Trịnh Công Sơn và sự hiện hữu trong đời sống văn nghệ miền Nam 1954-1975

Vanvn- Có thể nói, trong tiến trình vận động và phát triển của nền âm nhạc Việt Nam nói chung và âm nhạc miền Nam nói riêng, Trịnh Công Sơn là một trường hợp đặc biệt cả trong nội dung tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện nên đã tạo một hiệu ứng nghệ thuật riêng có trong sự tiếp nhận của công chúng yêu nhạc, không chỉ trong nước mà cả quốc tế. Điều này đã được các nhà lý luận phê bình văn nghệ miền Nam giai đoạn 1954-1975 luận giải một cách thấu đáo cả về phương diện lý luận và thực tiễn qua các chủ đề của nhạc Trịnh Công Sơn. Đó là chủ đề viết về Chiến tranh – Hòa bình – Tình yêu – Thân phận. Và đây cũng là những vấn đề cơ bản mà bài viết hướng đến khi luận bàn về “Trịnh Công Sơn và sự hiện hữu trong đời sống văn nghệ miền Nam 1954-1975”.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

1. Dẫn nhập

Trong đời sống văn nghệ miền Nam giai đoạn 1954-1975, Trịnh Công Sơn xuất hiện ban đầu khá lặng lẽ, khi những sáng tác đầu tay của nhạc sĩ không ai biết đến, thậm chí khi ông đi tìm ca sĩ biểu diễn nhạc phẩm của mình, chỉ nhận được những lời chối từ “tế nhị”. Vậy mà, như một duyên tiền định, lúc tưởng chừng rơi vào bế tắc, thì ở thành phố Đà Lạt mù sương, Trịnh Công Sơn lại tìm ra “con đường sáng” cho hành trình âm nhạc của mình khi gặp ca sĩ Nguyễn Thị Lệ Mai (nghệ danh Khánh Ly), người có giọng ca độc đáo, huyễn hoặc, chấp nhận dấn thân với con đường âm nhạc của ông và trở thành giọng ca huyền thoại khi hát những ca khúc của Trịnh Công Sơn, nhất là những nhạc phẩm phản chiến.

Từ đó, nhạc Trịnh Công Sơn cùng với giọng ca Khánh Ly đã trở thành một hiện tượng kỳ diệu, lạ thường làm sôi động đời sống văn nghệ miền Nam những năm Sáu, Bảy mươi của thế kỷ XX. Thế nên, trong lời thưa của công trình nghiên cứu khá độc đáo, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, (Lá Bối xuất bản, Sài Gòn 1972) viết về chân dung văn nghệ sĩ miền Nam giai đoạn 1954-1975, khi giới thiệu nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Tạ Tỵ viết: “Từng âm thanh nức nở của Trịnh Công Sơn ngân dài trong không gian bát ngát, như lời van xin ứ nghẹn, như cơn khóc không nguôi, như môi cười chợt tắt, đã làm sửng sốt lương tâm nhân loại”.(1) Nghĩa là, trong cái nhìn của Tạ Tỵ, những giai âm của nhạc Trịnh Công Sơn không chỉ đóng khung ở phạm vi đất nước Việt Nam mà đã bay cao, bay xa để chạm đến lương tri của nhân loại. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên, trong tiểu luận đầy mỹ cảm triết học: “Trịnh Công Sơn và tiếng ru máu lệ”, ở tập chân dung văn nghệ này, Tạ Tỵ đã dẫn chính lời Trịnh Công Sơn xác quyết, khi trả lời phỏng vấn báo “The New – York Times, ngày 10/6/1970): “Tôi là một nghệ sĩ thuần túy. Tôi chỉ diễn tả những điều gì tôi mơ ước, nhưng tôi không biết làm cách nào để hoàn thành những ước mơ của tôi! …”(2) .

Phải chăng, người nghệ sĩ chỉ sống với ước mơ, và chính ước mơ là căn tính tạo nên dự phóng sáng tạo của họ. Người nghệ sĩ khi không còn ước mơ, không có ước mơ, không muốn ước mơ, nghĩa là họ không còn có khả năng sáng tạo và đồng nghĩa với việc họ sẽ tự chọn cho mình một “nấm mồ” trong “nghĩa trang văn nghệ”.

Trịnh Công Sơn là người giàu ước mơ và luôn sống trong mơ ước. Những mơ ước của ông là ước mơ của một nghệ sĩ đích thực mà ông gọi là “nghệ sĩ thuần túy” nên hồn nhiên và thánh thiện. Những ước mơ ấy đã kết tinh trong hàng trăm ca khúc ông để lại cho đời gắn với những vấn đề hằng cửu của nhân loại, đó là: “Chiến tranh – Hòa bình – Tình yêu và Thân phận”, chỉ có điều ông luôn trăn trở, không biết làm sao “để hoàn thành những ước mơ” của mình. Phải chăng, đây là bi kịch của người nghệ sĩ, không riêng gì Trịnh Công Sơn. Bởi, cuộc đời vốn “không như là mơ”, vì thế người  yêu nhạc Trịnh Công Sơn, hát nhạc Trịnh Công Sơn khắp mọi nơi trên hành tinh này, không phải vì nhạc Trịnh đã làm thỏa mãn những ước mơ trong cuộc đời họ mà bởi Trịnh Công Sơn đã thắp sáng trong tâm thức họ những ước mơ, và biết trăn trở trước những ước mơ không thành, để rồi mãi ám ảnh như một tâm thức hiện sinh và vì nó, nhiều khi, cuộc sống thêm ý vị, đúng như Tạ Tỵ đã chia sẻ: “Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, không nhạc sĩ nào có thể tạo cho mình, cho thế hệ mình, những cơn lốc nghệ thuật làm lay động đến chiều sâu tâm thức con người ở trong và ngoài kích thước quốc gia như Trịnh Công Sơn.

Trong vòng 4, 5 năm trở lại đây, tiếng nhạc Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly đã đi hẳn vào đời sống tâm linh của những người trẻ tuổi bằng niềm đau xót và phẫn nộ”.(3) Đây là cảm hứng chủ đạo trong nhạc Trịnh Công Sơn, không chỉ ám ảnh chính ông mà còn ám ảnh công chúng tiếp nhận âm nhạc của ông như một dòng chảy của vô thức và tâm linh. Từ đó, hình thành một “trường phái” thưởng thức âm nhạc ở miền Nam lúc bấy giờ: “Trường phái nhạc Trịnh”. Và, xét trong một ý nghĩa nào đó, nhạc Trịnh Công Sơn đã trở thành những tiếng “kinh cầu”, dẫu không mang ý nghĩa “cứu rỗi” nhưng có khả năng làm dịu những chấn thương nội cảm của phận người trong cuộc chiến khốc liệt mà hàng ngày con người phải gánh chịu bao đau thương mất mát, không gì bù đắp nỗi.

Đúng như Tạ Tỵ đã viết: “Ca khúc Trịnh Công Sơn, dù ở bản nào cũng vậy, không mang một ý tình cứu rỗi, một ân huệ thiêng liêng, nó có đấy như biểu tượng oán hờn! Dòng nhạc Trịnh Công Sơn chia làm ba loại: Ca khúc viết cho chiến tranh, ca khúc viết cho tình yêu và ca khúc viết về thân phận”.(4) Nhưng theo Trịnh Công Sơn, khi trả lời phỏng vấn của Trần Hữu Lục trên tạp chí Ý thức số 9 -10 ra ngày 1/3/1971, về câu hỏi “Anh cho biết có mấy chiều hướng sáng tác trong nội dung nhạc của anh? Trịnh Công Sơn trả lời: Có thể phân làm bốn: 1/ Tình khúc 2/ Thân phận ca /3 Những bài ca chống chiến tranh 4/ Những bài ca tụng hòa bình. (5)

Như vậy, từ sự phân loại do chính Trịnh Công Sơn giải bày, chủ đề trong nhạc  Trịnh Công Sơn không chỉ có các vấn đề: Chiến tranh, Tình Yêu và Thân phận như lâu nay các nhà nghiên cứu đã khẳng định mà còn có một chủ đề khác cũng không kém phần day dứt đó là khát vọng hòa bình được biểu hiện trong Kinh Việt Nam (tức hòa bình ca). Và đây là những chủ đề chúng tôi muốn đề cập đến trong bài viết này.

2. Những chủ đề trong nhạc Trịnh Công Sơn

2.1. Trịnh Công Sơn và những ca khúc viết về chiến tranh

Chiến tranh là điều không ai muốn, nhưng nhiều khi buộc phải “chấp nhận” như một định mệnh của vận nước. Không những thế, vì sự tồn sinh của dân tộc, người ta phải vượt lên những đau thương, mất mát do chiến tranh để tranh đấu khi không còn sự chọn lựa nào khác. Vì vậy, nói đến chiến tranh là nói đến những nỗi khổ đau và tuyệt vọng tận cùng của phận số con người. Đây là điều luôn hiện hữu, và là một trong những dòng chủ lưu của nhạc Trịnh Công Sơn, mà theo Tạ Tỵ: “Trịnh Công Sơn bị ám ảnh bởi chiến tranh, ở đấy, tuổi trẻ không còn là dự tính nữa. Nó hiển hiện như loài rong biển, phó mặc cho chiều nước đẩy đưa đến bờ bến nào đó hay ngàn đời phải chìm đắm giữa lòng đại dương mù mịt. Chiến tranh dù là cuộc chiến chính nghĩa, thuộc bên này hay bên kia, Sơn không cần tìm hiểu, Sơn chỉ nghĩ đến sự chết chóc và những cảnh tượng thê thảm, đang vì chiến tranh, tiếp diễn mỗi giờ phút trên mảnh đất nghèo này”.(6)

Bởi chính Trịnh Công Sơn đã chia sẻ trong lời nói đầu tập Kinh Việt Nam, (Nhân bản ấn hành, Sài Gòn, 1968): “Dân ta tàn phế hai mươi năm. Nước mắt và máu đã làm thành những con suối lớn chảy mòn tiềm lực sáng tạo” (7). Và, cũng như bao người dân miền Nam lúc bấy giờ, Trịnh Công Sơn đã dự phần vào cuộc chiến với tư cách là một nạn nhân, chứng kiến bao mất mát đau thương của dân tộc mình, đất nước mình trong chiến tranh. Điều này đã được ông chia sẻ trong lời giới thiệu về tập nhạc Phụ khúc da vàng, (Nhân bản ấn hành, Sài Gòn, 1972): “Phụ khúc da vàng là những khúc hát viết thêm, tiếp nối Ca khúc da vàng trước đây. Những khúc hát này đúng ra không nên có, nhưng bởi trên những con đường, những thành phố và những xác chết của tháng 5 (1972), một lần nữa, tôi không thể nào quên đi tiếng kêu thất thanh của đám người cùng khổ. Cuộc chiến đã không muốn ngừng, và có lẽ còn mang nhiều bộ mặt mới mẻ, thảm khốc hơn”.(8)

Và, cũng là người dự phần trong cuộc chiến tranh với nhiều sự trải nghiệm, nên trong cảm thức của Tạ Tỵ: “Trịnh Công Sơn đã chấp nhận cuộc chiến này có thật, nhưng chấp nhận bằng những âm thanh run rẫy, bằng môi cười gượng gạo, bằng mắt nhìn e ngại, bằng tiếng khóc nghẹn ngào trong vương vất vây quanh. Một ngày, ngày đã qua, ôi một ngày chóng qua, một chiều, một ngày âm thầm đã… đã trôi đi không còn gì. Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè, ngựa hồng đã mỏi vó chết trên đồi quê hương, còn có ai không, còn người, ôi nhân loại, mặt trời và em thôi (Xin mặt trời ngủ yên)” (…) … một ngày đã trôi đi, chinh chiến đã lấy mất của mình bao nhiêu bạn bè? Có buồn không? có tiếc nhớ không? Một tương lai mờ mịt với khuôn mặt chiến tranh làm tàn úa mộng mơ, làm con ngựa hồng, biểu tượng của tuổi trẻ đã mỏi vó chết trên đồi quê hương hay chết giữa hồn mình?” (9). Đây chính là những căn tố làm nên ý thức phản chiến, một hệ giá trị riêng có trong nhạc Trịnh Công Sơn đã ảnh hưởng trong tâm thức của người dân miền Nam, nhất là giới trẻ và tầng lớp trí thức, vốn rất dị ứng với tình hình cuộc chiến lúc bấy giờ.

Chiến tranh, vì thế trong ca khúc của Trịnh Công Sơn là tận cùng của sự tuyệt vọng và khổ đau, tận cùng của mất mát và bất hạnh vây bủa thân phận con người trên khắp đất nước quê hương. Cảnh tượng đó hằng ngày hằng đêm “đi qua trên khuôn mặt người già, trong tâm trí rối loạn người điên, trong xác chết, trong tiếng bom, tiếng súng vây quanh, với 25 năm hỏa châu thay mặt trời thắp sáng nhân gian. Mẹ Việt Nam đó, quê hương ruộng vườn ta đó, nay còn gì? Chỉ còn màu đất loang đỏ, chỉ còn đàn bò không luống cỏ và ngày dài của quê hương chỉ còn lại đau buồn trong màu da vàng bệnh hoạn. Ca khúc Ngày dài trên quê hương, nếu xét trên phương diện đấu tranh, đúng là ca khúc phản chiến”. (10) Và đây là điều tạo nên dấu ấn sâu sắc của nhạc Trịnh Công Sơn trong tâm cảm người dân miền Nam những năm 1954-1975. Tuy thế, cũng theo Tạ Tỵ: “Những ca khúc viết về cuộc chiến của Trịnh Công Sơn, đều mang bên trong nó, đời sống riêng. Cái đời sống thứ hai đó không phải ai cũng thấy, ai cũng biết, khi nghe nhạc Trịnh Công Sơn, nó chính là lương tri trước cuộc chiến, ẩn nấp sau ngôn ngữ, qua giọng buồn đứt nối của âm thanh. Cái lương tri đó, không được nói thẳng với mọi người, nó chỉ như chiếc bóng chập chờn thoáng hiện, thoáng mất, mà mỗi người sẽ tìm thấy ở lòng mình khi chợt bàng hoàng, thảng thốt, vì có anh em, chồng con vừa gục ngã đó đây…”. (11)

Khác với cái nhìn của Tạ Tỵ về chủ đề chiến tranh trong nhạc Trịnh Công Sơn, Thế Uyên cho rằng những ca khúc viết về chiến tranh ở Ca khúc da vàng là sự thể hiện những dằn vặt, trăn trở, khổ đau của hành trình đi tìm bản thể “Dân tộc tính” và  “Bắt đầu từ chặng này của cuộc hành trình, những người trẻ đó chỉ còn có thể lên tiếng tuyên bố, như trong phần cuối của bài ca: “Tình ca của người mất trí” – Ca khúc da vàng) “ Tôi muốn yêu anh yêu Việt Nam/ Ngày gió lớn tôi môi gọi thầm/ Gọi tên anh tên Việt Nam/ Gần nhau trong tiếng nói da vàng”. Đó là một lời tuyên ngôn dịu dàng và cũng minh bạch nhất: Tôi muốn yêu anh yêu Việt Nam” (12).

Rõ ràng qua luận giải của Thế Uyên, những ca từ trong nhạc Trịnh đã minh chứng rõ cảm hứng sáng tạo trong sáng tác của Trịnh Công Sơn viết về chiến tranh là thuộc khuynh hướng nhạc phản chiến và tập Ca khúc da vàng là đứng trên lập trường dân tộc thuần túy có khuynh hướng thiên tả, chứ không viết theo một lập trường chính trị nào. Bởi, theo Thế Uyên “khi nghe đi nghe lại” những bản nhạc trong Ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn với “Những lời nhạc xót xa buồn thảm đầy chất đau thương ấy, tôi biết Trịnh Công Sơn đã đi vào tuyệt lộ dẫn tới lao tù của cả hai chế độ Nam Bắc Việt Nam”. (13) Và, ông xác quyết: “Tất nhiên là Trịnh Công Sơn không thoát được số phận của mình. Các biện pháp nặng nhẹ đủ loại đã được đưa ra áp dụng cho con người hiền lành và dễ thương nhất của Tuyệt tình cốc, nhưng không đưa được anh tới lao tù, đầy ải: quá nhiều người Việt đã lên đường vào cuộc hành trình làm người Việt Nam, và không ai nở để con người thư sinh giản dị, tối ôm đàn đi hát, khuya về ngủ trên chiếc ghế bố của căn nhà gỗ Hội Họa sĩ Trẻ trên hẽm khám lớn xưa, phải chịu đọa đày hay thủ tiêu từ trong chuồng cọp. Vẫn được tự do, dù là thứ tự do hạn chế. Anh vẫn làm nhạc: Cuộc hành trình vẫn tiếp tục”.(14)

Trả lời về vấn đề khá “nhạy cảm” này, trên tạp chí Ý Thức số 9 -10 ra ngày 1/3/1971 khi được hỏi “Chính quyền không “thích” và rất đổi “ái ngại” sự phổ biến những nhạc phẩm của anh, trong lúc các đài Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh, Hà Nội đã cho phát thanh nhạc của anh trong nhiều lần, anh có cho đó là một thiếu sót đáng tiếc không? – Trịnh Công Sơn chia sẻ: Tôi không cho đó là một thiếu sót trầm trọng. Vấn đề đặt ra là những bài ca kia viết cho ai. Nếu viết cho quần chúng nạn nhân và tuổi trẻ nói chung thì điều cần thiết là những bài ca đó đến được với họ không. Nếu coi đài phát thanh như một phương tiện phổ biến thì ngoài ra cũng còn rất nhiều phương tiện phổ biến hữu hiệu hơn nữa”. (15)

Như vậy, vấn đề Trịnh Công Sơn quan tâm, không phải là thái độ của chính quyền (dù ở phía bên nào) đối với nhạc của ông, trong đó có nhạc phẩm viết về chiến tranh thể hiện tinh thần phản chiến, mà điều ông trăn trở là nhạc của mình có chạm đến tâm cảm của công chúng, và thái độ tiếp nhận của họ như thế nào? Và điều này đã được giải mã qua câu trả lời của Trịnh Công Sơn về hiệu ứng của công chúng đối với âm nhạc của ông, khi được hỏi: “Thế trong lúc biểu diễn đây đó, phản ứng người nghe có thuận lợi không? Trịnh Công Sơn chia sẻ: – Thật sự mỗi nơi tôi trình diễn, lại có một hứng thú riêng. Tuy vậy một trong những buổi làm cảm động có thể nói là ở Phân khoa Dược và Đại học Vạn Hạnh. Số người đến dự đông đảo không thể ngờ có đến bốn năm ngàn và phản ứng từ phía người nghe có lẽ rất đồng nhất: Một vài bà mẹ người lớn tuổi chảy nước mắt, những người trẻ có vẻ bàng hoàng và ngậm ngùi”. (16) Điều này cho thấy âm nhạc Trinh Công Sơn, trong đó có những ca khúc phản chiến đã lay động trường mỹ cảm tiếp nhận ở công chúng như thế nào!?

 2.2. Trịnh Công Sơn những nhạc phẩm thể hiện khát vọng hòa bình

Như trình bày ở trên, Trịnh Công Sơn đã phân loại chủ đề sáng tác âm nhạc của mình gồm: viết về Chiến tranh – Hòa bình – Tình yêu – Thân phận.  Và, khi được hỏi: “Sự phân loại trên có liên hệ đến hoàn cảnh của đất nước không?” Trịnh Công Sơn đã chia sẻ: “Một phần nào đó thôi. Chẳng hạn sau Ca khúc da vàng gồm những bài ca than vãn về nỗi đớn đau của đất nước, của con người, tôi bắt đầu chuyển sang tranh đấu ca và Kinh Việt Nam (tức là hòa bình ca). Sự liên tục đó cần nuôi dưỡng và nghĩ ngợi nhiều. Và cũng là tiếng nói cần thiết cho sự chuyển biến tất yếu của vận mệnh quê hương. Tuy nhiên xen lẫn trong giai đoạn này cũng có những bài ca về tình yêu và thân phận… (17) . Và, Thế Uyên, với tất cả sự thành thực của một nghệ sĩ mang nặng cảm thức tình tự dân tộc lại phải sống ở một xã hội đầy biến động như miền Nam lúc đó, ông không khỏi tự tra vấn khi giải bày: “Kể cũng kỳ lạ. Sơn và tôi cùng những người đồng lứa, chúng tôi có tuổi trẻ, quá nhiều tuổi trẻ để hưởng tình yêu cùng những mật ngọt của trần gian. Nhưng chúng tôi không sao nếm mật mà không cảm thấy vị đắng cay. Quân lực Mỹ đã đổ bộ vào Việt Nam, chiến tranh đã đổi hình thái và đặt lại cả vấn đề chính nghĩa nữa. Điều quan trọng nhất là chiến tranh đã trở thành vấn đề của mỗi nhà, mỗi người. Phải tìm cho được một cái gì biện minh nổi cho những rừng lá trụi khô, ruộng đồng bỏ hoang, cả nước đầy mồ”. (18)

Quả thật, chiến tranh đã đem đến cho dân tộc quá nhiều nỗi đau thương, tổn thất mà không gia đình Việt Nam nào lúc bấy giờ tránh khỏi nỗi đau nầy. Thế nên, khát vọng về một cuộc sống hòa bình, luôn là điều mọi người mơ ước, chờ mong, khắc khoải. Đây cũng là một cảm thức hiện hữu trong ca khúc viết về chiến tranh của Trịnh Công Sơn. Điều này đã được Tạ Tỵ nói đến như một hệ hình mỹ cảm khác từ những ca khúc viết về chiến tranh trong nhạc Trịnh Công Sơn. Theo Tạ Tỵ: “Đi từ phẫn nộ, tiếng nhạc Trịnh Công Sơn lả vào cầu khẩn với ước mong lời nói của mình được chấp nhận. Hòa bình ai mà chẳng muốn. Hai tiếng đó như lời kêu gọi thầm kín trong tâm tư mỗi con người thương nước (…) Nội dung các ca khúc trong 2 tập nhạc: Kinh Việt NamTa phải thấy mặt trời đều tỏ bày sự mong mỏi thanh bình qua những nét nhạc trầm hùng, nhưng vẫn không xóa hết được ray rứt đắng cay. Nơi đây tôi chờ/ Nơi kia anh chờ/ Trong căn nhà nhỏ/ Mẹ cũng ngồi chờ (Chờ nhìn quê hương sáng chói)”. (19)

Khát vọng chấm dứt chiến tranh để đất nước hòa bình cũng là tâm nguyện cháy lòng của Trịnh Công Sơn được nói đến trong lời mở đầu tập Kinh Việt Nam với những lời thê thiết, thành thực đến hồn nhiên và có phần lãng mạn khi ông mời gọi: “Xin hãy dừng tay và cùng chờ nhìn một mặt trời tươi trẻ sẽ được khai sinh ở phương Đông. Xin hãy dừng tay để mọi căn nhà Việt Nam có thể mở rộng cửa chờ đón một sớm mai hòa bình. Còn rất nhiều con đường mở ra cho tương lai chúng ta. Những con đường đưa ta về dựng lại một tổ quốc đích thực. Xin hãy dừng tay để được nghe ba mươi mốt triệu tiếng reo hò trong cùng một phút hân hoan. Để cho con sông, giòng suối, núi rừng và mặt đất cằn khô nầy được thở lại điều hòa”. (20)

Còn theo Thế Uyên trong bài viết “Trịnh Công Sơn Cuộc hành trình làm người Việt Nam”, Bách Khoa số 327, ngày 15/8/1970: “Lần cuối gặp nhau trước khi Trịnh Công Sơn trở về Huế, trong căn gác xếp mưa dột đầy một góc ngồi trên chiếc chiếu rách, anh có hỏi tôi: Khi đất nước thanh bình bạn bè hai bên trở về, sẽ ra sao nhỉ? Tôi không thể trả lời câu hỏi ấy, nhưng tôi biết khi thanh bình, tôi sẽ làm gì. Tôi sẽ ra Huế, kiếm Trịnh Công Sơn, và sẽ rủ anh làm như trong một bản nhạc anh đã đặt tên “Tôi sẽ đi thăm”: “Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thắm/ Tôi sẽ đi thăm một phố đầy hầm/ Đi thăm một con đường nhiều hố/ Khi đất nước tôi thanh bình,/ Tôi sẽ đi thăm cầu gẫy vì mìn/ đi thăm hầm chông và mã tấu / Khi đất nước tôi không còn giết nhau/ Trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường/ Khi đất nước tôi thanh bình/ Tôi sẽ đi không ngừng/ Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam/ Tôi đi chung cuộc mừng và mong sẽ quên chuyện non nước mình… Đi chung cuộc mừng và quên chuyện non nước mình… Tới đây có lẽ mới là tận cùng của cuộc hành trình làm người Việt Nam, và có lẽ cũng tới đây Sơn và tôi mới hy vọng sẽ chỉ còn một việc là: làm tình ca và viết chuyện tình rất viễn mơ. Dĩ nhiên là với điều kiện lúc đó phải quên được: “Khi đất nước tôi không còn chiến tranh/ Bạn bè mấy đứa vừa xanh nấm mồ…” (21).

Tinh thần phản chiến và khát vọng hòa bình, là một trong những chủ đề có tính phổ quát trong sáng tác văn nghệ ở miền Nam 1954-1975. Thế nên lời nguyện cầu hòa bình trong nhạc Trịnh Công Sơn cũng chính là khát vọng hòa bình trong thơ miền Nam lúc bấy giờ. Đó là một khát vọng với những ước mơ bình thường, thánh thiện nhưng cao đẹp và nhân văn, rất thực và cũng rất lãng mạn trong thơ Linh Phương. Và nếu trong ca khúc “Huế – Sài Gòn – Hà Nội” của Trịnh Công Sơn, khát vọng hòa bình gắn với khát vọng thống nhất đất nước để được tự do ra Bắc vào Nam thì ở bài thơ “Trong ngày hòa bình” của Linh Phương, ta cũng bắt gặp cảm thức này: “Tôi muốn nói cùng em trong ngày hòa bình/ Ngày với chuyến tàu suốt từ Sài Gòn ra Hà Nội/ Ngày về thăm cửa ô Cầu Giấy/ Ngày về thăm đê Yên Phụ/ Về thăm dòng sông Hồng đục ngầu phù sa đỏ/ Thăm tình nhân bên kia chiếc cầu lịch sử Hàm Rồng”. (“Trong ngày hòa bình” – Linh Phương).

Có thể nói, khát vọng hòa bình là hệ giá trị nhân văn trong văn nghệ miền Nam 1954-1975, trong đó có âm nhạc Trịnh Công Sơn. Đây cũng là một tâm thức luôn hiện hữu trong đời sống văn nghệ miền Nam và thể hiện khá sâu sắc và giàu mỹ cảm trong sáng tác của văn nghệ sĩ ở hầu hết các thể loại văn nghệ.

2.3. Trịnh Công Sơn và những ca khúc viết về tình yêu

Trong sự nghiệp âm nhạc của mình, bên cạnh những ca khúc viết về chiến tranh với tinh thần phản chiến và những ca khúc thể hiện khát vọng hòa bình, Trịnh Công Sơn còn dành phần lớn trí lực và tâm cảm của mình cho những ca khúc về tình yêu mà ca khúc nào cũng để lại trong lòng người nghe những dấu ấn khó mờ phai không chỉ ở ca từ mà còn ở âm giai của nó. Vì thế, nhạc phẩm đầu tay của Trịnh Công Sơn, được chính nhạc sĩ khẳng định là Ướt mi sáng tác năm 1958, do ca sĩ Thanh Thúy biểu diễn đã làm nên tên tuổi của ông, mặc dù trước đó, trong một lần trả lời câu hỏi “về việc sáng tác từ hồi nào? Trịnh Công Sơn cho biết anh sáng tác từ năm 1957, bài đầu tiên là bài Sương đêm, Hà Thanh hát ở đài Huế” (22). Và Ướt mi không viết về chiến tranh mà viết về tình yêu và thân phận. Đó là nhạc phẩm mà ca từ và giai điệu đầy xa xót ưu tư, với những nức nở, thương đau về phận người. Vì vậy, có thể nói, tình ca của Trịnh Công Sơn bao giờ cũng gắn với những nỗi đau thân phận. Đó là những bài tình ca dù chất chứa đau thương, tan vỡ, sầu buồn nhưng không hề bi lụy. Tuy nhiên, không vì thế mà tình ca Trịnh Công Sơn lại thiếu vắng những đắm say nồng nàn vốn là những yếu tính của tình yêu. Tạ Tỵ cho rằng: “Chẳng cứ gì ở những ca khúc viết về chiến tranh và quê hương, Trịnh Công Sơn mới có những dằn vặt, xót xa đâu. Nhạc tình của Trịnh Công Sơn là sự giao thoa của âm thanh và ngôn ngữ thi ca cũng nói lên đầy đủ ý nghĩa trên. Tiếng nói của tình yêu và tuổi trẻ đối với Trịnh Công Sơn, hình như muôn thưở vẫn chỉ là lời dặn dò của ly cách. Những câu ân tình biến thành giọng than van thê thiết với từng âm giai lả lả trôi về nẻo trời quạnh hiu nào đó. Sự cuồng nhiệt đam mê bỏng cháy ở đầu môi không thuộc về nét nhạc của Trịnh Công Sơn”. (23)

Thật vậy, mỹ cảm trong nhạc Trịnh Công Sơn là mỹ cảm về những nỗi đau và niềm tuyệt vọng của phận người. Hệ mỹ cảm này đã trở thành tâm thức hiện sinh trôi trong giai điệu của nhạc Trịnh Công Sơn ở hầu hết các loại thể tài, dù ông viết về tình yêu, chiến tranh, hòa bình thì cũng không thoát ra được nỗi đau của phận người.  Phải chăng, chính cuộc đời Trịnh Công Sơn cũng là hiện thân của nỗi đau thân phận. Đây cũng là điều mà Tạ Tỵ đã xác quyết: “Có lẽ định mệnh đã đưa đường tài năng, nên dù ở chiều suy tư nào, Sơn cũng cố tìm về cho mình những góc cạnh đau thương với những hoài nghi, chán chường. Ngôn ngữ đi qua nhạc như nhức mỏi, buốt giá, làm tê cóng tâm hồn: … Trời còn làm mưa, mưa rơi, mưa rơi!… Từng phiến băng dài trên hai tay em xuôi, tuổi buồn em mang đi trong hư vô ngày qua hững hờ…. Trời còn làm mưa, mưa rơi mưa rơi!… Từng phiến mây hồng em mang trên vai, tuổi buồn như lá, gió mãi cuốn đi quay tận cuối trời (Tuổi đá buồn)”. (24)

Có lẽ, Tạ Tỵ cũng đã bị sức hút “ma quái” của giai điệu và ca từ trong những tình khúc của Trịnh Công Sơn, như Ướt mi, Diễm xưa, Tuổi đá buồn, Còn tuổi nào cho em, Như cánh vạc bay, Nắng thủy tinh, Hạ Trắng, Tình sầu, Biển nhớ, Nhìn những mùa thu đi… mê hoặc. Vì thế, khi luận bàn về tình ca của Trịnh Công Sơn, Tạ Tỵ như bị chìm vào cõi sâu thẳm và huyền diệu của vũ trụ tình ái trong nhạc Trịnh Công Sơn, khiến ta có cảm giác, dường như Tạ Tỵ “lo sợ” mình không đủ ngữ ngôn để diễn giải chiều sâu tâm cảm trong ca từ giàu mỹ cảm triết học ở nhạc Trịnh Công Sơn. Nhưng, chính ở phương diện này cho thấy sự liên tài, đồng vọng giữa những nghệ sĩ có trái tim đa sầu, đa cảm và một tâm thức ưu lo trước cuộc nhân sinh.

Ta hãy lắng lòng đọc những lời bình của Tạ Tỵ về tình ca Trịnh Công Sơn sau khi thưởng thức nhạc phẩm Tuổi đá buồn: “Âm thanh lướt đi nghe tha thiết, nghẹn ngào rồi kéo dài trong không gian như cơn gió đêm thu thổi lùa giữa rừng sâu. Nhạc tình của Trịnh Công Sơn, hay, hay lắm. Nó đắm đuối trong khung cảnh hoang sơ mà con người có mặt như những chứng tích lạc loài. Từng chùm hoa dã thảo thả xuống tự trời cao bay bạt ngàn trong không gian bát ngát. Tiếng hát, ôi tiếng hát đã cất lên thăm thẳm mịt mùng như bủa vây nỗi buồn không vượt thoát. Tiếng hát dìu âm thanh đi đến cuối trời tiếc nuối, ở đó đã chờ sẵn biệt ly. Thời gian mong manh, tuổi đời mong manh, hy vọng mong manh, tình yêu mong manh, tất cả những mong manh đó như muốn tan ra, muốn xóa nhòa vào hư vô, để cát bụi lại trở về cát bụi. Tâm hồn Trịnh Công Sơn hình như bị quấn chặt bởi lớp lớp bi thương, nên dù cho tình yêu có đến, hoa đời có ngát hương, chăn chiếu đời có nồng men ân ái thì với Sơn, nó vẫn là ảo tưởng, vẫn cho đau buồn hơn nguồn vui, vì nguồn vui không nằm trong khuôn khổ cuộc sống hôm nay”. (25)

Và mặc dầu bị “mê hoặc”, bị “đắm say” bởi giai điệu và ca từ trong những tình khúc Trịnh Công Sơn, thế nhưng với tư duy của một nhà phê bình, Tạ Tỵ vẫn rất tỉnh táo, thoát ra khỏi sự quyến rũ trong mê cung tình ca Trịnh Công Sơn để chia sẻ cảm nhận của mình về những giá trị riêng có trong nhạc tình của Trịnh, khi cho rằng: “Đối với Trịnh Công Sơn chẳng những cuộc đời là không trọn vẹn, ngay cả tình yêu cũng chỉ là sầu nhớ, mộng mơ! Vì thế nét nhạc tình của Sơn luôn luôn bải hoải cung bậc, nhưng cái bải hoải ở đây không chứa đựng thất bại mà nó chứng minh cái nhìn của Sơn về tình yêu không nằm trong ước lệ bình thường. Nó là vóc dáng tuyệt đối của cái đẹp xuyên qua ý nghĩ. Nó là tuổi trẻ đi tìm bóng mình qua kẻ khác. Từng dòng lệ trôi đi, từng cánh lá trôi đi, từng tháng ngày trôi đi và tuổi trẻ này với cơn đau ấy cũng trôi đi, trôi đi mãi mãi: Tuổi nào nhìn lá vàng úa chiều nay… (…) Xin cho cô đơn vào tuổi này/ Tuổi nào lang thang thành phố tóc mây cài…Còn tuổi nao cho em”. (26)

Tôi đồng ý với Tạ Tỵ trong phần luận giải về sự diệu kỳ của tình yêu trong âm nhạc Trịnh Công Sơn khi ông cho rằng tình yêu trong nhạc Trịnh Công Sơn “là vóc dáng tuyệt đối của cái Đẹp xuyên qua ý nghĩ” và theo tôi, đó còn là cái Đẹp của sự “thánh thiện”. Nhưng tôi không đồng ý với Tạ Tỵ khi ông cho rằng đó “là tình yêu tuổi trẻ đi tìm bóng mình qua kẻ khác”, mà theo tôi, đó là hệ giá trị của tình yêu chân chính, đúng với nghĩa, tình yêu là “tôn giáo thứ nhất của loài người” (từ dùng của Quỳnh Dao – HA), vì, bất luận trẻ hay già, khi yêu, con người vẫn trải qua những trạng thái xúc cảm như thế!? Bởi, bản thân tình yêu không bao giờ có tuổi. Chính vì thế, nhạc của Trịnh Công Sơn, trong đó có tình ca đều nhận được sự yêu thích của mọi lứa tuổi, mọi thế hệ con người. Điều này đã được minh chứng qua thời gian. Có thể nói, nhạc Trịnh Công Sơn, trong đó có những tình khúc viết về tình yêu là những sáng tạo “nghệ thuật vượt lên định mệnh” (từ dùng của André Maurois – HA) để trở thành bất tử trong lòng công chúng, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà ở cả phạm vi quốc tế. Bởi âm nhạc Trịnh Công Sơn đã chạm đến trái tim của nhân loại vì những giá trị nhân bản mang tính phổ quát của lời ca và giai điệu. Và theo Tạ Tỵ: “Ca khúc Diễm xưa, một ca khúc rất nỗi tiếng chẳng những trong nước còn ở quốc tế. Đại hội dân ca quốc tế lần đầu tại Nhật Bản vào tháng 11/1970, tiếng hát Khánh Ly đã làm cho ngàn vạn con người say mê âm nhạc lắng nghe, ngưỡng mộ”. (27)

Không chỉ nhận thấy giá trị nhân văn trong tình ca Trịnh Công Sơn, Tạ Ty còn luận giải cảm nhận của mình về đặc điểm diễn biến tâm trạng của cái tôi trữ tình trong ca khúc Trịnh Công Sơn mà theo Tạ Tỵ: “Nhạc tình Trịnh Công Sơn đều đi chung một khuôn thước. Ở đấy buồn, thương pha trộn, cuối cùng là bâng khuâng, tưởng tiếc trong âm thanh ngất ngây (…) và ngàn năm vẫn không phai giận hờn định mệnh!” (28). Tôi đồng cảm với Tạ Tỵ về việc luận giải thế giới tâm trạng đầy phức cảm trong tình ca Trịnh Công Sơn. Và cái “khuôn thước” trong tình yêu với nhiều cung bậc ở nhạc Trịnh cũng là mẫu số chung của những tình yêu không thể vượt qua sự oan nghiệt của định mệnh. Phải chăng, vì thế, những tình yêu này đã trở thành bất tử, thành mơ ước của con người, hướng đến tình yêu chân chính, cao thượng và chung thủy, mặc dầu đó là những tình yêu không kết thúc “có hậu” dù theo kiểu nào. Thế nên, những phức cảm tình yêu dang dở này, hiện hữu rất nhiều trong tình khúc Trịnh Công Sơn như: Tình xa, Tình sầu, Tình nhớ, Tình xót xa vừa, Nghe những tàn phai… Và theo tôi, có lẽ đây cũng là những “tượng đài tình ca” Trịnh Công Sơn để lại trong tâm cảm người yêu âm nhạc của ông còn mãi với thời gian. Bởi, như Thế Uyên khi cảm nhận về tình khúc của Trịnh Công Sơn đã chia sẻ: “Trịnh Công Sơn xuất hiện mỗi ngày một nổi danh vì những bản nhạc của mình. Những bản tình ca của anh được lớp trẻ hoan nghênh dữ đội và phổ biến sâu rộng: Không ngồi nơi nào không nghe thấy những âm điệu của anh. Nhưng tôi biết anh không thể ngừng ở đây, không thể chỉ là một người làm tình ca cho thiên hạ yêu nhau”.(29)

Sống trong khí quyển chiến tranh ở miền Nam lúc bấy giờ, dù viết về đề tài tình yêu hay thân phận thì những bi kịch phận người trong chiến tranh với bao mất mát, đau thương luôn ám ảnh cảm thức hiện sinh của người nghệ sĩ mà Trịnh Công Sơn không phải là ngoại lệ. Vì thế, theo Tạ Tỵ: “Có lẽ Trịnh Công Sơn bị ám ảnh quá nhiều về cuộc chiến, nên ngay trong tình yêu, vẫn thấy thấp thoáng nỗi lo sợ nào ẩn nấp giữa chiều sâu tiềm thức, và tình yêu chẳng phải những lời hò hẹn ngay tình, nó được hình dung qua nỗi buồn và nước mắt (…) Bởi vậy, dù cuộc tình có lên cao vút cũng mỏi cánh xa lìa bầy, rời bỏ đường bay. Cơn buồn phiền của tình yêu trong nhạc Trịnh Công Sơn nó kéo dài theo năm tháng. (…) Tình yêu như vết cháy trên da thịt người/ Tình xa như trời/ Tình gần như khói mây … Tình yêu như cơn bão đi qua địa cầu… Tình đầy tình xa nhau”. (30)

Rõ ràng những chấn thương tình yêu mà Trịnh Công Sơn đề cập đến trong những bản tình ca là tất yếu của những ưu lo về thân phận con người trong chiến tranh mà không một ai sống ở miền Nam lúc bấy giờ có thể thoát ra khỏi những ưu lo đó. Đây cũng là một chủ đề được nói đến khi luận bàn về nhạc Trịnh Công Sơn trong đời sống văn nghệ miền Nam 1954-1975.

2.4. Trịnh Công Sơn và những ca khúc viết về thân phận

Có thể nói, trong nhạc Trịnh Công Sơn, ngoài chủ đề viết về chiến tranh, hòa bình, tình yêu, chủ đề thân phận con người cũng là nỗi ám ảnh sâu sắc trong nhạc của ông. Các bình diện này hòa quyện với nhau một cách biện chứng, nên khi luận bàn vấn đề này không thể, không luận bàn về vấn đề kia. Chiến tranh – Hòa bình – Tình yêu – Thân phận có thể nói là những từ trường cảm xúc trong nhạc Trịnh Công Sơn mà từ trường nào cũng lấp lánh ánh sáng tâm hồn và trí tuệ giàu mỹ cảm của người nhạc sĩ thiên tài mà sự nghiệp âm nhạc với hàng trăm ca khúc của ông để lại cho đời là một minh chứng đầy thuyết phục.

Theo Tạ Tỵ: “Nguồn cảm hứng của Trịnh Công Sơn không chỉ ở trong môi trường phẫn nộ, hoặc bàng bạc trong tình yêu với tuổi trẻ hư không, nó còn quay nhìn thân phận. Những ca khúc viết về thân phận cũng chỉ là đi tìm cái hữu hạn của kiếp sống. Sự hiện diện của mỗi số phận bắt buộc phải đi qua một khoảng thời gian nào đó, do định mệnh an bài và cái không gian vô tình phải nhận diện (…) những ca khúc viết về thân phận ít nhiều cũng mang nặng trong nó, nỗi thống khổ của riêng mình trước bạo cảnh trần gian: Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi / Để một mai vươn hình hài lớn dậy/ Ôi cát bui tuyệt với/ Mặt trời so một kiếp rong chơi/ Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi / Để một mai tôi về làm cát bụi/ Ôi cát bụi mệt nhoài/ Tiếng động nào goc nhịp không nguôi... (Cát bụi)”.(31)

Thân phận con người trong nhạc Trịnh Công Sơn qua cảm nhận của Tạ Tỵ đó là những tháng năm: “Kiếp người phải kéo lê trong vòng cương tỏa của xã hội với biết bao cố gắng, bao đam mê, bao thất vọng. Nhìn cuộc đời cỏ đấy với lá úa, với mái tóc như vôi, với mặt trời soi sáng con tim hun nóng từ ngày này qua ngày khác để biến tình thành đá cuội và cái vũng hư không lúc nào cũng mở ra chào đón con người trở về cùng cát bụi. Nhưng con người sự thực, vẫn không chấp nhận dễ dàng quan điểm đó. Nó vượt lên bằng ánh sáng tâm linh, nó phản đối lại cái hữu hạn bằng cách tìm miên viễn qua ý thức, nó trộn lẫn hai miền sống chết để thấy rõ ý nghĩa Vô Thường. Do đó nó tồn tại trong dòng sống như một vòng quay không dứt đoạn, nối tiếp và nối tiếp…” (32). Có thể nói, đây là một cái nhìn tích cực, có tính biện chứng trong tư duy luận lý của Tạ Tỵ về thân phận con người trong nhạc Trịnh Công Sơn.

Suy nghĩ và trăn trở về thân phận con người, qua âm nhạc, Trịnh Công Sơn đã đặt vấn đề mang tính siêu hình về bản thể luận, để đi tìm câu trả lời, con người đến từ đâu? đến từ khi nào? sẽ đi về đâu?… Và theo Tạ Tỵ: “Câu hỏi ấy hình như chưa ai trả lời minh triết được, nên băn khoăn vẫn còn nguyên vẹn. Cuộc hành trình đi tìm Vô Cùng vẫn giữ kín trong vóc dáng hai chàng Lưu Nguyễn thưở nào. Từ hoang sơ xưa cho đến hiện tại, vẫn nhịp đời đó thôi, và con người, được Sơn hình dung như một vật vô tri lăn mình giữa cuộc thế, với phiến đá ưu phiền có in dấu chân muông thú: … Người đi phiêu du từ đó chưa thấy về quê nhà, rộng đôi cánh tay chờ mong/ Người đi chợt nhớ mình như đá, đá lăn vết lăn buồn…/ … Từ cơn đau ấy lưu thân mõi mòn/ Ôi mắt than van xin lời thánh đêm… (Vết lăn trầm) Nghĩ về thân phận  tức là truy nguyên nguồn gốc sự sống, muốn tìm về an ủi trong nỗi bơ vơ sợ hải”. (33)

Có thể nói, cảm thức về thân phận con người trong nhạc Trịnh Công Sơn, suy cho cùng là một sự chấp nhận đời sống phi lý và cô đơn của kiếp lưu đày theo cái nhìn của chủ nghĩa hiện sinh mà Trịnh Công Sơn với bằng Tú tài ban Triết, không thể, không chịu ảnh hưởng khi suy tưởng về sự tồn sinh của phận người, vì không tìm thấy niềm tin vào xã hội mình đang sống, không những thế còn bị “dập vùi” trong cuộc chiến đảo điên. Và, khi niềm tin đã mất: “Trịnh Công Sơn có thể làm một kẻ lãng du vô trách nhiệm đi dong chơi giữa cuộc sống. Cái vòng lẩn quẩn sáng, trưa, chiều, tối kia nó bắt buộc con người phải tuân hành luật thời gian. Biết rằng phi lý, vẫn cứ phải níu lấy phi lý mà hành động. Một ngày như mội ngày/ Bóng đổ một mình tôi (Một ngày như mọi ngày)” (34). Vì thế, thân phận con người trong nhạc Trịnh Công Sơn là một vòng bế tắc đến phi lý, họ chỉ còn biết vùi chôn cuộc đời trong những năm tháng cô đơn của kiếp lưu đày mà Abert Camus đã nói đến qua hình tượng Sisyphus trong “Huyền thoại Sisyphus”.

Và dẫu biết cái hữu hạn của thân phận con người là thế, nhưng sẽ có những điều làm cho con người có thể vượt lên cái hữu hạn của kiếp người, để trở thành bất tử đó là tài năng sáng tạo những giá trị để lại cho đời. Đây là điều chúng ta có thể nhận thấy trong hành trình lao động nghệ thuật của Trịnh Công Sơn. Đó là hành trình đầy ý thức sáng tạo để vượt lên giới hạn, làm mới mình, làm khác mình trong từng giai điệu, từng ca từ để làm thế nào tăng cường “hiệu năng truyền cảm” cho người tiếp nhận. Vì vậy, trong cái nhìn của Tạ Tỵ: “Đối với Trịnh Công Sơn, hơn 10 năm làm nhạc, với những ca khúc đã nỗi tiếng trong và ngoài nước, Sơn chỉ coi như giai đoạn tập dượt, học hỏi và thử thách. Sơn đang suy nghĩ và tìm kiếm chiều hướng mới cho nét nhạc của mình. Sự tìm kiếm đòi hỏi nhiều điều kiện trong đó có phần tự vượt. Trịnh Công Sơn hiểu rõ điều ấy, nên rất thận trọng và âm thầm nghiên cứu, tìm tòi để tiến bộ. Ý thức được tiến hóa, nên Trịnh Công Sơn không bao giờ chủ quan vấn đề sáng tác. Vì cuộc sống làm gì có chân lý tuyệt đối, ngay cả nghệ thuật. (…) Âm nhạc cũng đổi thay không ngừng, từ thể nhạc, cách cấu tạo, hình thức phô diễn tư tưởng cũng như nhạc ngữ. Cái bí ẩn của đời sống là một bất toàn (imparfait) và ngược lại, vì thế, người nghệ sĩ phải tìm Tuyệt Đối trong Tương Đối, tìm Vô Hạn trong Hữu Hạn, tìm Vô Thể trong Hữu Thể. Vấn đề này được biểu hiện rõ trong địa hạt nghệ thuật mới hôm nay, nói chung” (35). Phải chăng, âm nhạc của người nhạc sĩ thiên tài Trịnh Công Sơn đã làm được điều đó một cách diệu kỳ trong cuộc hợp hôn lạ thường của định mệnh, khi nhạc Trịnh giao hòa với tiếng hát Khánh Ly từ lúc hai người “vô tình” gặp nhau ở thành phố Đà Lạt sương mờ.

3. Trịnh Công Sơn và nhân duyên âm nhạc với Khánh Ly

 Đời sống âm nhạc miền Nam (1954-1975) đã có những mối nhân duyên giữa nhạc sĩ và ca sĩ, trở thành những “cặp đôi hoàn hảo” trong cảm nhận của công chúng như: Phạm Duy – Thái Thanh; Châu Kỳ – Mộc Lan; Trịnh Công Sơn – Khánh Ly; Lê Uyên – Phương. Riêng sự gặp gỡ giữa Trịnh Công Sơn và Khánh Ly, không chỉ là nhân duyên mà là cuộc gặp gỡ định mệnh như lời chia sẻ của Khánh Ly trong tự truyện Đằng sau những nụ cười, khi ca sĩ xác quyết: “Tôi không bao giờ hối tiếc. Trong đời tôi cũng đã gây nhiều lầm lỡ. Ân hận hối tiếc đã nhiều. Những vấp ngã ít người tránh khỏi. Nhiều hay ít mà thôi. Song trời đưa đẩy tôi gặp Sơn. Trời cho tôi những ngày đẹp đẽ đáng yêu nhất. Tôi không bao giờ hối tiếc. Nếu có kiếp sau. Tôi cũng xin gặp lại Sơn, như đã gặp. Ở Đà Lạt, Ở Việt Nam, Ở Trong đời”. (36)

Nhà nghiên cứu Trần Hoài Anh – tác giả bài viết

Hình như điều xác tín ấy chưa đủ nói lên tình yêu lớn và cuộc gặp gỡ định mệnh giữa mình với người nhạc sĩ thiên tài Trịnh Công Sơn, nên ở trang đầu và cuối của cuốn sách, Khánh Ly đã cho in chính thủ bút của mình với lời đề từ đầy tin yêu, đầy nỗi đau và sự tiếc nuối, khi Khánh Ly giải bày: “Hình như chưa bao giờ mình nói yêu nhau. Nếu bây giờ em nói. Có kịp không. Nếu quả thật có kiếp sau. Em sẽ xin thêm ngàn kiếp nữa để yêu anh”. Phải chăng, vì thế, khi luận bàn về nhạc Trịnh Công Sơn không thể, không nói đến tiếng hát Khánh Ly, một tiếng hát mà người yêu nhạc tôn vinh là “tiếng hát huyền thoại”. Đây cũng là điều, khi luận bàn về hành trình sáng tạo và sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn, Tạ Tỵ không thể không luận về tiếng hát Khánh Ly. Theo Tạ Tỵ: “Có lẽ trời bắt giọng ca Thái Thanh thuộc về Phạm Duy, thì tiếng hát Khánh Ly phải dành cho Trịnh Công Sơn. Sự thành công của Trịnh Công Sơn hôm nay, một phần là nhờ vào tài trình diễn của Khánh Ly vậy”. (37) Và đây là một hằng số văn hóa trong tâm thức công chúng khi thưởng thức nhạc Trịnh.

Trong cảm nhận tinh tế và sâu sắc của Tạ Tỵ: “Tiếng hát Khánh Ly có âm hưởng đặc biệt. Nó không cao vút, hoặc thanh thoát ở giọng hát bình thường. Nó ẩm đục, vướng nghẹn như niềm vui chợt mất. Nó bâng khuâng như cơn mưa vội đến. Nó tuyệt vọng như cánh chim non, bay lạc trong cơn giông tố mịt mù. Nó đam mê giữa hơi thở chán chường. Nó khóc ngất rồi lịm chết trong nguồn đau vô hạn! Tiếng hát hình như có pha rượu và khói thuốc của từng khuya quên ngủ. Nó rót vào hồn người những thanh âm não nùng ngây ngất! …” (38) . Luận bàn về giọng hát Khánh Ly của Tạ Tỵ, với ngữ ngôn như thế là vô cùng hàm súc, khó ai có thể viết hay hơn, chỉ có thể cảm nhận khác đi mà thôi. Không có một tâm hồn nghệ sĩ đạt đến mức “thượng thừa”, khi vừa là một họa sĩ, một thi sĩ, lại là một nhà phê bình tài năng, Tạ Tỵ khó viết được những lời “có cánh” và giàu mỹ cảm triết văn như thế!?

Theo Tạ Tỵ: “Ca khúc Diễm xưa, một ca khúc rất nỗi tiếng chẳng những trong nước còn ở quốc tế. Đại hội dân ca quốc tế lần đầu tại Nhật Bản vào tháng 11/1970, tiếng hát Khánh Ly đã làm cho ngàn vạn con người say mê âm nhạc lắng nghe, ngưỡng mộ. Khánh Ly cũng đã trình bày ca khúc này bằng tiếng Nhật tại Expo 70 – Osaka, được hoan nghênh nhiệt liệt”. (39) Và điều này, thêm một lần nữa được xác chứng khi Trịnh Công Sơn nói về “sự phổ biến nhạc của mình ở nước ngoài”: “Nhạc của tôi được phổ biến hầu hết trên khắp thế giới. Gần như tôi đã có mặt trên tất cả vô tuyến truyền hình của thế giới như Mỹ (CBS, NBC) Pháp, Nhật, Anh (BBC), Đức, Đan Mạch…Những tờ báo lớn cũng đã có bài về tôi như News Week, le Monde, Combat, Humanité, New York Time, New Yorkers, Mainichi, Yuomuri… Hiện giờ ở Nhật là nơi đang thịnh hành nhất những bài nhạc của tôi như: Tôi sẽ đi thăm, Mẹ ru con ngủ, Diễm xưa, Ca dao mẹ… Trong đó Bài “Mẹ ru con ngủ” đã được đĩa vàng và đứng đầu một tháng liền ở Nhật. Bài “Diễm Xưa” mới đây được chọn vào chung kết ở đại hội dân ca quốc tế ở Pháp, Đức cũng rất được phổ biến qua bande (40). Và những nhạc phẩm nỗi tiếng thế giới đều được truyền tải qua tiếng hát huyền thoại của Khánh Ly.

Như vậy, với tiếng hát huyền thoại của Khánh Ly, nhạc Trịnh Công Sơn đã vượt ra ngoài phạm vi dân tộc để đến với nhân loại. Đây không phải là vinh dự cho riêng ông hay cho ca sĩ Khánh Ly, đó còn là niềm tự hào cho dân tộc Việt Nam khi có những người con dân nước Việt, bằng tài năng nghệ thuật của mình đã làm rạng danh nòi giống Lạc Hồng. Và như Trịnh Công Sơn đã chia sẻ trong lời nói đầu tập ca khúc Kinh Việt Nam, (Nhân bản xuất bản tại Sài Gòn, 1968), khi xác quyết: “Tiếng hát đã có thể cất lên để nuôi lớn ước mơ”. (41) thì tiếng hát huyền thoại của Khánh Ly, khi cất lên đã /đang /sẽ “nuôi lớn ước mơ” cho con người. Đó là ước mơ không có chiến tranh để nhân loại sống trong hòa bình, hạnh phúc để mơ về những tình yêu cao đẹp, trong sáng, thánh thiện và nhân bản mà âm nhạc Trịnh Công Sơn và tiếng hát của Khánh Ly mang đến, không chỉ cho người dân Việt Nam mà cho cả nhân loại trên hành tinh này luôn hướng đến những giá trị nhân văn…

4. Thay lời kết

Có thể nói trong tiến trình vận động và phát triển của nền âm nhạc Việt Nam nói chung và âm nhạc miền Nam nói riêng, Trịnh Công Sơn là một trường hợp đặc biệt cả trong nội dung tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện nên đã tạo một hiệu ứng nghệ thuật riêng có trong sự tiếp nhận của công chúng yêu nhạc. Điều này đã được các nhà lý luận phê bình văn nghệ ở miền Nam (1954-1975) luận giải một cách thấu đáo cả về phương diện lý luận và thực tiễn.

Âm nhạc Trịnh Công Sơn trong cảm thức Tạ Tỵ luôn chứa “những bất ngờ”, luôn đi theo “những chiều hướng mới” nên tạo “được ân tình thấm thiết trong lòng những người yêu nhạc như yêu đời sống của mình” nên theo sự xác quyết của Crystal Erhart, một nhà báo Mỹ hiện diện ở miền Nam lúc ấy, đã tìm hiểu nhạc Trịnh, đã phỏng vấn Trịnh Công Sơn, mà theo Tạ Tỵ, đó là người “có cái nhìn khách quan khi nói về đời sống và nhạc Trịnh Công Sơn, đã cho rằng: “Với 28 tuổi đời, Sơn đã có một tước vị cao trọng của một người khi hát lên những đau khổ của cả một Dân Tộc” (42). Còn trong cảm thức của Thế Uyên, khi gặp Trịnh Công Sơn, Thế Uyên “rất mong được nghe Sơn hát” và: “Khi Trịnh Công Sơn bắt đầu hát, tôi chú ý nghe bởi vì Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có lần chê tôi là: “không biết Trịnh Công Sơn thì kể như chưa biết gì về văn nghệ miền này. Nhưng ngay lập tức, tôi không cần phải chú ý nữa – Tôi đã bị chìm ngập ngay vào trong thế giới âm thanh của Trịnh Công Sơn. Tôi vẫn vơ theo dõi những viên đá, hay một viên đá, lăn trầm bồng bềnh trong cuộc đời, Tôi cầu xin mặt trời ngủ yên cho đàn bò đi vào thành phố qua những giáo đường tình yêu… Khi Sơn đã ngừng hát tôi vẫn còn sững sờ vì không thể ngờ nổi ở Việt Nam lại có thể xuất hiện những bản nhạc như thế. Những âm thanh lê thê, những hình ảnh hoang tàn, rã rời, nhưng… tôi vẫn cảm thấy một sức mạnh tiềm tàng lẩn khuất trong từng âm thanh của bản nhạc, trong những người đang ngồi quanh dưới các ánh nến chập chờn và những bóng đen lung linh trên vách đất” (43).

Những điều này có thể được xác tín qua sự chia sẻ của Trịnh Công Sơn trong lời nói đầu tập Kinh Việt Nam, khi ông xác quyết: “Tiếng hát đã có thể cất lên để nuôi lớn ước mơ. Ta đã có săn một hành trang quí giá của hơn bốn nghìn năm để còn mãi bước đi trên những lộ trình mới về tương lai. Ta phải đi tới bằng con tim sứ giả mang niềm tin và lời hứa hẹn của những người đã nằm xuống. Ta phải tìm lại quê hương bằng sức sống mãnh liệt vì trong cơ thể ta đã luân lưu thêm giòng, máu của anh em không còn. Quanh đây, những trường học, những bệnh viện, những đình làng, những phiên chợ, những cánh đồng sẽ được bắt đầu lại với những ngày nhân đạo – với một dân tộc nhân bản. Xin đừng bao giờ làm kẻ phản bội với một quá khứ hiển linh”. (44) Bởi, trong suy niệm của Trịnh Công Sơn ở lời tựa Tự tình khúc, ông đã viết: “Chúng ta đã đấu tranh. Đang đấu tranh. Và có thể còn đấu tranh lâu dài. Nhưng tranh đấu để giành lại quyền sống, để làm người, chứ không để trở thành anh hùng hay làm người vĩ đại. Cõi người từ khước tước hiệu đó”. (45)

Điều Trịnh Công Sơn tâm nguyện hơn nửa thế kỷ qua đã thức nhận cho mỗi người con dân Việt Nam trong cuộc sống hôm nay về ý thức trách nhiệm đối với dân tộc, với quê hương khi mình đã / đang/ sẽ được sống những ngày hòa bình, hạnh phúc trên một đất nước thống nhất, trong tình dân tộc nghĩa đồng bào, để làm thế nào đóng góp sức mình, dù nhỏ bé cho sự tồn sinh và hưng thịnh của đất nước trong kỷ nguyên mới của thời kỳ hội nhập, phát triển trong xu hướng toàn cầu hóa.

Xóm Đình An Nhơn, Gò Vấp 23.3.2026

PGS-TS TRẦN HOÀI ANH

______________________

(1) (2) (3) (4) (6) (9) (10) (11) (19) (23) (24) (25) (26) (27) (28) (30) (31) (32) (33), (34) (35) (37) (38) (39)  (42) Tạ Tỵ, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Lá Bối xuất bản, Sài Gòn 1972, tr.14, tr.14, tr.23, tr.27, tr.27, 28, tr.29, 30, tr.30, 31, tr.32, 33, tr.37, 38, tr.39, tr.39, 40, tr. 40, tr.42,43, tr.41, tr.44, tr.44, 45, tr.46, 47, tr. 47, 48, tr. 48, 49, tr. 51, 52, tr. 53, 54, tr. 41, tr. 41, 42, tr.41,tr. 64

(5) (15) (16) (17) (22) (40) Trần Hữu Lục, “Phỏng vấn Trịnh Công Sơn về nỗi khó khăn của người cầm bút” Ý thức số 9 -10 ra ngày 1/3/1971, tr.1, tr.2, tr.2, tr.2, tr.1, tr.2, 3

(7) (20) (41) (44) Trịnh Công Sơn, Kinh Việt Nam, Nhân bản ấn hành năm, Sài Gòn, 1968, tr.2, tr.3, tr.3, tr.3

(8) Trịnh Công Sơn, Phụ khúc da vàng, Nhân bản ấn hành, 1972, tr.3

 (12) (13) (14) (18) (21) (29) (43) Uyên Thao, “Trịnh Công Sơn Cuộc hành trình làm người Việt Nam” Bách Khoa số 327 ra ngày 15/8/1970, tr. 50, 51, tr. 52, tr.52, tr. 48, 49, tr. 53, tr. 48, tr. 48

 (36) Khánh Ly, Đằng sau những nụ cười, Nxb. Văn học, H, 2015, tr.26

(45) Trịnh Công Sơn, Tự tình khúc, Nhân bản ấn hành, 1972, tr.4

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *