Vua không ngai – Tiểu thuyết dã sử của Phan Đức Nam – Kỳ 6

Vanvn- Thủ cấp Phan Ba Vành đã khô héo được cắm treo nhiều nơi, khi đến cửa Kem ven sông Hồng, nơi ngày xưa Vành và các bạn mục đồng rời làng ra đi tìm đường khởi nghĩa. Đầu Vành mới cắm được ở đó một ngày, thì đêm đến, sông Hồng ầm ào dậy sóng, mây đen cuồn cuộn vần vũ, gió mạnh rít, trời đất mịt mù phẫn nộ, rồi giông lốc lớn ào ạt ập đến khiến đội quân túc vệ canh gác sợ hãi chạy tìm chỗ nấp.

>> Vua không ngai – Kỳ 5

>> Vua không ngai – Kỳ 4

>> Vua không ngai – Kỳ 3

>> Vua không ngai – Kỳ 2

>> Vua không ngai – Kỳ 1

>> Tiểu thuyết dã sử “Vua không ngai” Phan Ba Vành

 

BA VÀNH

 

Những kẻ anh hùng quân tử

không vì ham sống mà huỷ diệt lòng nhân,

trái lại còn lắm khi liều chết

để bảo vệ lòng nhân cho trọn vẹn.

LUẬN NGỮ

Biết thủ lĩnh Ba Vành có sức khoẻ kinh hồn, bọn lính trói ngoặc hai tay ông ra sau lưng, rồi quấn kéo cột chặt quanh cổ. Chúng bỏ ông vào võng mây, cột bó vòng thêm như bó giò cho thêm chắc.

Hai tên tuần đinh lực lưỡng khiêng võng, mỗi tên một đầu, tên nào mệt tên khác vào thay. Đến sẫm tối thì chúng khiêng Vành lên nộp cho cai tổng Lê Đình Tuấn.

Cai tổng Tuấn đã biết trước tin do hương sư Tiềm và hương quản chạy lên báo lúc trưa, ông ta cấp tốc điều quân xuống phụ với đội tuần đinh, giờ đang sốt ruột chờ đợi.

Uy danh Ba Vành khiến cai tổng xã Hoàng Nha sợ và nể phục, ông ta không dám nhìn thẳng vị thủ lĩnh nổi tiếng đang thúc thủ nằm cuộn trong võng.

Lê Đình Tuấn bảo lính:

– Mau mang cơm nước ra cho ông Vành. Để ông ta đói chết thì huyện mình phải chịu trách nhiệm đấy.

Rồi nhanh chóng cho người báo tin lên tỉnh.

Nhà văn Phan Đức Nam. Tranh của họa sĩ Phạm Cung

Trấn thủ Nam Định là Đỗ Văn Thịnh cấp tốc sai đóng một cái cũi lớn, cũi thường chỉ cần bốn người khiêng, cũi nhốt Ba Vành phải  ba đòn, sáu người khiêng.

Ba Vành ngồi trong cũi rồi mà hai tay ông còn bị tấm còng gỗ mun dày hình chữ nhật khoá liền với cổ, ông chỉ có thể ngẩng lên ngẩng xuống và quay nhìn hai bên.

Minh Mạng ra lệnh mau đưa Vành về kinh đô Huế để xử cực hình.

Sáu người khiêng cũi nhốt Vành chầm chậm xuống thuyền. mười lính đi đầu mở lối, mười tên đi hai bên và mười tên đốc hậu. Đông đảo dân chúng lặng lẽ nối đuôi theo sau, họ giả như đi xem vị thủ lĩnh lừng danh, thật ra là đưa tiễn vua không ngai. Nhiều người cúi mặt, nhanh tay lau nước mắt…

Ba Vành không chịu ăn uống gì, ông ngồi trong cũi trầm mặc nhìn phía trước và hai bên sông, gió hú lồng lộng trên cao, sóng triều dập vào hai bên mạn sườn thuyền, tung bọt trắng xoá.

Sông Hồng này nơi ông từng tung hoành, ngầu đỏ phù sa như máu.

Sông Hồng này, bao anh hùng hào kiệt từng qua…

Thuyền qua từng địa danh, từng khúc sông, Ba Vành bồi hồi nhớ lại những trận đánh bạo liệt, lạnh lùng…

Này ngã ba mom Rô, Lữ Chữ, nơi Lê Mậu Cúc bị ta phóng lao giết chết… Hà hà! Tên phò mã kiêu ngạo, Minh Mạng cha vợ ngươi chắc sẽ làm đền thờ cho ngươi ở đây, nhưng chắc gì dân đã thờ? Ông ta đang chờ ta về để xử nhục hình, tế ngươi. Ngươi có dám gặp ta ở suối vàng không? Ha ha!…

Không ai xử được ta cả! – Vành lắc đầu, trầm ngâm: Giờ ta chẳng còn oán giận Minh Mạng nhiều nữa. Lão quyết giết ta chẳng qua để giữ ngôi vị đó thôi. Ta giận ta! Nếu ta được làm vua, biết đâu cũng hư hỏng…

Ô! Cửa kênh Kem đây rồi! Nơi đây gia đình ta có quá nhiều kỷ niệm. Đây là nơi mẹ ta ngày đêm chèo đò đưa khách sang sông, những lúc không có ai gọi thì bà mò cua bắt ốc, khổ cực nuôi nấng anh em ta…

Khi ta cùng em trai nói lời từ biệt, mẹ đã khóc, ta ôm mẹ, đành đoạn dứt áo ra đi! Xin mẹ tha tội cho con!…

Giờ mẹ ta đã mất, em Cầm ta hy sinh, anh cả giờ không biết trốn lánh nơi đâu? Cũng chính nơi đây em gái út xinh đẹp của ta phải trầm mình tự vẫn.

Cửa kênh này, bố ta thường gánh cá giống qua đây rao bán quanh vùng. Khúc sông cửa Kem có phải là nơi định mệnh của gia đình ta?

Lúc đó ta nhớ mình 13 tuổi, có trận bão lớn, không thấy bố về, mẹ và anh em ta khóc lóc chờ đợi trong tuyệt vọng. Nửa tháng sau, có người chạy đến báo tin thấy nhiều mảnh thuyền vỡ của bố tấp vào cửa kênh Kem… Khi mẹ con ta đến thì nơi đấy đụn lên thành tổ mối to. Ta và anh cả mò dưới kênh suốt cả tuần mới tìm được chiếc dép đứt quai của bố!… Nhiều người nói tổ mối đụn nhanh đó là mộ bố ta đang kết, tốt cho con cháu sau này. Từ đó đến rằm, đến Tết Thanh minh, mỗi khi qua đây mẹ con ta đều thắp hương cắm lên gò mối… Sau này, chị Ái ta rời chùa đến lập am gần tổ mối này đề ngày ngày thắp hương cho bố…

Khi ta thất trận rút về Trà Lũ, nghe nói quan quân triều đình dò hỏi bắt được chị Ái, tra khảo chị để hỏi mộ bố? Chúng phá tổ mối lớn đó đi. Nhiều người kể thấy đàn rắn nhỏ có mồng đỏ, như giao long con hoảng hốt bơi chạy tứ tán. Quân triều đình hè nhau đuổi bắt đập chết… Có phải đó là điềm gỡ báo trước không?

Ta không tin, cuộc khởi nghĩa thất bại này là lỗi tại ta! Tại ta tất cả!

Ba Vành nhìn qua bên kia sông, làng Minh Giám thân yêu của ông gần sông gần bể, nơi ấy có túp lều nhỏ, mái gianh, tường đất, nơi gia đình ông từng sinh sống với biết bao kỷ niệm!…

Quê hương, làng xóm, bến nước, gốc đa…

Trời đang rét, hoa gạo đỏ trời đỏ đất… Em Bầu thơ thẩn nhặt những cánh hoa rơi… Anh cả sàng từng hạt cây gạo để mẹ độn nấu cơm khoai…

* * *

Thuyền đến giang phận làng Tam Lộng, Ba Vành nhớ đến người vợ cả, Thị Năm của ông nhu mì mà cực kỳ dũng cảm, nàng ít nói, hay mỉm cười khoe lúm đồng tiền…

Nhớ lần đầu gặp gỡ, nàng hay trộm nhìn ta, đôi mắt to của nàng long lanh chơm chớp, lộng lẫy, đôi má rực hồng đáng yêu làm sao!…

Nàng mà còn sống thì ta không đến nỗi này!…

Vành lắc đầu, nhắm mắt, gương mặt người vợ cả thân yêu sáng rực như có hào quang, mỉm cười tha thiết nhìn ông…

Thôi không nghĩ nữa, thuyền sắp đến sông Bo. Ta không muốn bị xử nhục, giờ tự vẫn được rồi! Nàng đang chờ ta.

Đời ta, dẫu nhiều sóng gió, vẫn có ít niềm vui…

Ta tự hào là đã sống, không chịu cúi đầu.

Ông nhìn bể cả mênh mông, trời xanh mây trắng, thấy yêu cuộc đời này quá!

Ba Vành bình thản hít một hơi, thè lưỡi dài ra, nghiến răng cắn mạnh, đồng thời hai tay bị còng chung với cổ hất mạnh lên cằm, sức mạnh kết hợp đó làm khúc lưỡi ngoài của ông bắn xa, máu từ đó phun ra như rồng khạc lửa*.

* * *

Thuyền chở cũi nhốt thi hài Phan Bá Vành lên tỉnh. Trấn thủ Nam Định là Đỗ Văn Thịnh cấp tốc sai lính trạm thay nhau phi ngựa báo tin về Huế. Minh Mạng tức giận ra lệnh chém đầu Vành đưa về kinh đô, thi hài Vành xả làm nhiều mảnh quăng tứ tung trong vùng Sơn Nam Hạ, mục đích để dân chúng thấy thủ lĩnh Phan Ba Vành thực sự đã chết mà không còn hy vọng.

Hành động của Minh Mạng làm dân thêm bất mãn phẫn uất, sau đó có câu ca lan truyền trôi nổi:

Trời mà không phụ ông Vành

Quan quân nhà Nguyễn tan tành ra tro

Thấy lòng dân còn thương tiếc Ba Vành, Minh Mạng thêm tức giận, lệnh cho đội quân túc vệ xiên lao nhọn vào thủ cấp của Phan Ba Vành, mang đến cắm vào những nơi mà ngày xưa Vành từng tung hoành đóng quân, mỗi nơi vài ba ngày, nhằm răn đe dân chúng và ngăn ngừa những cuộc nổi dậy. 

 

 SANH VI TƯỚNG – TỬ VI THẦN (*)

 

TỒN NGHI

Thủ cấp Phan Ba Vành đã khô héo được cắm treo nhiều nơi, khi đến cửa Kem ven sông Hồng, nơi ngày xưa Vành và các bạn mục đồng rời làng ra đi tìm đường khởi nghĩa. Đầu Vành mới cắm được ở đó một ngày, thì đêm đến, sông Hồng ầm ào dậy sóng, mây đen cuồn cuộn vần vũ, gió mạnh rít, trời đất mịt mù phẫn nộ, rồi giông lốc lớn ào ạt ập đến khiến đội quân túc vệ canh gác sợ hãi chạy tìm chỗ nấp.

Mãi gần sáng trời đất mới tạm yên, đám lính chạy ra đê thì không thấy thủ cấp Phan Ba Vành đâu nữa. Chỉ còn trơ lại cây lao nhọn ngã nghiêng kẹt vào bụi tre già. Đội túc vệ lo sợ ra sức tìm kiếm đầu Vành, chúng gọi thêm lính xã tuần, chia nhau lùng sục quanh đó và những nơi xa hơn, mà vẫn không tìm được thủ cấp Phan Ba Vành.

Nhiều người bàn tán đêm qua giông lốc lớn có thể đã bốc văng đầu ông Vành đi xa, hoặc rơi xuống sông Hồng? Ngay trong đám lính túc vệ, có kẻ không nói ra nhưng nghĩ biết đâu trong đêm mịt mù ấy có người đã lẻn trộm đầu ông Vành mang đi đâu mất, hoặc chôn giấu đâu rồi?

Hai hôm sau Minh Mạng mới hay tin, tức giận, đứng ngồi không yên, lệnh cho trấn thủ Nam Định trong một tuần phải tra xét cho bằng được đầu Phan Ba Vành, lại ra tờ sắc hiển dụ dán nhiều nơi cho ai tìm được đầu Vành sẽ được thưởng 200 lạng bạc, còn những ai cố tình che giấu sẽ bị xử trảm.

Một tuần qua đi, nửa tháng qua đi…

Khi Minh Mạng cũng nghĩ đầu Phan Ba Vành có thể đã bị lốc cuốn quăng chìm dưới đáy sông Hồng, nên mật lệnh cho trấn thủ Đỗ Văn Thịnh dùng ghe cào và lưới ngày đêm cào kéo sát đáy những đoạn sông gần đó.

Ngã ba cửa Kem từ lâu đã nổi tiếng nguy hiểm dữ dằn, vì phía dưới có những xoáy nước sâu, sông đang yên lành có khi bất chợt sóng lớn nổi lên nhấn chìm những thuyền bè qua lại.

Trăm cửa bể hung cường.

Phải nhường cửa Kem.

Ba ghe cào lưới lớn và 20 lính thuỷ được điều động làm việc, cào đi lưới lại suốt một tuần vẫn không tìm được đầu Phan Ba Vành. Trấn thủ Đỗ Văn Thịnh cũng nản, nhưng vì lệnh vua bắt phải làm, ông ta cho thuyền nghỉ một ngày, dự định sáng mai sẽ cho thuyền cào những đoạn sông xa hơn.

Đêm ấy bất chợt trời đất lại ầm ì nổi giông lốc lớn, khiến đám lính trên ba chiếc thuyền cào không trụ nổi phải chạy túa lên bờ. Chỉ phút chốc cả ba chiếc thuyền bị lốc cuốn quăng chìm xuống dòng xoáy lớn giữa cửa Kem sông Hồng.

Đỗ Văn Thịnh là võ quan không ưa mê tín, nhưng trước sự việc này cũng thấy hoang mang…

Lúc đó ở Huế vua đang làm lễ báo công, tế trời đất, Minh Mạng nghe lời thầy địa lý, cho thải về hàng trăm cung tần mỹ nữ(1) để nội cung bớt âm khí nặng nề, Đỗ Văn Thịnh nhân đó xin vua cho lập đàn ở bãi cửa Kem tế thuỷ thần yểm hoạ. Minh Mạng bằng lòng, cho thầy phù thuỷ cao tay ấn xuống xem thế đất mạch sông. Phù thuỷ Tàu sai kết bè chuối lớn, trên cột một mâm đại, giữa mâm đặt thủ lợn luộc thật to dằn lên, chung quanh là xôi oản, hoa quả, hương trầm, rượu trắng, bạc tiền âm phủ…

Dân chúng quanh vùng chen nhau đứng chật đê, tò mò hóng xem.

Thầy phù thuỷ cúng tế gần nửa ngày, rồi thả cho bè trôi xuống sông Hồng.

Trời đang yên, nước lặng lờ, bè chuối trôi ra đến giữa dòng thì sóng to đùng đùng nổi lên, như có giao long lớn quẫy đạp phía dưới, bè chuối xoay vòng vòng, mâm cúng tế được ràng cột trên bè cứ trồi lên hụp xuống dưới đáy sâu.

Nhiều người đứng xem hốt hoảng khi kịp nhìn thấy đầu lợn luộc nổi lên biến thành đầu người, há miệng cười sằng sặc.

Những người ở xa, hoặc đang sụp lạy không thấy cứ hỏi đi hỏi lại những người bên cạnh: “Có thật không? Có thật không?” Nhiều ông nhiều bà quả quyết: “Thật mà! Tôi thấy rõ, tôi nói sai tôi chết.”

Chẳng biết hư thực ra sao? Nhưng chuyện cứ đồn ầm lên.

Sau cuộc tế thuỷ thần ấy, những dòng xoáy ở cửa Kem như bớt đi sự nguy hiểm dữ dằn. (Hết)

PHAN ĐỨC NAM

_________________

* Thủ lĩnh Phan Ba Vành mất năm 37 tuổi, vào ngày 15 tháng 2, năm Đinh Hợi (1827)

(*) Sống làm Tướng, thác thành Thần.

(1) Năm Minh Mạng thứ 6 (1826) Sách “Minh Mạng chính yếu” chép: Trong hai ba năm trở lại đây, hạn hán liên tiếp. Trẫm tự nghĩ đâu đến thế? Chưa tìm ra nguyên nhân, hoặc là trong thâm cung, cung nữ nhiều âm khí uất mà nên như vậy ư? Nay bớt đi, cho ra 100 người, ngõ hầu có thể giải trừ thiên tai vậy.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *