Vua không ngai – Tiểu thuyết dã sử của Phan Đức Nam – Kỳ 4

Vanvn- Sau trận Tam Lộng, Thống quản chỉ huy Thập cơ tiền quân là Phạm Văn Lý viết tờ tâu, cho lính trạm phi ngựa mang về triều.

Nhà văn Phan Đức Nam (thứ 3 từ trái sang) cùng đồng nghiệp

>> Vua không ngai – Kỳ 3

>> Vua không ngai – Kỳ 2

>> Vua không ngai – Kỳ 1

>> Tiểu thuyết dã sử “Vua không ngai” Phan Ba Vành

 

MẮT THẦN” CỦA VUA MINH MẠNG

 

Sau trận Tam Lộng, Thống quản chỉ huy Thập cơ tiền quân là Phạm Văn Lý viết tờ tâu, cho lính trạm phi ngựa mang về triều.

Vua Minh Mạng ngồi uống trà trong nhà bát giác ở góc vườn Thư Quang, ông đọc đi đọc lại những tờ tâu, gật gù suy nghĩ: Sau khi chiếm lại được ba đồn Trà Lý, Lân Hải và Ba Lạt, hai đạo thuỷ binh mà ta đưa về tấn công thuỷ trại Đồ Sơn, giặc biển sợ bỏ chạy tức là chúng đã mất đi căn cứ hậu thuẫn ngoài biển, bọn trong bờ ắt phải suy yếu. Khi đại quân trên kinh về, quân trấn Hải Dương và quân Bắc Thành phấn khởi, mới thắng vài trận đã lơ là sơ hở, làm tiêu tan đội thuyền lương gần cửa Tam Giang. Tội này phải xử nặng.

Rồi đến trận sông Hóa, Tam Lộng, tâu báo là bắn cháy mười lăm thuyền giặc, giết hơn trăm tên, tướng giặc Ba Vành bị thương, thế mà để cho nó thoát! Tội này cũng khó dung.

Quan quân triều đình mất sáu thuyền, ba Quản cơ và hai phó tướng tử trận, hàng chục lính bị giết, thế mà chỉ nói qua. Kể công nhiều hơn nhận tội.

Ta tuy ở xa, không thân chinh nhưng đã có đội cơ mật cài trong các đạo quân, nắm được hầu hết sự tình. Chẳng qua trong lúc cần tướng cần quân nên ta chưa thẳng tay trách phạt, phải khéo léo khuyến dụ.

Vua Minh Mạng ra tờ dụ hồi đáp: “Xét Phạm Văn Lý, Nguyễn Văn Phong cầm hai đạo quân thủy đã lập công trạng, ta thưởng cho mỗi tướng một khẩu súng tay, một thanh gươm lệnh mạ vàng, ban cho nhung y đỏ, cúc vàng, để khích lệ hai tướng mau mau lập công mới”.

Khen thưởng khích lệ là vậy, Minh Mạng không quên răn đe, ra tờ dụ tiếp theo: “Trận sông Hóa, Tam Lộng các ngươi thận trọng quá! Đáng lẽ nhân đà thắng ấy, thúc thủy quân đuổi đánh giặc cho đến cùng, để tướng giặc Ba Vành bị thương nặng mà thoát thì thật dở, đáng trách, mất đi cơ hội không làm.

Bọn ngươi cần phải dốc tâm trí, trổ mưu kế, đốc thúc lãnh binh các đạo thuỷ bộ cùng tiến đánh giặc cho thật nhanh, cốt sao thành công, không được lần chần trông ngóng. Nếu lượng sức không đánh nổi thì lập tức tâu ngay, để ta mau tính.

Trong giao tranh, bọn lính nào nhát sợ thì lập tức lôi ra chém, tướng lãnh nào không dám đối đầu với tướng giặc thì phải loại bỏ, phế chức, đưa về triều luận tội, làm gương cho quân tướng”.

Dằn chừng răn đe vậy, nhưng Minh Mạng cũng chưa hẳn tin vào quan tướng và lực lượng đang tham chiến, ông cho triệu Đô thống Ngô Văn Vĩnh, là Phó tổng quản lực lượng quân dự bị ở kinh đô đến, bảo:

– Ngươi từng trải chiến trận, lập nhiều chiến tích, nay đem quân tinh nhuệ xuống, cùng quân Trấn quân Thành đánh dẹp bọn giặc ở Sơn Nam Hạ cho mau chóng được việc.

Minh Mạng không nói ra nhưng bụng thầm lo, bán tín bán nghi về hai câu sấm truyền trong dân gian. Hừ! Đằng sau thằng tặc tử ngu muội này ắt hẳn có kẻ xúi giục, bày mưu tính kế, biết lợi dụng quy luật thiên nhiên của trời đất, những sự trùng hợp, để mê phục dân đen. Chúng muốn tạo thành thế, dựng thành thời. Âm mưu khôn quỷ này quả ghê gớm! Phải diệt chúng ngay từ trong trứng nước.

Minh Mạng tung hầu hết lực lượng và binh tướng giỏi của triều đình, ra sức tận diệt Ba Vành để ngăn ngừa hậu họa.

Minh Mạng chợt chú ý đến tờ biểu màu đỏ tâu từ phương Nam, cho biết cố Du – tức cố đạo Marchand, tên giáo sĩ  người Pháp này đi nhiều nơi truyền bá đạo Gia-Tô, ngầm xúi giục giáo dân làm loạn.

Minh Mạng đọc lại tờ biểu rồi cau mặt: Ta không ưa tả đạo này, bọn giáo sĩ Tây Phương tôn thờ Chúa Trời của chúng trên hết. Không như đạo Nho ta thờ Trời tôn Vua. Hừ! Chúng thờ ai thì thờ, nhưng xem vua không ra gì thì rõ là phản nghịch. Bọn cố đạo bày xúi giáo dân lập bàn thờ Chúa cao đẹp hơn bàn thờ gia tiên là muốn phá bỏ trật tự đạo lý cũ. Việc này cực kỳ nguy hiểm, sâu xa hơn là ngầm xúi dân làm giặc.

Xong việc Phan Ba Vành.ta sẽ cho bắt những tên cố đạo và lũ giáo dân mê muội, phải xử chúng thật nặng để làm gương.

* * *

Trường hợp phò mã Trương Phúc Đặng, Minh Mạng rất đau đầu! Chưa có ai nói thẳng hay viết tờ tâu nhưng ông đã nghe phong thanh. Tham tán Nguyễn Công Trứ được ông giao nhiệm vụ quân sư đi sát Trương Phúc Đặng chỉ báo gọn: “Không thấy phò mã trong trận đánh”.

Minh Mạng nhớ lại cách đây không lâu, một đoàn thương nhân người Bồ Đào Nha đến Huế xin vào tiếp kiến vua Đại Việt, họ tặng ông nhiều món quà phương Tây đẹp lạ, trong đó có một ống nhòm rất đặc biệt, rồi bày cách sử dụng: Bình thường xoay ống nhòm sang phải thì quan sát được xa, bấm chốt xoay ống nhòm sang trái thì thấy những vũ nữ phương Tây thoát y nhảy múa. Minh Mạng rất thích ống nhòm đặc biệt này, thường giữ bên mình, thỉnh thoảng mở ra xem rồi mỉm cười. Một thái giám thân cận vô tình trông thấy, thái giám thích thú kể cho một cung nữ là em gái hắn trong cung nghe. Phụ nữ không giữ được bí mật, rì rầm khúc khích lan truyền trong hậu cung, mỗi người kể một kiểu. Các phi tần cung nữ được Minh Mạng sủng ái, các công chúa cũng năn nỉ xin vua cho được xem vũ nữ phương Tây trong ống nhòm múa thoát y hấp dẫn như thế nào? Minh Mạng gạt đi, nói không có chuyện nhảm nhí đó.

Vua chối họ càng không tin, chính các quan trong triều cũng rì rầm. Quan Thượng thư trong triều là người đưa đoàn thương nhân Bồ Đào Nha tiếp kiến vua, ông biết việc này, liền hiến kế cho vua xử lý, chứ để việc nhỏ lan truyền ra ngoài dân thì chẳng ra gì. Minh Mạng lập tức lâm triều, nọc tên thái giám lẻo mép ra đánh 50 roi toé máu, rồi nói: “Ta chẳng thấy gì trong ống nhòm cả. Sao ngươi dám nói có yêu nữ nhảy múa trong đó? Giờ ngươi xem lại ống nhòm này, rồi nói cho ta biết, có hay không?” Tên thái giám vừa bị đánh đau, dĩ nhiên nói không thấy gì cả. Vua Minh Mạng đưa cho vài thái giám khác xem thử, họ đều nói không thấy. Vài quan trong triều đứng gần xem cũng đều lắc đầu. Dẫu có thấy vũ nữ thoát y, họ cũng không dám nói là thấy. Thượng thư lúc ấy mới đứng lên nói: “Dẫu có yêu quái trong ống nhòm đi nữa, thì khi gặp mắt thần của bệ hạ, chúng phải sợ mà biến mất”. Minh Mạng khoái chí cả cười, tặng luôn ống nhòm cho Thượng thư. Chuyện đến đó chấm dứt, không ai dám nhắc đến nữa.

Tham tán Nguyễn Công Trứ thân với Thượng thư, sau đó tìm cách khuyên vua: Người trung thực ít, kẻ xu phụ thì nhiều, bệ hạ nói phải trái gì chúng cũng a theo để lấy lòng, loại người không có chính kiến lúc hữu sự thì vô dụng, thậm chí gây hoạ.

Giờ đây, Minh Mạng nhớ lại chuyện ống nhòm rồi nghĩ: Phò mã Trương Phúc Đặng là kiểu người xu phụ đó, còn nhiều tên khác nữa. Từ lâu ta bị chúng bịt mắt. Những quan chính trực như Thượng thư, như Nguyễn Công Trứ, khẳng khái không nịnh bợ thì ta lại quên…

Hiểu tầm quan trọng của quân sư trong chiến trận, trên bộ đã có Nguyễn Công Trứ tham mưu cho Phó thống Phạm Đình Bảo, Minh Mạng điều thêm Hình bộ Thượng thư Hoàng Kim Xán làm Kinh lược sự vụ, theo tham mưu cho Đô thống thuỷ quân Phan Bá Hùng. Để thêm an tâm, vua cử Phó đô thống chế trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Hiếu làm Sơn Nam kinh lược đại sứ, sai Binh bộ thị lang Thân Văn Dung theo Thống tướng Phạm Văn Lý lo việc bình định dân, triệt đường lương thảo của nghĩa quân Ba Vành.

Vua xem lại tờ tâu của Nguyễn Công Trứ rồi nghĩ: Trứ là người thẳng thắn cương trực, thấy sao nói vậy, không vì ganh tỵ hay ghét ai mà nói sai cho người ấy. Vậy lúc đó Trương Phúc Đặng trốn ở đâu mà không chỉ huy lính tráng?

Chưa rõ sự việc nhưng để Phúc Đặng ở chiến trận thì chỉ có hại. Minh Mạng ra lệnh rút phò mã Đặng về kinh, giao Đô thống Bắc thành Trương Văn Minh giữ nhiệm vụ đó.

* * *

Trương Phúc Đặng về Huế, Minh Mạng bắt làm tờ tâu, rồi gọi lên, đích thân hỏi con rể:

– Trong chiến trận phò mã ở đâu mà không chỉ huy quân lính?

Phúc Đặng run sợ, cố giữ bình tĩnh. Trên đường về kinh Phúc Đặng đã tính toán suy nghĩ. Đặng nói:

– Thưa bệ hạ, con bị trượt chân ngã xuống sông.

– Ngã xuống sông? Phò mã từng tập võ, biết bơi lặn, sao Quản cơ và quân lính không thấy phò mã lên thuyền?

– Dạ… Lúc ấy hỗn loạn, không ai để ý ai…

– Quân lính có thể không để ý. Nhưng là tướng, nhất là tướng chỉ huy mà vắng mặt thì vô lý thật!

Minh Mạng vừa buồn vừa tức, chán nản không muốn nhìn mặt Đặng.

Ông đau buồn thương tiếc khi phò mã Lê Mậu Cúc tử trận, xót xa hơn nữa khi thấy công chúa con mình vật vã khóc than. Giờ đến lượt Trương Phúc Đặng, xử nặng Đặng theo quân pháp thì vợ con Đặng cũng là công chúa và các cháu ông sẽ ra sao? Chắc chắn sẽ hoang mang đau buồn. Không xử thì quan quân triều đình và dân chúng sẽ nhìn vua ra sao? – Minh Mạng tự hỏi rồi lắc đầu: Cũng tại ta thôi! Quá tin vào miệng lưỡi Đặng. Nguyễn Công Trứ đã nói bóng gió: “Trao quyền cho những kẻ không có thực tài, hám danh, thì trước sau cũng gây họa. Những kẻ đó sẽ ganh tỵ những người có tài”. Trương Phúc Đặng ngầm ganh cả với Lê Mậu Cúc. Chán thật! Thà Đặng chết giữa trận tiền như Mậu Cúc, ta đỡ đau đầu và dễ xử hơn.

Minh Mạng quăng tờ tâu của Trương Phúc Đặng xuống đất, ngoảnh mặt đi, nói:

– Từ nay ngươi không còn hưởng bổng lộc chức tước gì nữa. Cút đi! Đừng để ta thấy mặt.

Trương Phúc Đặng quá xấu hổ. Tối hôm ấy, Đặng trầm mình dưới ao tự vẫn.

Minh Mạng hay tin, không chảy một giọt nước mắt, lạnh lùng nghĩ: Thôi vậy cũng được! Đặng chết không phải vì ta ép. Đặng chết là vì hắn. Chết nhục như thế còn đau hơn bị phóng lao.

TRỜI XANH

 

Quân triều đình đã chiếm được nội đồng Thái Bằng.

Ngay sáng sớm hôm sau, Nho Tam nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ mà vua Minh Mạng đã mật giao.

Tam rảo qua một vòng, xem đội lính táng đào phá những ngôi mộ sau vườn nhà Ba Vành xong chưa? Tam chỉ đứng xa nhìn lướt qua, hắn nhăn mặt khịt mũi khi thấy những lóng xương trắng mục rỗng dưới hố quăng lên…

Hừ! Để bọn chúng làm, mình vào nhà… Miễn có làm là được, bọn này quen việc rồi, mình chẳng cần đốc thúc hay kiểm tra nữa.

Nho Tam đọc khá nhiều sách, nhưng không phải sách nào hắn cũng đọc, cũng tin. Loại cổ thư bói toán dị đoan thì hắn lắc đầu bĩu môi.

Nhưng Tam tin trên đời có những điều cấm kỵ. Kỵ nhất là việc đào mồ phá mả, thiên hạ cho là chuyện thất đức.

Tam được vua tin, vua giao cho làm chuyện thất đức này, đó là đào mồ cuốc mả ba bốn đời đã qua của anh em Phan Ba Vành. Tam không nhận cũng không được, nhưng hắn chẳng dại, đẩy cho đội lính táng làm, có thất đức thì chúng mày chịu, chúng mày từng quen việc này mà. Làm việc xấu đã quen thì chẳng còn gì để mà thất đức nữa.

Tam nghĩ xa: Mình sai chúng nó đào mồ cuốc mả, mình có mang tội không?…

Tam nghĩ xa hơn: Mình theo lệnh vua, vậy vua… có mang tội không?

Tam lắc đầu không dám nghĩ nữa.

Tam nhớ lại sáng hôm qua, theo lệnh hắn, cũng đội lính táng chín người này hè nhau phá gò mối lớn gần cửa sông Kem. Việc phá bỏ gò mối lớn đó thì Tam chẳng sợ, chỉ là chuyện đồn thổi, chắc gì đã thật?

Hắn đã hỏi năm sáu người dân sống quanh đây, họ đều nói là nghe kể vậy. Hỏi ni cô Diệu Ái tu trong am gần gò mối đó, thì cô cũng nói nghe anh em Ba Vành kể vậy.

“Chúng mày cuốc phá gò mối banh ra cho tao, xem có gì trong đấy không?” – Hắn đã mạnh mồm ra lệnh cho đám lính táng, rồi lừ mắt nhìn ni cô Diệu Ái đang rón rén thắp hương.

Nhưng đến khi tổ mối lớn được cuốc phá tung toé văng vãi xuống sông, Nho Tam và đám lính giật mình khi thấy một đàn rắn nhỏ đầu đỏ túa ra bơi chạy tứ tán. Tam nhảy lùi lại hét:

– Đập đi! Đập đi! Đập chết chúng đi!…

Chín tên lính hè nhau kẻ mai người cuốc đập liên tiếp, moi giết được hai con rắn nước lớn, đầu rắn u sần đỏ rực như mào gà trống. “Chắc cặp rắn cha rắn mẹ?” – Nho Tam nghĩ vậy.

Có đến năm sáu chục rắn con bị đập chết, hàng chục con luồn thoát…

Tam đứng xem từ đầu đến cuối, hắn thấy lạ và sờ sợ, rồi nghĩ: Cứ xem như mình không biết… Vô sách vô ưu, không kiêng cử gì cả là xong…

Nghĩ vậy nhưng Tam cũng lo, hắn đã nghe nhiều người kể loài rắn tinh khôn ghê gớm lắm, đánh chúng mà để chạy thoát, dẫu bị thương nặng rắn cũng bò về tận nhà để trả thù…

Nho Tam lắc đầu: Nhưng đây là rắn nước, dẫu rắn nước có mào đi nữa chắc cũng không có nọc độc. Mình đâu có đập chết con rắn nào, chẳng sợ, đây lại là những con rắn non… Mấy thằng lính kia còn chặt đầu hai con rắn lớn, mang về làm món nhắm nữa đấy. Mình chẳng việc gì phải sợ.

Nhưng hôm nay thì Nho Tam phải sợ, vì lúc sai bọn lính đào bảy ngôi mộ, hắn đã lạnh người rùng mình khi thấy những con rắn giun đen óng, đầu màu vàng cam, ngo ngoe thò ra từ hai hốc mắt xương sọ. Tam bủn rủn cả người!

Lạ thật!? Sao nơi này lại nhiều rắn đến thế nhỉ?

Trước khi đào phá mả, đám lính táng đã phát hiện và đập chết năm con rắn lớn nhỏ, toàn rắn độc. Thế thì trong những bụi rậm kia chắc còn nhiều rắn hơn.

Nho Tam nhìn quanh, cẩn thận từng bước chân, gật gù suy nghĩ: Hôm qua phá gò mối, thấy nhiều rắn nước. Hôm nay phá mả, thấy toàn rắn độc…

Lúc nãy theo bọn lính qua đoạn đường lầy lội đến nhà tên Ba Vành, mình cũng thấy hai con rắn lục quấn nhau trên chạng cây…

Ừ, rắn rít thường kéo nhau lên những chỗ cao ẩn nấp. Quanh đây toàn ruộng nước trũng, lầy lội, chỉ có nền nhà Ba Vành được bồi đắp cao, mảnh vườn nhỏ phía sau cũng chỉ cao hơn ruộng nước một tí…

Nho Tam gật gù suy nghĩ rồi đẩy cửa bước vào căn nhà gỗ lợp mái rơm bỏ hoang đã lâu. Mùi gỗ mục, mùi ẩm mốc xộc lên mũi Tam làm hắn khó chịu. Tam lẩm bẩm: Ai bảo anh em chúng mày chống vua? Không lo tu sửa nhà cửa gia đình, mà rủ nhau làm chuyện chống trời? Nhà cửa tan hoang là phải rồi.

Tam mở toang cả bốn cánh cửa trước nhà cho ánh sáng bên ngoài tràn vào, để hắn nhìn bên trong cho rõ, thấy trên bàn thờ mạng nhện giăng đầy, bộ lư hương xiêu đổ ngả nghiêng, rơi cả xuống đất, trông tàn tệ, lạnh buồn. Ắt hẳn đã lâu không có ai vào nhà.

Tam nhận được mật lệnh phải đốt căn nhà này đi. Ừ thì đốt! Nhà bọn giặc chứ có phải nhà mình đâu. Chốc nữa xong việc đào mả, mình sẽ bảo bọn lính quăng vài mồi hoả là xong.

Tam tiến lên vài bước, tò mò nhìn sâu vào bên trong căn nhà sắp sửa bị hắn đốt. Nhà tướng giặc chẳng có gì đặc biệt, còn nghèo hơn nhà dân thường…

Tam chợt giật mình khi nghe thấy tiếng “Phì! Phì!”, một con rắn hổ mang to tướng trên bàn thờ ngẩng cao đầu phình mang le lưỡi đe doạ.

Lại rắn! – Tam sợ hãi lùi lại – Trong nhà cũng có rắn!

Tam không dám tiến vào nữa mà rón rén bước lùi, hắn kịp thấy nhiều thân rắn đen cuộn trườn hỗn độn dưới gầm bàn thờ. Khiếp thật! Ắt hẳn dưới đó có nhiều ổ rắn, chúng làm tổ trong nhà hoang này đã lâu.

Tam rùng mình liên tiếp, không dám chớp mắt mà nhìn chăm chăm vào đầu rắn hổ mang đang lượn qua đảo lại. Tam lùi từng bước một, thỉnh thoảng liếc xuống canh chừng ổ rắn đen dưới gầm bàn thờ, đề phòng lũ rắn trườn ra…

Khi lưng Tam vừa chạm cửa nghe “két” một tiếng, hắn giật mình thở nhẹ, định quay người chạy ra ngoài thì chợt thấy đau nhói ở cổ! Tam hốt hoảng giơ tay lên cổ thì lại thấy nhói giữa gan bàn tay, thì ra hắn chộp phải con rắn cạp nong cuộn nằm trên đà cửa đang thò đầu mổ xuống.

* * *

Mãi xế trưa, khi đám lính hoả táng xong đống hài cốt đào lên sau vườn nhà, không thấy Nho Tam đâu, họ nghĩ Tam giao nhiệm vụ xong đã về, hoặc bỏ đi đâu đó?

Đám lính bảo nhau ra giếng tắm rửa, rồi vào hiên nhà ăn cơm, họ giật mình thấy Nho Tam nằm ngửa giữa bậc tam cấp, thân thể tím bầm, mắt trắng dã, miệng sùi bọt mép, hai tay còn nắm chặt cổ con rắn cạp nong, thân rắn quấn cứng quanh tay phải của Tam. Người và rắn đã chết cứng từ lúc nào không biết.

PHAN ĐỨC NAM

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *