên tuổi, mưu lược chiến tích do thám và tham vọng lên lon. Nhưng còn một điệp viên của ta nằm vùng…

– Đại úy, đấy cũng là chiến công của ngài chăng, ngài cho tôi biết rõ về con người này?

– Đó là Nghiêm Thái Báo. Tên thật là Nguyễn Thái, anh ta giỏi viết, được chánh tổng Đào Ngô Dụng tin dùng, xếp của Dụng là Vũ Lệch cao tay cổ xúy. Nghiêm Thái Báo đã mấy lần ra vào Bản doanh phiến quân, biết rõ cả dung nhan, cá tính, sở thích, và nhất là bản lĩnh của từng chỉ huy quân tướng Thủ lĩnh Tuần phủ!

– Chà, chà. Đại úy Đen, ngài hãy “nắm” ngay con người này. Ngài thống quản miền tây tướng Bricdlin sẽ không tiếc gì cho con người này: chức tước, đất đai, gái đẹp, cả dạo chơi Pa ri hoa lệ nữa.

– Cám ơn ngài đại tá cánh trưởng miền tây.

Chỉ nửa ngày, thiếu tá quan ba Bô đanh được Borítx gọi đến giao nhiệm vụ lãnh hội tiểu đoàn tinh nhuệ của cánh quân miền Tây, được Quý đất và Nghiêm Thái Báo đưa đường, nhận diện đối phương, đợi lúc các nhà sàn làng Nhì tắt đèn đi ngủ bí mật xuất phát, ém mình trên đất Phù Nham chờ lệnh tập kích đồi Pú Lo Nghĩa Lộ nơi Bản doanh của Phó Tướng công Bố chánh Nguyễn Văn Giáp.

Cánh quân của Bôđanh được đặt biệt danh “Quạ đen”.

Đêm tối, phải bí mật, lại không có sự chuẩn bị kỹ lượng nên “Quạ đen” tập hợp một số lê dương, khố đỏ, khố xanh, đội dõng tổng tại một đồi đất đầy cây nhãn. Mùa này tháng mười, nhãn Văn Chấn ngọt mọng. Mấy trai bản đến bẻ cành nhãn quà cho các bạn gái, bỗng thấy quân lính lố nhố giữa các lùm cây. Một trai bản gặp Lò Văn Ún, dõng binh canh điếm Phù Nham.

– Ún à. Mày sắp đi đâu mà súng ống thế?

– Đi đánh Pú Lo? Đánh quân phiến loạn Pú Lo. Chánh tổng “bảo” thế!

Trai bản giật thót. “Pú Lo là nơi có người của ông Hoàng Văn Thúy (Đề Kiều) rồi. Nghĩ vội, chàng trai tách khỏi đám bạn chạy đến nhà tạo bản. Trưởng bản Cầm Văn Xay cho con trai phóng ngựa đến Pú Lo (Núi Lò).

Bố chánh Nguyễn Văn Giáp giao lệnh cho Vương Văn Doãn. Đề Doãn xin được tập kích thằng vào trại tập trung “Đồi nhãn” phá giặc ngay từ bên trong.

– Không thể kịp đâu Đề đốc. Ngài hãy lấy suối Thia làm tuyến chặn, tôi lấy ngã ba Phắc Kết làm tuyến hai. Tôi sẽ trực tiếp chỉ huy tại đây đề phòng quân Pháp đổ bộ vào Nậm Tộc. Nói đoạn Bố chánh sai liên lạc đi gấp vào gặp Lãnh Hoan.

Đề phó Vương Văn Doãn chắp ốp bàn tay như lời chào ra trận, rồi nhảy lên ngựa. Dưới chân Pú Lo, đại đội hỗn hợp của quân binh và dân binh Mường Lò do Nông Văn Quang và Lý Hữu Kim chỉ huy, cũng đang tiến ra suối Thia.

Tất cả, như chỉ còn chờ thấy quân Pháp lố nhố bước xuống bờ bên kia suối là Vương Văn Doãn ra lệnh chuẩn bị nổ súng và giáp trận. Phía tuyến hai Phắc Kết Bố chánh Nguyễn Văn Giáp cũng chỉ chờ chín viên đạn của ba loạt tiểu liên điểm xạ là tướng quân dân binh sẵn sàng tiếp ứng.

Trời càng về khuya.

Tiếng gà gáy hai, gáy ba.

Bình minh hướng đông cánh đồng Mường Lò trải rộng, lên dần.

Bờ suối Thia im ắng.

Thám sát của Vương Văn Doãn trở lại chính thức báo cáo, quân Pháp ở trại binh Cửa Nhì vẫn nguyên vị trí cũ, chưa thấy dấu hiệu hành quân về hướng tây.

– Thế là sao nhỉ? Chẳng lẽ thám sát của ta bị chúng nghi binh, hoặc nghe tin không chắc chắn đã vội vàng về báo. Phó Đề đốc băn khoăn.

Bố chánh Giáp ung dung tự tại trên yên ngựa nhìn về phía Phù Nham, cửa vào Nghĩa Lộ:

– Có hai khả năng. Một là quân Pháp đột ngột tạm dừng trận càn để chờ có thêm lực lượng viện binh. Hai nữa, thấy không chắc thắng nên cũng tạm dừng. Theo tướng quân là ý nào?

– Phó Tướng công. Sẽ là khả năng thứ nhất. Vương Doãn đáp.

– Nếu thế thì ta mở rộng tuyến phòng thủ để nếu chúng bất ngờ đánh vào các cửa. Ta đã chủ động đối phó.

– Vâng. Xin Tướng công ra lệnh. Một cuộc hội ý gấp và gọn do Bố chánh thay mặt Thủ lĩnh Tướng công chủ trì.

Hiệp đốc Nguyễn Văn Giáp nói rắn chắc:

– Cửa suối Thia, Tướng quân Vương Văn Doãn có thêm Lý Hữu Kim, Hà Đình Đặng và Nông Văn Quang, cửa suối Nung là Đề Cương, có thêm Lả Xanh, Lò Văn Kim, sau lưng Mường Lò là Giàng Nủ Knâu và Đặng Phúc Thành, Bàn Hiệp đề phòng quân Pháp từ Than Uyên xuống. Cửa Trạm Táu Hạ giao cho Nguyễn Quang Hoan. Bảo vệ Bản doanh trông cậy vào Đề đốc Kiều và Đội vệ binh sơn phòng.

Nói đoạn, Bố chánh dừng đột ngột. Ông thấy tức tức trong lồng ngực mà vẫn cố gắng hít một hơi dài. Rối mới tiếp lời.

– Sở chỉ huy chung của tôi đặt ở bản Căng Nà. Các tướng quân trực tiếp nhận lệnh từ các liên lạc viên cảm tử. Tôi liên lạc với Thủ lĩnh Tướng công thông qua đội binh Đào Xuân Thái và Cầm Văn Dón.

Bố chánh lại thấy tức ngực, bàn tay ngài xoa xoa vào lồng ngực mà nói.

– Có thể hôm nay, ngày mai hay hôm nào Pháp đánh Mường Lò, đấy là việc của chúng. Còn đạo binh ta ư? Sẵn sàng nhận lệnh Hiệp thống Thủ lĩnh.

Các tướng quân đứng dậy. Bố chánh nắm tay từng người, cười nhẹ. Ông thấy mệt, nên vỗ vỗ hai bàn tay vào nhau như ra hiệu điều gì. Không, ngài không ra hiệu, mà nói.

– Sau tôi, là Phó Đề đốc Vương Văn Doãn, làm Phó chỉ huy trận chống càn của quân Pháp vào bản doanh Mường Lò này.

Các tướng vái chào Bố chánh rồi rời sở chỉ huy doanh trại Pú Lo.

Đúng như phán đoán của Bố chánh Hiệp đốc. Khi kế hoạch bất ngờ tập kích bản doanh Pú Chạng của Borítx vừa được động binh thì đầu dây đàm thoại bên kia – Đồn Tuần Quán, giọng tướng Giamông tổng chỉ huy cánh tây:

– Đại tá, ngài định một mình bắt sống được quân Triều đình phiến loạn đấy sao?

– Thưa thiếu tướng. Ngoài mặt trận, thời cơ đến, tôi có thể ra lệnh. Borítx rắn giọng đáp.

– Ngài nói không sai, nhưng cũng không đúng. Là đại tá quân đội viễn chinh chuyên nghiệp, ngài tự hiểu chứ? Trước mặt ngài chỉ là mấy tên phiến loạn, nhưng sau lưng ngài là các cuộc biểu tình của dân chúng Pháp, họ đòi xác con em họ!?

Borítx thừa hiểu điều đó, nhưng đấy là việc của trung tướng Muniêzơ Bắc Kỳ, trên nữa là đại tướng Đlamnétxăng Toàn quyền  Đông Dương, chứ chưa phải là lon tướng cánh trưởng miền Tây như “ngài” đâu!! Đại tá Borítx chấp nhận ra lệnh tạm dừng cuộc tập kích Pu Chạng trong đêm trăng tháng mười Đinh Hợi, nhưng vẫn tìm cách thực hiện nó sớm nhất.

Tướng Giamông đình chỉ lệnh cấp dưới nhưng đã kịp cấp báo đến Thống quản miền Tây Brícdlin chỉ trong một giờ. Và cũng chỉ trong một giờ nữa Giamông đã điều một tiểu đoàn bộ binh đóng ở châu Than Uyên cấp tốc từ đèo Púng luông, Khau Phạ đánh úp Trại binh Nậm Khắt của Giàng Nủ Knâu, tốc thắng, tập kích trại binh Nậm Mười của Bàn Hiệp, thần tốc đánh vào Nghĩa Lộ, trung tá người Việt Nguyễn Công Vang huyênh hoang rút ngắn thời hạn ba ngày xuống còn hai. Tướng Giamông hứa sẽ thăng hàm cho Vang sau chiến thắng.

Giamông lại điều tiểu đoàn tinh nhuệ do thiếu tá Oóclăng từ Yên Lập theo đường Thu Cúc, qua Thượng Bằng La, ém quân sát bên nhà thờ Đồng Lú, chờ lệnh chiếm lĩnh tổng phủ Hạnh Sơn, thọc sườn Pu Chạng.

Đương nhiên đại tá Borítx cũng đang đợi lệnh rời đồn Cửa Nhì vượt suối Thia tiến vào thủ phủ Mường Lò là Nghĩa Lộ.

Kế hoạch “ba mũi” của tướng Gia Mông khá tạo bạo, thần tốc, và mạnh tay.

Thủ lĩnh Tướng công chưa được văn phòng Bản doanh thông tin về cuộc vây ráp ba mặt đánh chiếm Nghĩa Lộ và lập đồn Pu Chạng của tướng Giamông. Nhưng ngài lại rất tin ở sự nhậy bén và tài thao lược ứng phó của Bố chánh Nguyễn Văn Giáp. Thủ lĩnh có phần bình thản hỏi Đề đốc Kiều và thủ túc Dư về đường lui chiến lược và bước lánh chiến thuật.

Đề đốc Kiều:

– Thưa Hiệp thống Tướng công. Đường lui chiến lược là Tôn Sơn xã Mộ Xuân, Yên Lập. Còn, nếu tạm lánh, hoặc là bản Mèo, hoặc là bản Xá Cẩu (Khơ Mú) thùy theo hướng tiến của quân Pháp.

Thủ lĩnh khẽ gật đầu. Thủ túc ghi nhanh bản lĩnh quyết đoán của Tướng công và Đề đốc.

Mũi tiến của Oóclăng đến Thượng Bằng La bị quân binh và dân binh của Hoàng Thương Thân dùng lợi thế đèo núi đánh chặn giam chân tại chỗ không thể vào Đồng Lú. Sợ bị đánh tập hậu thiếu tá Oóclăng vội vã rút lui. Mũi thứ hai nhờ có ngựa binh hỗ trợ. Trung tá Nguyễn Công Vang cho đội chiến mã xông trận, lọt qua được trại binh Nậm Khắt của Đào Chinh Lục (Giàng Nủ Knâu), một nửa lính bộ binh bị tụt lại. Giàng Nủ Knâu cho bao vây, đám lính khố xanh, dõng binh, hầu hết là người địa phương đứa giơ tay hàng, đứa bỏ súng chạy lấy người. Nguyễn Công Vang hiếu thắng định xông thẳng tới Mường Lò, vừa đi vừa cướp bóc của dân bản. Biết tin, Đặng Phúc Thành và Bàn Hiệp cho cào đất đá, chặt cây cối, ngổn ngang đoạn đường Gia Hội. Bị đánh cắt đường Công Vang tiến mắc, lui vướng liền hô quân bỏ ngựa, tử chiến. Trung tá ngạo mạn Nguyễn Công Vang bị một chiến binh nghĩa sỹ người Dao giơ khẩu hai nòng nhằm thẳng. Hai viên đạn ghém nổ dòn Nguyễn Công Vang ngã nhào xuống chân con ngựa trận mầu đen.

Hướng nam, trục chính, hai tiểu đoàn của Trại binh Cầu Nhì được lệnh tiến vào Nghĩa Lộ với hai mũi kìm qua bản Thanh Lương và Phù Nham.

Đại tá Borítx:

– Quan hai Nôốckê. Hy vọng ngài qua Thanh Lương, Hạnh Sơn, Viềng Công và có mặt tại trại binh quân phiến loạn ở Nậm Tộc một cách dễ dàng và bắt được cọp. Được chứ?!

– Hô hô! Việc đó trong tầm tay tôi, thưa ngài chỉ huy. Nôốckê cười to.

– Còn thiếu tá Luýt-lina. Ngài lấy của nàng Ly na cái tên làm mật danh là hay đấy. Ngài hãy chỉ huy một tiểu đoàn thiện chiến, theo hướng Phù Nham, Nghĩa Lợi, mà bao vây Phắc Khết. Sẽ đón quân trung tá Nguyễn Công Vang từ Tú Lệ ra tại đó rồi cùng đổ bộ lên “Ông Voi” khóa tay Nguyễn Quang Bích. Chúc ngài đem được bông hoa ban ép trong sổ tay ngày nào, về Pa Ri tặng nàng Ly na bạn gái. Borítx mỉm cười.

Luýt – li na dậm chân giầy da, giơ tay chào kiểu nhà binh Pháp.

– Rõ!

Bo rítx bước lên bệ đá cao vuông vắn. Trước mặt y là các sỹ quan Pháp, Việt. Có đủ thành phần: Âu phi, lê dương, khố xanh, khố đỏ, dân vệ, bảo an binh. Bo rítx vung tay súng ngắn, hô lớn:

– Xuất phát!

Thám sát báo tin đến Bố chánh Nguyễn Văn Giáp: Quân Pháp sẽ đồng loạt tiến công từ ba hướng; đông, chia hai mũi; tây, tiểu đoàn người Việt, và đông nam, có thổ dân đưa đường đến Đồng Lú.

Bố chánh hỏi lại:

– Hướng đông, hai mũi khả năng vượt suối Thia ở những địa điểm nào?

Thám sát:

– Cũng chưa rõ, nhưng chắc chắn trên địa bàn Phù Nham và Thanh Lương.

– Được, cần theo dõi tiếp và báo cáo nhanh.

Từ sở chỉ huy Phắc Khết, Phó Tướng công cho liên lạc đến trạm chỉ huy của các tướng quân:

“- Giữ nguyên kế hoạch đánh chặn đã ban lệnh”

Ban lệnh xong, Hiệp đốc Bố chánh nhảy lên yên ngựa cùng Lả Xanh thắng cương đến thẳng Bản doanh.

– Thủ lĩnh Tướng công và Đề đốc Kiều. Tình hình nguy cấp lắm. Phương án đánh chặn, đánh giáp mặt ba hướng bốn mũi đã được chốt và ban lệnh. Xin Hiệp thống tạm lánh lên bản Mèo ít ngày. Việc Bản doanh sẽ do Đề đốc quyết định.

Tướng công:

– Ngài Hiệp đốc. Bích tôi cũng đã được biết. Tôi đồng ý tạm lánh lên động Mèo dăm bẩy hôm. Cùng bên tôi là Đề đốc, Thủ túc và đội vệ binh Cầm Văn Dón. Bản doanh Núi Voi – Nậm Tộc, Đề đốc Kiều giao cho Lãnh Hoan tổng chỉ huy.

Bố chánh và Đề đốc khoanh tay cảm tạ. Hiệp thống bước đến bên Nguyễn Văn Giáp.

– Tháng nay sức khỏe của Tướng quân suy giảm, mà giặc Pháp thì đốc binh thôn tính những người yêu nước, những dân Nam tôi trung với Đức Vua chủ chiến Hàm Nghi.  Ta lo lắng cho sức lực của Tướng quân, mong ngài ủy thác trận chiến sinh tử cho Phó Đề đốc để dãn sức, lo việc lâu dài.

Đại thần Hiệp thống giang hai tay ôm chầm lấy bạn hữu – Phó tướng công Bố chánh rồi trở lại hành dinh. Hiệp đốc cùng Lả Xanh vội vã lên ngựa, giật cương, phi thằng về trạm chỉ huy Phắc khết.

Đại tá Borítx là một sỹ quan nhà nghề của quân đội Pháp ở Đông Dương giữa thế kỷ XIX. Ông ta đã từng chinh chiến tại nhiều nước nhất là khối thuộc địa Pháp với câu nói được cho là gieo vào lòng hàng sỹ quan hiếu chiến: “- Nước Pháp, không để thuộc địa tuột khỏi tay mình!”. Với luận điểm chiến tranh ấy, Borítx đi đến đâu, là tìm mọi cách giành giật phần thắng. Viên đại tá viễn chinh đã được chính phủ tặng nhiều “Anh dũng Bội tinh” các hạng.

Borítx đến Việt Nam (An Nam) với tư cách đã từng là một người hùng của các miền biên ải. Lần này công sứ Bắc Kỳ, tướng Muniezơ giao ông ta cho thống quản miền tây nhưng đặt dưới sự cai quản của tướng Giamông nên Bo hậm hực. Đã nhiều lúc phớt lờ cấp trên trực tiếp; nhưng vì cái lon tướng nay mai, nên đại tá Bo quyết “dẹp” bằng được các thủ lĩnh của vùng Tây Bắc trong đó có Thủ lĩnh kháng chiến Cần Vương mà Toàn quyền Đông Dương Đlam nét xăng gọi đó là nhóm quân Triều đình phiến loạn trên đất Bắc.

Đại tá Borítx đang dốc mình thực hiện mật danh “T.90” của tướng Bricdlin, nghĩa là trước năm 1890 người Pháp phải kiểm soát toàn bộ miền Tây Bắc An Nam. Bởi vậy khi nghe tin tiểu đoàn khố đỏ tăng cường từ Yên Lập lên, bị đánh chặn ở Thượng Bằng La, đã bỏ cuộc. Tiểu đoàn khố xanh người Việt từ Than Uyên xuống cũng đã bị quân Mèo, quân Mán đánh cho tan tác. Nghe đâu trung tá chỉ huy có tên là Nguyễn Công Vang cũng đã trúng đạn súng săn thú rừng mà ngã ngựa. Ba hướng bốn mũi hẹn điểm Nghĩa Lộ, là sản phẩm của Gia mông cấp trên, coi như phá sản. Bây giờ là một hướng, hai gọng kìm, kế hoạch của chính đại tá Bo, bị tướng Gia mông bác bỏ, lại đang sắp hoàn tất kết thúc có hậu. Báo cáo “đỏ” sắp được gửi về Hà Nội, ký tên “Borítx”. Cánh trưởng miền tây, đại tá Borítx sướng run, cho trợ lý thúc hai mũi quân tiến nhanh hơn, đánh mạnh nữa, bắt được các đầu binh phiến loạn.

Quan hai NoốcKê ngồi trên lưng ngựa xám vung súng ngắn. Khuôn mặt đầy lông, mũ bạt cứng, quần áo nhà binh có đến tám túi, trông y hung hăng không kém gì cấp trên Borítx, chỉ khác Bo mặt bè, mắt xanh, mũi dẹt. Sau NoốcKê là đại úy Tinh, người Nam. Tinh từng là du kích Bắc Bộ, bị quân Pháp bắt, chiêu hàng. Lập công chuộc tội bằng việc khai báo quân Pháp triệt hạ cả một đơn vị du kích xã. Tinh được đặc cách phong chức cai đội về Hà Nội huấn luyện, rồi biệt phái ra Hải Phòng, lại lập công, được thăng vượt cấp lên đại úy. Hai con ngựa trận lùi lũi đi sau tay thổ dân đưa đường đúng như sơ đồ lộ trình mà thám báo T90 Quý đất vẽ trước đó: Thanh Lương, vượt suối Thia, Viềng Công, tiến vào Nậm Tộc chân Núi Voi!

Bờ suối Thia, đoạn con suối rộng đến mét, nước chảy chỗ xiết chỗ chững, tán lá cây bờ tây um tùm Phó Đề đốc Vương Văn Doãn dăng đội hình mật phục bên tay trái; nước chảy chững được cho là lối lên xung yếu, quân binh của Hà Đình Đặng chờ sẵn. Bên phải, là đốc binh Lý Hữu Kim và đội binh Nông Văn Quang. Mỗi đội năm chục tay súng. Đủ thứ binh khí thô sơ. NoốcKê chủ quan, chọn đoạn nước nông và rộng hô “tiến”. Đám lính dõng của sở tại, rồi đám khố xanh, bốn năm đầu ngựa chỉ huy, sau lưng là khố đỏ, lê dương.

Đại úy cai đội Tinh ghé tai do thám Quý đất:

– Cảnh làng quê An Nam mình thơ mộng quá. Núi, sông, đất, đá, con người… như hòa làm một vậy.

– Anh Tinh. Quý đất đi sát ngựa cai đội thủ thỉ, vô vàn tài nguyên khoáng sản. Bao giờ người Pháp cai quản, em đảm bảo sẽ biếu không anh Cai đại úy vàng bạc châu báu vùng Mường Lò này.

Cai Tinh giật mình. Quan hai Pháp đang dong ngựa sát bên sườn nhưng vẫn kịp ném theo Quý đất đang lẽo đẽo đạp trên đám đá cuội giữa lòng Thia.

– Chú này. Đại úy Tinh như anh đây, làm sao có thể quên thằng em Quý đất lúc gian khó này. Hì hì.

Đám lính đã sang gần đến bờ tây.

– Giết, giết giặc Tây! Lý Hữu Kim hét lên. Ba phát súng nổ liên thanh.

Lập tức cả đội quân binh nghĩa sỹ túa ra mặt bờ suối. Những binh sỹ thổ dân quen với đồi suối, tay dao, tay mác nhảy “cóc” trên những hòn đá lổng chổng. Những tiếng hét vang trời cứ nhằm đám giặc mà nhảy bổ tới đâm, chém. Ném đá. Lũ giặc bị bất ngờ rối tinh, bắn loạn xạ. Tinh cai đội quát.

– Bắn, bắn vào quân phiến loạn. Bắn mau!

Các khẩu tômxông, bờranô, mútcatong nhả đạn đoành đoành. Chét, chét…

– Có thằng Tây râu quai nón chắc là chỉ huy. Lý Hữu Kim chỉ tay.

– Để em ra!

Nông Văn Quang khoác khẩu kíp vào vai, rút ngọn giáo nhọn hoắt men theo sườn tảng đá. Lý Hữu Kim tỳ súng yểm trợ. Thằng Tây xoay xoay cặp cương hàm thiếc. Con ngựa xám chồm lên.

– Mày chết này!

Nông Văn Quang dùng hết sức lao ngọn giáo vào thằng Tây. “- Ơ kìa. Nó ngã ngựa rồi”. Quang kêu lên xô lại. Thằng Tây mặt đầy lông vàng trợn mắt, tay vẫn lăm lăm khẩu súng ngắn. Ngọn giáo có cạnh của đội binh Nông Văn Quang ngập sâu vào ngực trái quan hai Pháp Noóckê khiến hắn ngã xoài giữa suối, con sám mã lồng lên. Cai Tinh nhìn rõ chỉ huy quan Tây ngã lộn thì quay đầu ngựa. Một viên đạn ghém từ đâu bay trúng đầu. Đại úy Tinh được hai khố đỏ dìu ra ven bờ đông. Có đến bốn năm chục xác lính. Thằng chết, đứa bị thương. Nước suối Thia ngả đỏ dòng.

Chỉ huy Noóckê chết tại trận. Cai Tinh ôm đầu máu. Khố đỏ khố xanh nằm ngổn ngang. Riêng thám báo Quý đất thoát trận, y vỗ vai một khố xanh. “- Tao nhìn thấy bọn “Cần Vương” từ bờ bên kia rồi, nên tìm cách lỉnh ra đằng sau mới thoát chết!”

“Mũi tiến Viềng Công” mới đến giữa dòng suối Thia, quân tướng Noóckê đã tan tác.

Nhưng số trời không chiều đạo binh Cần Vương. Quân Pháp kéo cờ bước xuống ven bờ nam dòng suối Thia, đội binh Tây tỏ ra hùng dũng, dàn hàng vượt đoạn nước chảy chùng. Đội quân binh của Đề Doãn và Hà Đình Đặng đã nhìn rõ. Mặt suối rộng tới gần một trăm mét, giặc Pháp đang tiến sang bờ tây. Nghĩa binh ai cũng nắm chắc tay súng, tay kiếm, tay dao, nín thở.

Bỗng Lả Xanh hớt hải chạy đến Đề Doãn.

– Tướng quân, tướng quân. Bố chánh lên cơn đau ngực dữ dội lắm. Chắc khó qua khỏi!

Nhìn mặt Lả Xanh tái nhợt Phó Đề đốc hiểu ngay Tướng công Hiệp đốc gặp phút hiểm nghèo. Bờ suối bên kia quân Pháp vẫn đang tiến sang.

– Tướng quân. Hà Đình Đặng nói như ra lệnh. Đề đốc về ngay với Tướng công Bố chánh đi. Ở đây tôi sẽ lo!

Phó Đề đốc Vương Văn Doãn gạt nước mắt nắm hai tay Hà Đình Đặng

– Tôi về trạm. Tướng công Bố chánh đang nguy kịch. Tất cả do Đốc binh quyết định. Nếu không thể cứu vãn thì phải gắng bảo vệ quân binh để còn chiến đấu lâu dài!

Nói đoạn Đề đốc nhảy lên ngựa phi theo sau Lả Xanh.

Mũi chiến do đại tá Borítx trực tiếp chỉ huy, qủa thực rất mạnh. Lại có cờ Pháp có súng máy đi cùng. Quân tướng tự tin đến ngạo mạn. Có lẽ lúc này viên đại tá cánh trưởng miền tây vẫn chưa hay biết ở phía ngọn nguồn, mũi tiến qua Thanh Lương sang đất Hạnh Sơn, chiếm thành Viềng Công, đã bị đội binh bản xứ Lý Hữu Kim, Nông Văn Quang đánh chặn, đâm chết cả chỉ huy, phải tháo chạy. Quân nghĩa sỹ cũng vậy, sau khi đập gục được quân Pháp, Lý Hữu Kim ra lệnh chuẩn bị tinh thần, vũ khí, sẵn sàng đánh đội tiếp viện mà có biết đâu, cách đó chỉ ba cây số nơi hạ dòng, tướng quân Vương Văn Doãn đang bối rối trước phút giây Phó Tướng công đang nguy kịch vì bệnh trọng, phải về lo liệu đại sự, hay ở lại chỉ huy đánh quân Pháp đang tiến sát thành Nghĩa Lộ?

Không còn cấp chỉ huy nào ở bên cạnh để trao đổi, Hà Đình Đặng đơn phương quyết định phương sách đánh ghìm chân giặc. Đốc binh phán đoán đoạn đường bộ của địch, rồi ra lệnh tản quân sang hai bên, đoạn chọn năm tay súng bắn tỉa giỏi nhất, đón sẵn cửa lên, chỉ nhằm vào ngựa và kẻ ngồi trên ngựa mà bắn. Phương án không có sẵn này, cũng chỉ mười phút, quân binh đã sẵn sàng.

HÀ LÂM KỲ

(Hết trích)

_______________________

([1]) Các bậc cao niên Đại Lịch (cụ Phạm Văn Tích, cụ Phạm Văn Đăng, nội tộc Lãnh Tế, Lãnh Năm) kể lại: Trong cuộc kháng chiến Cần Vương, Pháp đã 3 lần đánh vào Đại Lịch, đều do đại tá Bo rítx chỉ huy (Tháng 1.1887, tháng 5.1887, tháng 9.1887) chưa kể các đợt hành quân đi qua. Các trận trên đều bị Vương văn Doãn, Trịnh Bá Đanh cùng Lãnh  Tế (Phạm Đình Khải), Lãnh Năm (Phạm Đình Thọ), Đốc binh Hà Văn Đặng, Đội binh Hoàng Đình chỉ huy nghĩa binh, dân binh Đại Lịch đánh trả. Trận Đầm Rôm tháng 8.1887 Tổng khảm Trịnh Bá Đanh hy sinh, đội binh Hoàng Đình và Hà Văn Đặng bị thương. Ta tiêu diệt 2 sỹ quan và hàng chục lính khố đỏ, khố xanh.

([2]) Theo Gia phả họ Hà Đình xã Đại Lịch tỉnh Yên Bái

([3]) Theo ông Hà Thiết Hùng nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Liên Sơn, quê ở xã Thượng Bằng La. Sau trận giao tranh với quân Pháp, thung lũng chân của ba ngọn núi, được gọi là Lũng Pu Thương, ngọn núi cao nhất cũng được nhân dân địa phương gọi là núi Pú Thương – ông Thương, bố Thương – tức lãnh binh Hoàng Thương Thân. Hậu duệ Hoàng Thương Thân nay chưa rõ cụ thể là ai? (tác giả ghi chép 2015)

([4]) Nhận định trên đây là ý kiến của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn trong bài viết: “Vài hoạt động của Nguyễn Quang Bích qua tư liệu Thái” trong cuốn sách: Nguyễn Quang Bích , nhà yêu nước, nhà thơ. NXB KHXH.1993. Trang 189.

([5]) Bản dịch nghĩa của Trần Huy Liệu. 1957

([6]) Bản dịch của Ngô Đức Tĩnh

([7]) Một só tài liệu lịch sử Tây Bắc ghi lại: Sau khi Bố chánh Nguyễn Văn Giáp mất, Pháp tập trung vây thành Nghĩa Lộ. Có hào lý bỏ trốn rồi ra hàng Pháp trong đó có Đèo Văn Trì Tri châu Mường Lay; Chiêu Tấn, tri châu Than Uyên, Hoàng A Phi thổ ty Bắc Hà…

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *