Thủ lĩnh Rừng Già – Tiểu thuyết của Hà Lâm Kỳ – Kỳ 2

Vị thủ lĩnh anh hùng Nguyễn Quang Bích

Vanvn- Lòng nào trốn tránh vẹn riêng thân (?)! Bất chợt Thủ lĩnh ngồi bật dậy. Sơn hà xã tắc sẽ nằm trong tay Hàm Nghi hay Đồng Khánh? Binh quyền sẽ nằm trong tay Đại thần nào, Tôn Thất Thuyết hay Nguyễn Văn Tường? Nguyễn Quang Bích Đại thần đứng dậy đi đi lại lại. Ngài cho gọi Văn thân Khê Ông Nguyễn Hội vào dinh. Từ hôm đắc phong tước hiệu, Khê Ông là người đầu tiên được Thủ lĩnh Tướng công mời gặp. Nguyễn Hội vận mũ áo nho gia theo chân hầu cận lên đồi Quan Đại, nơi an ngự của Đại thần Hiệp thống.

– Tướng quân văn vận. Đêm trước, ta nằm mơ thấy một vầng hồng xuất hiện trên triền núi Quảng Trị, vầng hồng di động một đoạn xa, đẹp tuyệt, rồi bỗng tắt. Tỉnh giấc, ta không nghiệm nổi ấy là điềm gì!?

>> Cảm hứng lịch sử trong “Thủ lĩnh Rừng Già”

>> Thủ lĩnh Rừng Già – Kỳ 1

Chương III. Phụng mệnh Cần Vương.

 

Thủ lĩnh Tướng công mặc bộ quần áo thôn quê, đầu đội chiếc mũ cọ đã tầu tầu, tay cầm cây gậy tre, đôi dầy vải bó liền chân theo kiểu cao niên nhà Thanh. Sau Ngài là võ tướng Lãnh Hoan và dân binh Nguyễn Văn Lò; cả hai cùng ăn mặc dân dã, đeo túi vải. Họ đang đón “bố” về thăm quê.

Cả ba cha con vào làng Thủy ven sông Thao. Làng Thủy thuộc Cẩm Khê nằm trên trạm đường bộ men bờ sông suối về Tứ Mỹ, về Ao Lộc, rồi Hưng Hóa thủ phủ. Hôm trước đi đánh đồn cửa sông Hưng Hóa, nhóm Lãnh Hoan cũng cải trang thành thanh niên làng theo đường này mà đi.

– Hai ông đi đâu về mà gánh gồng thế? Lãnh Hoan vui vẻ hỏi.

– Xuống phủ. Dưới phủ Hưng Hóa có cái “kinh tiêu”, nhiều hàng Tây hàng Tầu lắm! Một lão ông vui vẻ.

–  Thế ạ. Thế có người Tây người Tàu không? Họ có đem theo súng đạn không hai ông?

– Có Tây. Nhưng ít súng thôi. Từ hôm quân Triều đình trên Tiên Động xuống tận đồn cửa sông đốt nhà lính. Người Tây ít ra đường. Chỉ thấy lính thú lính lạc. Mà dạo này lính người Tầu cũng vãn lắm, họ đi đâu rồi ấy!

– Thế Tây có bắt dân đi lính không? Dân các ông có được nhà đồn giao cho phải làm gì không? Binh Lò cũng tỏ ra sốt sắng.

Một lão nông ngầng nhìn “ông bố” râu đen, trả lời.

– Chưa, chưa thấy bắt vào lính, nhưng quan đồn đã về làng, họ kháo nhau chuẩn bị súng đạn để đánh quân Triều đình ở trên Tiên Sơn cụ ạ.

Lãnh Hoan trống lảng.

– Quân triều đình ở Tiên Sơn đang khởi nghĩa bình Tây báo quốc, ta nên theo họ chống lại nhà đồn các ông ạ.

– Thì vưỡn! Tôi già rồi nếu không cũng sẽ lên Tiên Sơn.

– Ta già không còn sức, nhưng kêu gọi con cháu, dân làng, bình Tây báo quốc hai cụ ạ. Tướng công thủng thẳng nói.

– Nhưng biết bằng cách nào được cụ ơi? Già rồi!

– Cách thế này hai ông ạ. Lãnh Hoan cởi mở. Ta vào đội dân binh, vào đội dân phòng phản kháng lại người Pháp ngay tại làng quê mình, thế là bình Tây báo quốc rồi đấy.

Sợ đứng lâu bất lợi, lãnh Hoan chủ động chào hai ông dân quê, nhắc họ lần nữa, tích cực vận động làng xã vào dân binh dân phòng. Hai khách đường cười hỉ hả, gật gật.

Một ngày đường, Thủ lĩnh Tướng công cùng hai nghĩa binh Tiên Động đã đi ba bốn làng xã của Cẩm Khê và Tam Nông. Tạm nghỉ chân bên đường. Ngài nhắc lãnh Hoan:

– Thế là ta biết dân mình thế nào rồi, về bàn với Đề Kiều làm tốt hơn việc lập đội ở địa phương và chủ động luyện binh.

Võ Hoan gật đầu.

– Vâng, thưa Thủ lĩnh! Nhưng muốn trình lên Ngài…

– Được, nói đi!

– Cho đồn Cửa tiền của hạ tướng, tiến đánh thêm vài trận nhằm khích lệ quân binh, gây hoang mang cho quân Tây; tạo tiếng vang cho Tiên Sơn!

– Được. Ta khen võ tướng trận Cửa sông. Nay đồng ý tập kích một hai đồn giặc nữa. Việc này bàn với Bố chánh cho kỹ.

– Vâng vâng. Cảm ơn Tướng công.

Ba thầy trò Thủ lĩnh đứng lên rời phiến đá làn ven sông, nhẹ nhàng đi về phía chân núi. Nơi đó, chỉ có Bố chánh, Đề đốc và Chánh Sơn phòng là biết việc kinh lý của Tướng công. Ai nấy đang sốt ruột chờ đón Ngài trở lại hành dinh mà không mảy may sơ sẩy.

Nguyễn Quang Bích khẽ ngả mình xuống ghế “xích đông” mà quân sỹ hành dinh làm bằng tre bương già và dây rừng. Cảm xúc lớn thường đến với Ngài sau mỗi cuộc nhận biết nảy ra từ trong đầu óc, gan mật của một người có cái tâm, cái trí, cái dũng, cái chất lãng mạn luôn thường trực: “- Gập ghềnh nào sợ bước gian nan/ Cứu nước, thân già dạ sắt son…”

– Thưa Tướng công!

Chánh Sơn phòng Vương Văn Doãn biết rõ lúc này nên để Thủ lĩnh hưởng phút giây thư giãn; thậm chí là lúc Tướng công Ngư Phong thăng hoa mà để lại những câu thơ bất luận. Nhưng không cách nào khác phó Đề đốc hành dinh đành lên tiếng.

– Thưa Tướng công. Có sứ giả của Đại thần Triều đình xin được tiếp kiến Ngài sau mươi phút nữa.

Ngư Phong Tướng công ngắt đoạn những ý thơ nhân sỹ. Ngài khẽ đứng dậy.

– Thế à. Chuyện hiếm thấy sau ngày Hưng Hóa đau buồn! Rồi Ngài bước vào phòng khách trong tư dinh.

“Sứ giả của Đại thần Triều đình? Nghĩa là người của Đại thần xứ Huế – Triều đình! Đại thần, ai đây? Triều đình thì đang lùi từng bước trước người Pháp. Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ giữ trọn khí tiết. Phan Đình Phùng đã bị thải hồi quan Triều, cho về quê. Vua Hàm Nghi, Người có anh minh?” Những câu hỏi rối bời thoáng đến, lưu sâu trong đầu Nguyễn Quang Bích.

Thủ lĩnh Tiên Sơn nhấp chén trà sen hương vị Hạ Hòa, vừa lúc chánh Sơn phòng Vương Văn Doãn đưa hai người khách lạ bước vào tư dinh. Tướng công đứng dậy, Vương Văn Doãn lui một bước, đứng nghiêm trang. Sứ giả:

– Thưa quan Thượng thần Thủ lĩnh Tiên Động, hai chúng tôi là tiểu tướng của Đại thần Tôn Thất Thuyết, lặn lội từ kinh thành ra đây, là bởi được Ngài ủy thác, đem theo tin tức vận nước chuyển tới Ngài.

Nguyễn Quang Bích bất ngờ trước sự có mặt của hai vị sai xứ với trọng trách lớn lao mà Ngài không kịp khoác bộ Triều phục để tiếp lễ. Nhưng Ngài lại kịp nghĩ: “- Thôi được, cứ tiếp nhận tin nhắn đã rồi sẽ lễ nghĩa đầy đủ”, liền sai Chánh Sơn phòng ghi chép.

Hai sứ:

– Thưa Ngài quan Đại thần Thủ lĩnh. Vận quốc đang lâm nguy. Tướng Pháp Cuốc xy đang kéo quân vào Huế, quân nhà Thanh đã rút ra khỏi ngoại thành để về nước. Tôn Đại thần luôn ở bên cạnh Hàm Nghi Thánh thượng. Người yêu cầu Ngài nhận lời đứng đầu Bộ lễ kiêm Bắc Kỳ Hiệp thống. Thời gian gấp gáp lắm…

Thủ lĩnh đứng dậy đi đi lại lại rồi cho mời Phó tướng Bố chánh, Phó tướng Đề Kiều. Khê Ông Nguyễn Hội vào gấp. Đoạn, Ngài khoác bộ lễ phục, sắc thái bình thản.

Đứng trước Bộ tướng Tiên Sơn và hai sứ giả Triều đình, Thủ lĩnh dõng dạc bộc bạch.

– Các Ngài. Đất nước đang nguy nan. Đại thần Tôn Thất Thuyết tin cậy giao phó cho chúng ta trọng trách Vua ban. Ta đã dựng cờ khởi nghĩa bình Tây phục quốc thì há chối từ? Hai sứ Triều về tâu lại với Đại thần rằng Bộ tướng Tiên Sơn Bắc Kỳ đã xuất binh khởi sự thì nay sẵn chờ ấn chỉ nhà Vua anh minh và Đại thần Phụ chính tâm quốc.

Hai sứ triều cúi rạp, Bộ tướng cũng khoanh tay đáp lễ.

Tin sứ Triều tiếp kiến Thủ lĩnh Tướng công được chuyển đến hàng đốc binh, lãnh tướng khu căn cứ Rừng Già. Ai nấy phấn chấn, tưởng như mình đang ở một nơi xa xôi của núi rừng miền Tây trung du, mà vẫn được Triều đình và các quan Đại thần biết tới, tìm đến, lại tin dùng vào việc đại sự Nam Quốc. Thật là Trời có mắt. Được Thủ lĩnh Tướng công ủy thác, Phó tướng quân Bố chánh quyết định lên kế hoạch tập kích hai đồn Pháp.

Sau khi trại lính đồn Cửa sông bị đốt cháy, Tướng Brielen cho rằng quân Triều đình không thể mạnh để mà đánh vào tâm đồn Cửa sông và các đồn có người Pháp, nên lập ra các trại dã chiến hoàn toàn người Việt, các trại này được trang bị vũ khí quân dụng, mục đích tạo hàng rào chắn cho thủ phủ. Nguyễn Quang Hoan, Nguyễn Thiện Thuật được giao chỉ huy đánh trại Bến bãi. Hoàng Đình Cương, Đinh Công Tráng chỉ huy đánh trại Đà giang. Quân binh tham chiến đều do các tướng chọn lựa từ các đồn Cửa tiền, Cửa bộ. Phó tướng Nguyễn Văn Giáp yêu cầu đốt cháy trại, cướp được vũ khí và giải tán đám lính Việt, bắt chúng phải phản chiến, bỏ đồn về quê làm ăn.

Lãnh Hoan là người am hiểu đường đất nên chỉ xin thêm lãnh Vân làm tiên phong với nhóm quân binh tinh nhuệ. Trại Bến bãi gần Chợ bờ, cửa ngõ vào thành phủ Hòa Bình. Từ hôm trại Cửa sông bị tập kích, quân Pháp chỉ huy đồn cho tăng cường canh phòng các trại bao quanh trong đó Bến bãi có đội lính khố đỏ sẵn sàng ứng chiến. Lãnh Vân cùng một quân binh đi thám sát trở về gặp lãnh Hoan và Nguyễn Thiện Thuật.

– Trại Bến bãi thực chất là đồn rồi, tổ chức của chúng khá quy mô, phải dùng mưu kế mới có thể đánh được.

Lãnh Hoan:

– Lãnh binh có kế gì hay?

Lãnh Vân trầm ngâm rồi hào hứng:

– Ta cử một nghĩa binh cải trang phụ nữ đi chợ Bờ, rồi lân la vào đồn bán bánh ăn sáng. Sau “cô” nghĩa binh là ba tốp do lãnh Hoan, Tán Thuật, và tiểu tướng chỉ huy, khi “cô” vào đến cửa đồn thì nổ súng tấn công.

Tán Thuật băn khoăn.

– Như vậy có mạo hiểm không? Tán tôi xin đem theo bình rượu biếu đồn trưởng, nhân cơ hội bắt sống được tướng, bọn lính tất đầu hàng.

Lãnh Hoan bàn thêm:

– Tôi sẽ cho Tượng Phong Ngô quang Đoan chuẩn bị sẵn thuyền chở quân binh “đi chợ”, rồi ém vào bờ bãi, khi hạ thủ xong, ta rút nhanh ra thuyền vượt sông Đà về bản doanh.

Tán Thuật hài lòng.

– Hay lắm, hay lắm!

Nói đoạn sai quân chuẩn bị bình rượu ngâm tay gấu trông thật đẹp mắt. Tượng Phong cũng lo xong thuyền bè, lãnh Vân đã cử được “cô” bán bánh. Lãnh Hoan hẹn giờ khởi hành.

Đoàn thuyền chở người quê đi chợ Bờ cập bãi đúng giờ cửa chợ, đám lính thú, có cả khố đỏ, khố xanh vào ra nhà chợ mà không đem theo súng đạn. Thấy vậy, Tán Thuật nháy Lãnh Hoan đi sâu vào sân đồn vừa rao bán bánh vừa xin biếu quà. Bỗng một “lính khố xanh” nói to.

– Hôm nay ngày sinh ngài đồn trưởng, anh em nhà đồn xin biếu ngài bình rượu tay gấu. Nào, nào!

Nghe tiếng, tên lê dương to cao từ trong trại bước ra, tiến lại gần. Lợi dụng đám lính lố nhố, các nghĩa binh thủ sẵn dao găm trong túi áo.

– Nào, nào. Xin biếu ngài quan đồn. Xin biếu ngài.

Tiếng reo hò ran lên. Nghĩa binh giơ cao bình rượu đập thẳng vào đầu quan đồn lê dương. Lãnh Hoan hét to:

– Giết, giết bọn lính đồn.

Tán Thuật cũng quát:

– Bắt sống tên chỉ huy. Bắt sống!

Mười mấy nghĩa binh vung dao găm đâm túi bụi vào bọn lính. Tán Thuật và nghĩa binh dâng rượu, ôm chặt tên lê dương đồn trưởng quật xuống trói quặt hai tay, trại lính hỗn loạn.

Các nghĩa binh Tiên Động nhanh chóng tước hết súng đạn, bắt bọn lính nằm úp mặt xuống sân trại. Lãnh Vân quát to:

– Tất cả nghe đây. Quân binh Tiên Động bình Tây, phục quốc, không nỡ giết chết các người. Các người hãy phản chiến đồn trại, bỏ lính mà về quê làm ăn.

Đám lính thú, lính khố xanh, khố đỏ nói ậm ừ, lí nhí.

– Vâng ạ. Vâng ạ!

Nhà đồn bắt đầu nổ súng báo động. Thấy quân “đi chợ” đã rút xuống thuyền. Lãnh Vân kéo cò súng nổ liền một, hai, ba viên chỉ thiên rồi chạy nhanh theo nghĩa binh.

Lính trong đồn kịp hoàn hồn, bắn tới tấp xuống mặt sông nơi có hai chiếc thuyền chờ khách đang mải miết rẽ nước.

Trong khi đội của võ tướng lãnh binh Nguyễn Quang Hoan dùng mưu đánh đồn Chợ bờ, phá trại Bến bãi thắng lợi trở về thì lãnh binh Hoàng Đình Cương, tướng quân Đinh Công Tráng cũng đang tích cực cho trận tập kích trại Đà giang Trung Hà thì Phó tướng Bố chánh yêu cầu chuyển mục tiêu, lập ngay phương án chống càn quét. Số là, khi lãnh Vân giam chân đám lính tại sân đồn Chợ bờ thì có một binh sỹ khố xanh nhận ra Vân. “- Đúng, đúng là ông Ma Văn Vân làng mình rồi; Vân Mè, Vân Mè, người làng Mè vẫn gọi ông ta thế!”. Nghĩ vậy, nhưng sự việc diễn biến quá nhanh, chỉ kịp nhớ câu “Quân binh Tiên Động bình Tây phục quốc”. Người lĩnh khố xanh quyết định tự tạo cơ hội trốn lên Tiên Động tìm “Mè Vân”.

Đồn Chợ bờ bị tấn công chợp nhoáng, đồn trưởng người Việt lai Tây bị trói, súng đạn bị cướp đi, quân Tiên Động đã thách thức người Pháp, Tướng Bri e len tức tối gọi quan ba Xác lăng lên dinh phủ:

– Ngài thấy đấy, quân Triều đình phiến loạn ở Tiên Động đã mấy lần chọc tức người Pháp. Tôi không thể kiên nhẫn được nữa, giao cho ngài nhổ bỏ cây gai Tiên Sơn.

Xác lăng đứng nghiêm.

– Thưa ngài. Vì danh dự của người Pháp, tôi hứa sẽ làm bật rễ cây gai đầu tiên.

– Tốt lắm, tốt lắm. Chúc ngài thắng lợi trở về.

Ngay ngày hôm sau Xác lăng tuyển đội binh có cả lê dương, khố xanh, khố đỏ, lính thú trang bị đầy đủ súng đạn do đích thân Xác lăng chỉ huy, chọn ngày giờ tiến quân. Người lính khố xanh có tên là Tình nắm chắc kế hoạch Xác lăng qua một người bạn, đêm đó, anh ta lấy thuyền thúng một mình bơi ngược sông Thao rồi cứ nhằm hướng núi Tiên Sơn mà tìm người làng có tên là Vân mè hay Ma Văn Vân nghĩa binh Tiên Động. Hy vọng mong manh của anh lính khố xanh Tình, người làng Mè Phú Thọ, may mắn thành hiện thực. Vệ binh Rừng Già dẫn Tình lên gặp lãnh Hoan, thế là gặp lãnh Vân, hai người lính cùng làng hoan hỉ, Tình khố xanh tình nguyện dẫn đường cho đội lãnh binh Đề Cương và Đinh Công Tráng.

– Không thể theo phương án cũ được nữa, thưa phó tướng Bố chánh. Đề Cương khẳng định.

– Đồng ý. Nhưng hai ngài bàn kỹ pháp thuật rồi đưa yêu cầu cho chánh Sơn phòng.

Đêm hôm đó cả trăm tay súng quân Tiên Sơn có mấy chục ngựa chiến mật phục ở Hiền Quan và Cổ Tiết. Một tốp vào bãi trống đường đất đốt lửa giả làm mươi lán trại để nghi binh, quân giặc tưởng thật tang tảng sáng đốc lính bao vây đúng trận địa phục kích. Đề Cương, Đinh Công Tráng ra lệnh phản công. Bọn giặc trên đoạn đường Hiền Quan Cổ Tiết bị đánh giáp mặt, cả trăm đứa nhảy bừa xuống sông Hồng, số còn lại ngồi thụp giơ tay hàng. Quan ba Xác lăng dương súng ngắn bóp cò, bị ngựa chiến của Đề đốc Hoàng Đình Cương chồm tới, đề Cương đá văng khẩu súng, một mũi giáo lao thẳng vào ngực viên quan Tây. Tướng quân Đinh Công Tráng tả xung hữu đột trong vòng vây của đám lính lê dương, khố đỏ; thấy vậy Hà Văn Mao, Đào Văn Toát cùng phi ngựa tới. Gác ri noa phó tướng của Xác lăng bị Hà Văn Mao chém văng đầu. Quân giặc lố nhố đầu hàng. Hoàng Đình Cương ra lệnh thu súng đạn rồi tuyên bố sa thải, chỉ cho gói đầu hai tướng Pháp vào vải đỏ đem về Tiên Động tế cờ.

Trận phục kích chống càn quét đầu tiên ở Cổ Tiết Hiền Quan thắng lớn. Bố Giáp, Đề Kiều trình Thủ lĩnh Tướng công khao thưởng các tướng lĩnh cả hai trận Chợ bờ và Hiền Quan. Riêng hàng binh Tình của đồn Chợ bờ cũng được trọng thưởng rồi nhập vào Quân binh đồn Cửa bộ dưới sự chỉ huy của Ma Văn Vân.

Tháng 6 năm Ất Dậu (1885). Mùa hè năm nay oi nồng. Chiến khu Rừng Già Tiên Sơn dù có mát mẻ bởi những rừng cây cổ thụ và suối khe bao quanh, nhưng Thủ lĩnh Tướng công vẫn cảm thấy lòng dạ bồn chồn, ngồi đứng không yên. Ngài cùng Tán tương Nguyễn Hội rảo bước đến tư dinh công vụ của các Tướng quân khu vực bắc miền trung đàm đạo. Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, Hà Văn Mao, Nguyễn Tử Ngôn, Nguyễn Cao…! Nhác thấy bóng Tướng công, Tiến sỹ Tống Duy Tân vội bước xuống bậc thềm sân dinh cúi mình đón. Tướng công thân tình khoát tay tiến sỹ họ Tống:

– Các văn thân từ miền Trung về đây cùng ta khởi nghĩa, chẳng phải một lòng đem thân hiến quốc đấy sao? Nhưng bình Tây phục quốc có được ở cả ba miền, ấy mới là đạo đức Nghĩa sỹ.

Tống Duy Tân ngẩng nhìn Chủ tướng:

– Thủ lĩnh. Đất miền Trung cũng đang nung nấu nhưng chưa có minh chủ.

– Ta biết. Đại thần Phan Đình Phùng đã bị Triều đình thải hồi, chưa thấy lên tiếng. Nguyễn Xuân Ôn, Cao Thắng, Tạ Hiện đang ở đâu? Trong Nam Bộ, ngọn cờ sỹ phu Trương Định đã nổi tiếng nhưng không thành, Nguyễn Khoa Huân thì dở dang. Ta cũng biết các văn thân quan triều ở ẩn mà dùng ngòi bút phục quốc bình Tây thật đáng thán phục. Ông Đồ Chiểu, ông Nguyễn Thông, ông Cao Bá Quát, ông Phạm Văn Nghị… các ông đã cho Ngư Phong này cả ngọn bút lẫn thanh gươm.

Cả nhóm Võ tướng miền Trung ngồi lặng yên. Tướng công đưa mắt nhìn khu Rừng Già, chòm râu đen đóm bạc của Ngài khẽ rung theo nhịp cảm xúc: Gập ghềnh nào sợ bước gan nan/ Cứu nước thân già dạ sắt son/ Trung hiếu trên đầu Trời chiếu dọi/ Giang sơn che chở được bình an!

Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, Hà Văn Mao, Nguyễn Tứ Ngôn, Nguyễn Cao, đồng loạt đứng dậy.

– Thưa Tướng công Thủ lĩnh. Các hạ tướng chúng tôi hành hương về đây chỉ một lòng góp phần đuổi giặc Pháp, rửa nhục cho nước nhà. Nay Minh chủ Tướng công khởi nghĩa, chúng tôi nguyện tìm cơ hội đem ngọn cờ Tiên Sơn về đất Trung Bộ mà phục Quốc, bình Tây như mong đợi của Minh chủ.

Tống Duy Tân vừa dứt lời, các yếu nhân miền Trung khẽ cúi mình đáp lễ. Nguyễn Quang Bích cũng đứng lên nắm tay từng võ tướng nghĩa sỹ. Ngài nhẹ nhàng:

– Phú Thọ là nơi tổ tiên khởi dụng ngọn nguồn Nam Việt, đạo con cháu, ta không bao giờ để hổ thẹn với Hùng Quốc Tổ.

– Dạ!

Các sỹ phu Trung Bộ đồng thanh. Chánh Sơn phòng Vương Văn Doãn bước tới đón Thủ lĩnh trở lại Hành dinh.

Thủ lĩnh khoan thai bước vào phòng đã thấy các Phó tướng Bố chánh Nguyễn Văn Giáp, Phó tướng Đề đốc Hoàng Văn Thúy và Tán tương Nguyễn Thiện Thuật ngồi chờ sẵn, ai nấy như tươi vui. Khê Ông Nguyễn Hội cũng được Chánh Sơn phòng mời an tọa. Nguyễn Quang Bích Tướng công linh cảm có điều thiện.

Bố chánh tướng quân đứng lên:

– Thưa Thủ lĩnh Tướng công. Đại thần Tôn Thất Thuyết từ kinh đô cho sứ giả đặc trách cơ mật Văn phòng triều đình đến Tiên Động, đích thân trao cho Tướng công chỉ lệnh tước phong. Xin Ngài cho phép Bộ tướng và Sơn phòng Hành dinh tổ chức lễ nhận sắc.

Thủ lĩnh trầm ngâm giây lát rồi ngẩng nhìn Bộ tướng.

– Vận nước nguy nan, âu là chiếu chỉ, ta há chối từ. Bộ tướng cùng ta nhận mệnh Đức Vua mà không làm nghi lễ rườm rà. Kháng chiến cần sắc chỉ, không nhất thiết hân hoan chiếu phong. Trên dưới đồng lòng, trong ngoài tiền hô hậu ủng. Thế là được.

Các tướng đồng loạt đứng dậy, cúi mình.

Sáng hôm sau, ngày giờ đẹp nhất của tháng sáu Ất dậu, văn võ bá quan có mặt đầy đủ dưới chân cờ Tụ Nghĩa. Chiến khu Rừng Già trên đất Tiên Động, theo ý chỉ của Tướng công, Chánh Sơn phòng cho mời cả cha con Nguyễn Văn Lò, nàng Mỹ Cẩm được tham dự buổi lễ. Một đội tiêu quân ăn mặc gọn gàng, súng gươm bên mình đứng túc trực dưới lá cờ bình Tây phục quốc. Thủ lĩnh Tướng công trong bộ trang phục Quan triều được tướng quân Tiến sỹ Tống Duy Tân tháp tùng từ tư dinh Sơn phòng bước ra đứng trước hàng võ tướng, văn thân và quân binh. Một làn gió nhẹ giữa trời trong mát thổi lướt qua đồi rừng Tiên Động.

Sứ giả cơ mật của Triều đình Huế trong bộ Triều phục bước lên, nghiêm trang đọc nhật chiếu Nhà Vua lệnhphong Nguyễn Quang Bích làm Lễ Bộ Thượng thư sung Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ Đại thần, tước Thuần trung, Tổng chỉ huy Quân đội Triều đình tại Bắc Kỳ.

Lời sứ giả cơ mật sang sảng, làu làu, đầy hàm văn sắc chỉ. Vì lí do đi đường xa, nhiều kẻ theo dõi nên Đại thần Tôn Thất Thuyết yêu cầu sứ giả truyền lời trực tiếp mà không mang theo văn tự trong người.

Sứ thần dứt lời, bước lại trao cho Nguyễn Quang Bích hộp triện đồng chức vị. Tướng công lui lại ba bước ngẩng mặt lên ngọn Đại kỳ mà rằng:

– Nguyễn Quang Bích tôi, Thượng thư Lễ bộ kiêm Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ, tước thuần trung; lòng thành ơn sâu Bệ hạ, nguyện đem tâm sức phục Quốc, Bình Tây. Xin đèn Trời soi rọi, đưa Tôn Sơn về khắp đất Bắc, Trung mà dậy sóng trừ Tây báo Quốc…

Cả trăm tướng lĩnh, văn thần, quân binh, dân binh, im phăng phắc nghe những lời gan ruột của Đại thần Tướng công. Bộ tướng hiểu rõ Triều đình chủ chiến của Đức Vua anh minh Hàm Nghi đang xa giá tại Quảng Trị lập Sơn phòng kháng chiến. Hộ giá Ngài có Đại thần Phụ chính Tôn Thất Thuyết, Tiến sỹ Trần Xuân Soạn và các tôn tử Tôn Thất Thiệp, Tôn Thất Đạm. Còn Triều đình chủ hàng của Vua Đồng Khánh bạc nhược, đứng sau là Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Hữu Độ, đang gắn mình chặt chẽ với người Pháp mà đạo dụ các quan triều yêu nước quy phục.

Với tư cách Đại thần Triều đình của Đức Vua Hàm Nghi chủ chiến, hai ngày nay Nguyễn Quang Bích thấy tâm thế, bản lĩnh, trí lực, và cả lòng nhân ái trào dâng, thật khác thường. Ngài ngả mình xuống ghế xích đông trước vườn dinh lẩm nhẩm: – Chưa chút mảy mảy đền nợ nước/ Lòng nào trốn tránh vẹn riêng thân?

Lòng nào trốn tránh vẹn riêng thân (?)! Bất chợt Thủ lĩnh ngồi bật dậy. Sơn hà xã tắc sẽ nằm trong tay Hàm Nghi hay Đồng Khánh? Binh quyền sẽ nằm trong tay Đại thần nào, Tôn Thất Thuyết hay Nguyễn Văn Tường? Nguyễn Quang Bích Đại thần đứng dậy đi đi lại lại. Ngài cho gọi Văn thân Khê Ông Nguyễn Hội vào dinh. Từ hôm đắc phong tước hiệu, Khê Ông là người đầu tiên được Thủ lĩnh Tướng công mời gặp. Nguyễn Hội vận mũ áo nho gia theo chân hầu cận lên đồi Quan Đại, nơi an ngự của Đại thần Hiệp thống.

– Tướng quân văn vận. Đêm trước, ta nằm mơ thấy một vầng hồng xuất hiện trên triền núi Quảng Trị, vầng hồng di động một đoạn xa, đẹp tuyệt, rồi bỗng tắt. Tỉnh giấc, ta không nghiệm nổi ấy là điềm gì!?

Khê Ông Nguyễn Hội vốn là nhà tử vi, nhưng vẫn bị bất ngờ trước câu hỏi về giấc mộng của Thủ lĩnh, đành trả lời một cách lưỡng đôi:

– Thưa Hiệp thống. Triều đình bất hòa, Chủ chiến xa giá, ắt trời đất linh thiêng phù trợ và báo mộng đến Tôn Sơn đấy thôi.

Hiệp thống Thủ lĩnh cho là phải nên không hỏi nữa mà chuyển hướng.

– Chủ chiến Triều đình, Đức Vua Hàm Nghi trẻ người nhưng gan vàng, lại được Tôn Đại thần phò tá, tất sẽ kêu gọi sỹ phu cả nước đồng lòng chống Pháp, ngăn chặn chủ hòa. Ta có ý đưa một phần anh tài Tôn Sơn về Trung bộ, Bắc bộ, làm hậu thuẫn cho Tôn Thất Thuyết, gây nên tiếng vang ba miền?

Nguyễn Hội:

– Đại thần nghĩ phải. Ngài là Tổng chỉ huy quân đội Bắc Kỳ, Đức Vua đang trông đợi. Việc đại sự này xin Đại thần bàn thêm với Bộ tướng.

Nguyễn Quang Bích:

– Là ta mới có ý thế. Trước mắt ta cử vệ sỹ về Trung, tìm gặp Tiên sinh Đình nguyên Ngự sử Phan Đình Phùng, Nghè hoa Nguyễn Xuân Ôn, và Hoàng giáp Nguyễn Hữu Chỉnh, vận động các ngài dấy binh.

– Phải lắm. Xin Đại thần Hiệp thống cho chỉ ngay vì vận mệnh Quốc gia đã mong manh.

– Ta cảm ơn Khê Ông Tiến sỹ.

Thủ lĩnh Đại thần đứng lên. Nguyễn Hội cúi chào lui ra cửa.

Trở lại phòng riêng, Nguyễn Quang Bích nhắc nàng Mỹ Cẩm cho Ngài một li sành rượu nhạt.

– Thưa Thủ lĩnh Tướng công. Ngài dùng rượu nếp, rượu cao chứ ạ? Mỹ Cẩm ngạc nhiên, hỏi lại.

– Không. Con cho ta một li sành rượu nhạt, ta uống với Đại võ thần Tôn Thất Thuyết.

Nàng Mỹ Cẩm càng không hiểu nhưng vẫn làm theo yêu cầu của Chủ tướng.

Ly rượu đặt trong khay sứ được nàng Mỹ Cẩm đưa tới, Thủ lĩnh ra hiệu đặt trên mặt hoa tấm phản gỗ dài rộng nơi Ngài hay ngồi trò chuyện sử sách với các văn thân. Mỹ Cẩm xin lui, bước ra, vội chạy đến dinh lán Chánh Sơn phòng, thuật lại. Khi Phó Đề đốc Vương Văn Doãn lên tới thì đã thấy Đại thần Hiệp thống ngồi lặng, tay nâng ly rượu và nói một mình:

– Nào, ta cùng cạn chén vàng này, rượu lộc của Đức Vua anh minh. Tôn Thừa tướng, mời Ngài dùng trước, Ngài dùng trước!

Chợt nghe câu tự sự của Chủ tướng, Vương Văn Doãn hiểu ý nên vội vàng lùi lại, cho đến khi quan Đại thần rời chiếu hoa, Doãn mới dám bước đến. “- Li rượu, mà là rượu nhạt, hết một nửa!”, Chánh Sơn phòng nhẹ tay cầm đặt lên giá văn, chờ khi Ngài thư giãn mà hỏi lại.

Chánh Sơn phòng chưa kịp dời tư dinh Hiệp thống thì đã thấy hộ vệ Bản doanh đến gọi. Đề đốc Kiều và Bố chánh Giáp đang kinh lý, Hành dinh ai người trực tiếp tiếp kiến sứ giả Triều đình chủ chiến? Mới mấy ngày mà Đại thần Tôn Thất Thuyết hai lần cử sứ giả ra Tiên Sơn hẳn có việc hệ trọng! Chánh Doãn cho mời thêm Khê Ông Nguyễn Hội và Tiến sỹ Tống Duy Tân cùng diện kiến.

– Việc này lớn, không thể đợi các Phó tướng, tôi nghĩ Phó Đề đốc chánh Sơn phòng và Tán tương quân vụ nên gặp ngay Đại thần Hiệp thống xin ý chỉ. Tống Duy Tân đề xuất ý kiến được hai tướng quân đồng tình.

Nghe xong, Thủ lĩnh tướng công chậm rãi, rành mạch:

– Đức Vua ban Chiếu Cần Vương là lời thiêng sông núi. Sơn phòng hành dinh lo ngay việc trọng lễ đón nhận. Cho mời tướng lĩnh, ba quân và dân làng tề tựu. Giao cho các đồn Cửa sông, Cửa bộ cảnh giác quân giặc. Sau Lễ đón nhận Chiếu, ta ban lệnh Hành động của Tôn Sơn.

Bố Chánh Phó tướng Nguyễn Văn Giáp đang đi thị sát vùng Hạ Hòa, Lâm Thao, dự định lên Yên Bình, Trấn Yên thì được lệnh gọi về. Đề đốc Hoàng Văn Thúy trở lại Cẩm Khê, Thanh Sơn rồi theo đường Thu Cúc lên Ba Khe Nghĩa Lộ những nơi mà ngày làm Chánh tổng Cẩm Khê ông đã từng đi, từng đến, nhưng lần này cũng nửa chừng. Đề đốc cùng tháp tùng phi ngựa về Hành dinh cho kịp Lễ rước Chiếu Vua.

Tiến sỹ Tống Duy Tân trang trọng:

– Bộ tướng, Ba quân, Dân phòng Tôn Sơn nhất thể mời Tướng Công Lễ Bộ Thượng thư, Thuần trung Hiệp thống Bắc Kỳ Quân vụ Đại thần Nguyễn Quang Bích Thủ lĩnh, truyền ngôn Đức Vua Hàm Nghi đến muôn dân Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và hàng binh lính đồn Tây đóng binh trân đất Nam Việt…

Đại thần Nguyễn Quang Bích trong bộ Triều phục mũ cánh chuồn mà sứ giả vừa đem ra, bước lên bục danh dự. Thân hình xương xương, bước đi chậm mà chắc chắn. Khuôn mặt Thủ lĩnh lúc này như quắc thước, lại như hiền triết; như võ công lại như văn thần. Giọng Ngài khỏe khoắn, vang và ấm:

“- Phàm những người đã cùng dự chia mối lo này tưởng cũng đã dự biết. Biết thì phải tham gia công việc, nghiến răng rụng tóc thề giết giặc…

“Ngõ hầu lòng trời giúp thuận, chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành yên, thu lại bờ cõi chính là cơ hội này đây. Phúc của tôn xã tức là phúc của thần dân. Cùng lo với nhau, thì cùng nghỉ với nhau há chẳng tốt sao?…” Ngày 2 tháng sáu Ất Dậu. Triều đình chủ chiến Niên hiệu Hàm Nghi, hạ chiếu Cần Vương”.

Dưới lùm cây cổ thụ chân đồi Tôn Sơn căn cứ Tiên Động, cả nghìn người im phăng phắc. Nhiều tiếng khóc. Đại thần vừa dứt lời, hàng trăm quân binh, dân binh hướng về phía Mặt trời  mà chắp tay vái vọng Đức Vua Hàm Nghi như thể lòng người Bắc Kỳ, Trung quân Ái Quốc mà hôm nay, Thủ lĩnh là người có công khâu nối.

Sau lễ công bố Chiếu Cần Vương trở về Dinh Bản doanh, trước mặt các văn hầu võ tướng, Hiệp thống Nguyễn Quang Bích nhận chỉ của Vua Hàm Nghi từ tay sứ giả, lên đường sang gặp Nhà Thanh xin cầu viện.

Nắm bắt được nhiều tin tức Triều đình chủ chiến nơi Sơn phòng Quảng Trị. Thuần trung Tướng công Quân vụ Đại thần Nguyễn Quang Bích, cho mời Bộ tướng về Bản doanh nhận nhiệm. Giọng Hiệp thống Tướng công chậm rãi, rành rọt, đầy sức thuyết phục:

– Các tướng quân. Vì nghĩa lớn và vận mệnh nước Nam mà các ngài lặn lội tìm đến Tiên Động, đất tổ Hùng Vương đây, tự sắp mình đứng dưới Cờ Đại bình Tây báo quốc. Ân nghĩa và chí khí ấy làm ta cảm động lắm. Nay Đức Vua ban Chiếu Cần Vương, lẽ nào ta lại khoanh tay một góc? Tiên Động đã khởi nghĩa, đánh thắng quân Tây các đồn Chợ bờ, Cửa sông, Đà giang, tất có công sức tài trí của các tướng. Giờ đây Hịch Cần Vương đã về đến ba miền, quân dân có thừa nhưng thiếu người Thủ lĩnh tổ chức khởi sự, Hiệp thống ta giao nhiệm các tướng: Hiệp đốc Bố chánh Nguyễn Văn Giáp là Phó tướng công đặc trách, thay thế ta trong mọi điều kiện. Đề đốc Hoàng Văn Thúy là Phó tướng công chỉ huy Chiến khu Rừng Già và vùng rừng núi Tây Bắc. Tán tương Nguyễn Thiện Thuật về khu Hưng Yên, Hải Dương. Tiến sỹ Vũ Hữu Lợi về với Nam Định, Ninh Bình. Tiến sỹ Tống Duy Tân  vùng đất Nghệ An, Hà Tĩnh. Tướng quân Đinh Công Tráng, Tướng quân Hà Văn Mao vào xứ Thanh, dây nối với Tống Duy Tân Nghệ – Tĩnh. Việc này đại sự, các tướng quân sớm lên đường, giữ gìn sức lực, bí mật tuyệt nhiên. Đại bản doanh Sơn phòng Quảng Trị của Đại thần Tôn Thất Thuyết đón chờ tin tức các tướng quân để sớm tấu trình Đức thượng hoàng Hàm Nghi. Hiệp thống ta và Chiến khu Tiên Sơn cũng một lòng trông ngóng tin thắng lợi của các ngài.

Bộ tướng đứng lặng, ai nấy kiềm chế nỗi xúc động. Bố chánh Hiệp đốc Nguyễn Văn Giáp khoanh tay cúi đầu đáp lễ. Bộ tướng đồng loạt cúi mình tạ ơn Đại thần quân vụ.

*

Cai Đen, từ ngày chết hụt trong trận tử chiến thành Hưng Hóa, y về nhà thương Hà Nội điều trị. Vết thương chưa lành, Đen trở lại thủ phủ đích thân lên gặp tướng Brielen. Vốn là chỗ gần gũi, từ chân thông ngôn, đến chỉ điểm, Cai Đen được Brielen sử dụng và phong hàm trung úy mật thám. Không ngần ngại, hắn gạt tay lính gác tư dinh tướng phủ, bước vào.

– Chào ngài thiếu tướng nước Đại Pháp.

Brielen quay lại:

– A. Ngài trung úy

Không đợi viên tướng Tây nói hết câu, Cai Đen nhanh nhảu.

– Tôi trở lại Hưng Hóa, hy vọng tướng binh trọng dụng.

– Trung úy có thể đảm nhận một mũi nhọn nào đây?

Chộp thời cơ, trung úy Đen nhanh nhảu.

– Thưa ngài. Nếu được nắm trong tay một số quân, và nếu được ngài phong thêm mề đay để dễ bề chỉ huy, tôi sẽ lần theo dấu chân Tuần phủ Hưng Hóa mà gửi đến ngài những gì các ngài cần.

Brielen cười to, bước lại tủ ly với chai “Napôlêông” rót đầy cốc đưa cho trung úy Đen.

– Cảm ơn ngài Đen – một chiến binh thủy chung và hăng hái với nước Mẹ Đại Pháp.

Hai cốc thủy tinh to bằng quả trứng, đầy nước cốt Tây, nâng ngang mặt. Cạn!

Brielen nhìn chằm chằm viên trung úy, cười khùng khục:

– Từ nay, ngài Đen thuộc quyền chỉ huy của Đại tá Mo lanh. Được chứ?

– Vâng. Thưa ngài thiếu tướng.

Cái bắt tay không chặt của Brielen làm cho hắn nửa tin nửa ngờ. Đen hiểu, với người Pháp, chỉ có lăn vào việc thì mới hy vọng thăng quan. Mà đã lăn vào cái việc do thám thì bội tinh chưa thấy, mạng mình cũng coi chừng. Nghĩ thế, trung úy Đen mạnh bạo:

– Thưa ngài đại tá…

Molanh giơ tay như chào, lại như ra hiệu không cần nói nữa. Y nhíu miệng.

– Trung úy Đen. Việc của anh bây giờ là đội trưởng do thám tuyến hoạt động của tên Tuần phủ Bích. Trong tay ngài có hai mươi lính đội hạng tinh nhuệ rừng núi, có thể chia làm ba bốn nhóm cùng mục tiêu. Ngài có quyền chọn một đội phó và các nhóm trưởng.

– Về nội dung. Thưa ngài…

Molanh lại giơ mấy ngón tay dài ngoằng.

– Mục tiêu là thế. Nội dung cũng là thế. Ngài lập kế hoạch trình lên Sa Nô Tây Bắc. Chúc ngài Đen thành công.

Molanh tiễn trung úy Đen ra cửa, giơ tay chào kiểu nhà binh Tây phương.

– Chúc ngài trung úy thành công.

Thực ra, Molanh không tin Đen, một tên lính thú không chữ nghĩa, một kẻ thực dụng hành động mù quáng. Bù lại anh ta sẵn sàng làm con thiêu thân trong đám sỹ quan người Việt ở Hưng Hóa. Molanh mới từ Hà Nội lên giữ chân chỉ huy Sa Nô Tây Bắc. Chưa hiểu vùng đất con người, mà có được một kẻ xung kích như trung úy Đen cũng là cần. Nghĩ vậy, viên đại tá quan một bật cười tủm tỉm, quay vào.

Nhưng Molanh đã nhầm. Chỉ một tuần, chưa đầy một tuần, trung úy Đen đã trình lên chỉ huy Sa Nô của đạo Hưng Hóa bản “Kế hoạch triệt hạ toán quân Tuần phủ” gọi tắt là “Kế hoạch KTT”. Điều làm cho đại tá Molanh thú vị không phải là sự quy mô, cung cấp nhiều, mà ngược lại: Số quân chỉ dăm bẩy người, hầu hết là thổ dân, được huấn luyện võ thuật và xử lý tình huống… Tất cả đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Đội trưởng – trung úy Đen! Molanh cầm bút ký nhoằng, rồi đưa cho thiếu tá tham mưu trưởng Sa nô.

– Ngài Xanhtơni. Thằng Đen được đấy. Ngài dùng nó vào mục “Dùng người Việt, đánh người Việt” trong bài “Đông dương, chia để trị!”. Được chứ? Mo lanh cười thô kệch.

Xanhtơni:

– Vâng, ngài đại tá, đây sẽ là một ứng dụng hay cho Tây Bắc, nó là sản phẩm quân sự của chính ngài, ngài Mo lanh.

– Trung úy Đen lập bản kế hoạch do thám tung tích của Nghĩa quân Triều đình trong thời gian ngắn, được nhóm sỹ quan chỉ huy ở Sa Nô khen ngợi không phải không có cơ sở.

Trương Đen quê ở Sơn Tây, ba đời làm thuê. Ông nội phù Lê diệt Mạc, bị truy đuổi chạy lên Hưng Hóa, đổi Phạm thành Trương. Dòng họ Phạm – Trương sinh độc, Đen thành con một, ông bà cha mẹ không còn, tứ cố vô thân, Đen chỉ biết họ tên của riêng mình. Tuổi thơ lưu lạc, Đen cứ đi ngược sông Hồng rồi gặp một đồn điền trên đất Cẩm Khê, y xin làm bốc vác. Cuộc sống đơn độc, không biết tung tích, suy nghĩ lệch lạc, Trương Đen chửi đời, rồi chửi trời…! Đúng lúc ấy người Pháp từ đâu đến chiếm đóng thành Hà Nội. Đám bạn làm thuê cho đồn điển ở Cẩm Khê rủ nhau về Hà Nội “xem mặt người Tây”. Thế rồi, cả nhóm trở thành lính gác, rồi lính tuần canh cho đồn Pháp lúc nào chẳng hay, chỉ biết là được ăn uống đầy đủ, quần áo mũ mãng quân binh tươm tất; trên người lại đeo khẩu mút ca tông hay khẩu hỏa mai. Nghĩ thật oách. Nhưng một quy định của nhà Đồn đối với lính người Việt là chỉ cho học bắn để bắn trúng; chỉ cho học võ để đánh giáp mặt chứ  không cho học nhiều chữ. Hạng như Trương Đen, như Lưu Minh Rỗ, ma ranh hơn, nhà đồn nhặt riêng cho đi học trường Tây ở Hà Nội chuyên ngạch thám tử. Trương Đen và Lưu Minh Rỗ võ vẽ tiếng Tây, quan đồn xung vào làm thông ngôn cho lính lê dương đánh phủ Bắc Giang, đánh phủ Sơn Tây, rồi đánh phủ Hưng Hóa. Trận Hưng Hóa, Đen xông pha bên tướng Brielen, được phong trung úy, rồi bổ chức Cai, nhưng cũng xuýt toi mạng. Nghe nói khi cửa Phủ bị đại bác bắn vỡ, Trương Đen xông vào, trong thành chỉ còn vài chục quân lính Triều đình, một người nhận ra y.

“- Thằng Trương Đen, đúng thằng Đen cùng làm thuê ở đồn điền Cẩm Khê, nó mất tích hai ba năm nay, hóa ra chạy theo Tây!” Dị lẩm bẩm, một tay cầm ngọn giáo, tay che mặt theo dõi.

Đốc Dị quê làng Thạch Đồng, Thanh Thủy. Một lần chánh tổng Hoàng Văn Thúy đi Thanh Thủy bàn cách làm ăn, mở rộng điền địa, vô tình gặp Dị. Thấy chàng trai sức vóc khỏe mạnh, ăn nói thông minh, thổ hào Thúy bèn gợi ý đưa Dị về làm bảo vệ đồn điền Cẩm Khê. Tại đây, Dị ăn ở cùng cánh làm thuê trong đó có Trương Đen, Lưu Minh Rỗ. Bỗng nhiên một ngày ba bốn trai thuê bỏ trốn, ai cũng nghĩ, họ về quê. Rồi chánh tổng thổ hào được Tuần phủ Nguyễn Quang Bích mời về thành Hưng Hóa phong chức Đề đốc. Dị cũng được đưa đi cùng, và rồi được Tuần phủ bổ chức Đốc binh.

Thằng Trương Đen chỉ cách năm mét đang khua tay nói gì bằng tiếng ta tiếng Tây với tên người Pháp mắt xanh, tay lăm lăm súng ngắn. Không kiềm chế nổi. Đốc Dị hét to:

– Thằng Trương Đen kia, mày theo giặc, mày phản bội! Trương Đen giật mình quay đầu chạy.

Miệng quát, tay phải Đốc Dị giơ căng ngọn giáo nhọn hoắt

“- Vút”.

Cây giáo lao thẳng, đâm vào vai trái tên thông ngôn. Trương Đen kêu “- Ối!”. Bọn lính xô lại. Đốc Dị rút lui cùng Nguyễn Quang Hoan.

– Tôi cũng chỉ biết có thế thưa ngài thiếu tá! Lãnh Hằng ngừng lại.

Để hiểu thêm về thuộc hạ trước khi giao việc, Xanh tơ ni cho gọi Nguyễn Văn Hằng. Nguyễn Văn Hằng tước Lãnh binh chiến đấu giữ thành bên Nguyễn Quang Hoan, bị bắt. Pháp mua chuộc. Lãnh Hằng tương kế tựu kế để được yên ổn chờ ngày trốn về Tiên Sơn. Khi biết Tuần phủ dấy binh khởi nghĩa Hằng viết thư cho lãnh Hoan gửi người đi Chợ Bờ chuyển giúp. Nguyễn Quang Hoan nhận thư mới hay Hằng còn sống, đang yên ổn chăm sóc vườn cây Thủ phủ. Lãnh Hoan cho vệ sỹ đóng giả người đi chợ Bờ vào tận Hưng Hóa tìm gặp Hằng. Vài ba lần gặp, lãnh Hằng nhận lời với bạn hữu Lãnh Hoan, ở lại phủ Hưng Hóa làm nội binh cho quân Tiên Sơn.

Bây giờ ngồi đối mặt với Xanhtơni, lãnh Hằng cảm thấy khó khăn, nhưng hình bóng Lãnh Hoan, giọng nói lãnh Hoan cứ chập chờn, văng vẳng. Nguyễn Văn Hằng đi đến quyết định, nắm chắc tin tức từ cả hai, Xanhtơni lẫn Trương Đen cung cấp cho võ trướng Nguyễn Quang Hoan. Người được lãnh Hoan tin tưởng làm dây nối giữa Tiên Động với lãnh Hằng là đốc Xù. Ngoài Hoan, đốc Xù trực tiếp nhiệm vụ với phó Đề đốc hành dinh Vương Văn Doãn.

Xanhtơni đưa hai tay ra hiệu.

– Được rồi, được rồi. Cảm ơn ngài Hằng!

Nguyễn Văn Hằng cúi mình lui ra.

Ngay sau khi được chỉ huy Sa Nô chuẩn y. Nhóm chỉ huy Xanhtơni, Trương Đen, Lưu Minh Rỗ gặp nhau bàn định.

Trương Đen:

– Thiếu tá. Ngài đề nghị Sa Nô cho đánh một trận vào Tiên Sơn để thăm dò phản ứng của quân Tuần phủ.

Lưu Minh Rỗ:

– Chưa được, chưa được; ta đã chẳng vừa bị đánh tập kích ở Đà Giang, Chợ Bờ. Quân Tuần phủ đang thanh thế.

Xanhtơni:

– Ngài đội Rỗ có kế gì?

– Theo ý Đội. Ta cho nhóm thám sát đi dò xét xem nơi nào sơ hở nhất của quân Tiên Sơn, kéo binh đánh úp. Chắc thắng.

– Hay, hay lắm. Xanhtơni gật gù. Vậy thì ngài Rỗ sẽ dẫn đầu nhóm “Chuột rừng” này. Hạn ba ngày có kết quả.

Đội Rỗ đứng bật dậy.

– Cảm ơn ngài thiếu tá, ngài trung úy. Tôi xin hứa danh dự!

Lời hứa của đội Rỗ thật hiệu nghiệm.

Nhận được tin từ nhóm “Chuột rừng”. Quan ba Xáclăng chỉ huy phủ Hưng Hóa lập tức cử ngay một tiểu đoàn vừa khố đỏ khố xanh do lê dương chỉ huy đang đêm bất ngờ đánh úp Trại Xuân Quang, dưới chân Tiên Sơn cách Bản doanh chừng mươi cây số. Lãnh Bạt chỉ huy trại Xuân Quang chủ quan, cho quân binh về ăn rằm tháng bẩy, Trại gần như bỏ trống. Quân lê dương, khố đỏ ào ào đốt trại. Quân binh chống đỡ không nổi. Nguyễn Văn Lò, thân phụ nàng Mỹ Cẩm, giữ chân phó trại, cùng hai nghĩa binh đánh tung hoành, giết chết năm sáu khố đỏ thì trúng đạn mút ca tông. Chiến binh Nguyễn Văn Lò hy sinh giữa thành trại, người nghĩa sỹ Cần Vương đầu tiên của Chiến khu Tiên Sơn Bắc Kỳ ngã xuống dưới ngọn cờ bình Tây phục quốc.

Nhóm “Chuột rừng” lại gửi tin tức về Sa Nô:

“Tuần phủ Bích đang đi Vân Nam cầu viện, quân Tiên Sơn tỏ ra lỏng lẻo. Sa Nô ra lệnh đánh vào các đồn cửa sông, cửa bộ. Lấy được hai đồn này, người Pháp sẽ mở hội ăn mừng giữa bản doanh Tiên Động!”

Xanh tơ ni, Trương Đen tỏ ra hoan hỉ, đắc thắng trước mặt hai quan trên, Mo lanh và Xác lăng.

– Thiếu tá và trung úy, các ngài tự tin chứ?

Trương Đen:

– Thưa các ngài. Tôi xin tiên phong!

Xác lăng:

– Tốt. Tốt! Lần này chánh thủ phủ sẽ giao cho ngài Đen mũi xung kích trên bộ.

Trương Đen đứng dậy cúi gập người rồi bước ra ngoài.

Để trại Xuân Quang bị tập kích trong khi Hiệp thống Thủ lĩnh đi sứ, Bố chánh phó Tướng công day dứt nhận lỗi trước các tướng quân, rồi mời phó tướng thứ hai Đề đốc Kiều và võ tướng Nguyễn Quang Hoan đến bàn.

Lãnh Hoan nêu:

– Ta tương kế tựu kế, lấy lại trại ta dễ dàng. Ắt bọn giặc sẽ chủ quan, cho tay chân dò la rồi mới đánh vào các đồn quanh Tiên Sơn. Tôi sẽ cho để ngỏ doanh trại đồn Cửa bộ, khi nào chúng vây thành ta đánh ập trở lại.

Các phó tướng đồng ý. Lãnh Hoan, đốc Cương gấp rút chuẩn bị. Chỉ ba ngày, trại đồn Cửa bộ như vắng bóng quân binh. Ngõ cổng, lối đi lại đều được tung các tờ rơi có dòng chữ: “Đồn Cửa bộ, quân binh được phép về quê gặt vụ. Đồn Cửa sông điều quân bảo vệ Bản doanh Tiên Động”.

Người đi chợ Bờ, đi Hưng Hóa nhặt được tờ rơi cầm theo để kháo nhau. Nhóm “Chuột rừng” cũng lên tận Tiên Động dò xét, thấy đúng; gươm giáo, súng đạn treo ngổn ngang nhà trại. Đồn Cửa bộ chỉ có vài ba bộ quần áo nghĩa binh phơi rải rác.

Đội Minh Rỗ:

– Nếu ngài Xanhtơni chưa thật tin thì tôi và trung úy Đen sẽ dẫn quân, vì đường đất này, chúng tôi thuộc làu làu!

Tham mưu trưởng Sa Nô cười to, giọng điệu hiểu biết, pha chút châm chọc.

– Tôi tin, tôi tin các ngài chứ, nhưng quân Tiên Sơn không chỉ là binh lính Triều đình, họ còn là thổ dân. Họ cũng lắm mưu mẹo đấy thưa trung úy Đen và ngài Đội!

Vốn tính hiếu thắng, lại mù mờ về binh kế. Trương Đen đứng dậy quả quyết.

– Tôi không phản đối thưa ngài Xanhtơni, nhưng đây là thời cơ cho Sa Nô, cho cả ngài chánh phủ Hưng Hóa, cảnh báo quân Tiên Sơn Tuần phủ!

– Thôi được, tôi đồng ý trình lên ngài chánh thủ phủ Sắclăng.

Một ngày sau. Hai đại đội quân thành phủ do đại úy Mácdoa chỉ huy, đội Rỗ dẫn đường hành quân lên Cổ Tiết, rồi lên Tứ Mỹ; chờ đêm đến, chia hai cánh sẽ đồng loạt bao vây đánh chiếm đồn cửa bộ. Nghe theo Xanhtơni, Trung tá Xáclăng chánh phủ phủ Hưng Hóa cũng sắp đặt sẵn một bộ quân, sau khi chiếm được đồn cửa bộ của Tiên Sơn sẽ lập ngay đồn Pháp trực thuộc phủ.

Lãnh Hoan đang ngồi trước bàn cờ tướng tính toán cách bày binh thì hộ vệ sơn phòng xin vào gặp trực tiếp. Võ tướng đứng dậy, mắt lướt trên mẩu giấy ngắn nhận ra chữ của lãnh Hằng, Quang Hoan gật nhẹ, rồi vội lên dinh phó tướng Bố chánh và Đề đốc. Mươi phút sau, Vương Văn Doãn, Hoàng Đình Cương, Lê Đình Dật có mặt.

Đồn trưởng Cửa bộ Hoàng Đình Cương:

– Kế nghi binh của võ Hoan để ngỏ Cửa bộ nhử cho giặc vào rồi đội rơm lên đánh tôi đã chuẩn bị kỹ càng.

Bố chánh.

– Tốt, tốt! Nhưng bây giờ có tin, quân Phủ đông tới mấy trăm, Đề Cương cho mở rộng khu mật phục để tăng thêm quân binh. Còn Tán Dật, đồn trưởng Cửa sông, ngoài quân thiện chiến giữ thành, sẽ cùng Đốc Thục đồn Hạ Hòa đánh vỗ ba mặt, tất diệt được giặc, bắt sống tướng chỉ huy.

Tán Dật đứng lên

– Tôi đề xuất đội Cửa bộ nên để ngỏ một đường đất chạy ra phía mặt sông Thao. Khi ta đánh ba mặt, quân giặc phải tháo chạy lối này ra sông mà thoát thân.

– Hay hay, kế của Tán tương hay lắm. Việc này giao cho Đề Cương. Bố chánh phó tướng gật gật.

Với sự tổng chỉ huy trực tiếp của Lãnh Hoan. Đề Cương ráo riết tạo nên địa bàn mai phục suốt gò đồi có nhiều cây cỏ rác, kéo dài đến tận đầm nước mà người dân đào để chăn nuôi vịt, Đề đốc Hoàng Đình Cương đặt mật danh địa hình trận địa này là đồi Cỏ rác, bãi Đầm đào. Lãnh Hoan lấy làm thích thú với kế dấu binh bằng rơm rạ không xa chân núi Tiên Sơn.

Đêm hạ trại ở Tứ Mỹ, để lập công danh cho mình đại úy Mácdoa điều tiểu đoàn số một do chính mình và đội Rỗ chỉ huy, bí mật tiến vào khu đồn cửa bộ. Quân canh phòng của Tiên Sơn cử người về báo ngay cho tướng quân lãnh Hoan.

Ngay đêm ấy, tất cả các ụ rơm rạ khu vực bãi Đầm đào và đồi Cỏ rác đều đã được quân Đề Cương náu mình, phủ kín. Quân binh của Đốc Thục, của Tán Dật cũng đã ém sát vài vị trí mật phục.

Trung đội mũi dài của Minh Rỗ hung hăng tỏa ra quanh đồn Cửa bộ chỉ thấy mấy quân binh Tiên Sơn trực gác đang ngồi đánh tổ tôm và uống rượu, súng ống vẫn treo trên vách. Nhận được tin của cai đội Minh rỗ, Mácdoa đại úy hớn hở huy động tiếp cả tiểu đoàn dự phòng cùng phong tỏa vòng vây nhằm đánh nhanh thắng nhanh và đóng chốt lập đồn ngay trong đêm rạng sáng không để cho quân Tiên Động kịp ứng cứu. Ngồi ở đồi chỉ huy, Bố chánh Phó Tướng công Nguyễn Văn Giáp và võ tướng Nguyễn Quang Hoan nhận được tin tức, bọn Pháp tăng quân đông gấp đôi, Bố Giáp ra lệnh cho Tổng Khảm, Tán Áo chỉ huy đồn cửa Cẩm Khê gấp rút đưa một Đại đội ra mai phục, chặn đường Tứ Mỹ về Hưng Hóa; Tổng Khảm – Tán Áo dẫn quân binh xuyên sơn cho kịp.

Cai đội Minh Rỗ cho lính xô vào đám tổ tôm. Năm bẩy quân binh Tiên Động bị bắt, úp mặt vào tường.

– Đốt trại lán báo hiệu cướp đồn! Minh Rỗ gào to rồi nổ tràng tôm xông liên thanh.

– A lê, cướp đồn, cướp đồn! Đại úy Mácdoa hét lên.

Quân lê dương, quân khố đỏ, khố xanh, hét inh ỏi, tràn vào đồn Cửa bộ.

– Đánh chưa tướng quân?

– Chưa lộ, quân nó còn đang hăng, ta cứ bình tĩnh. Đề Cương đáp.

Mác doa ngồi trên lưng ngựa tay khua súng ngắn cùng mấy chỉ huy ghì dây cương tiến thẳng vào sân dồn.

Bỗng một tiếng hét rất to từ một góc nhà trại:

– Giết, giết giặc Pháp!

Lập tức hàng trăm tiếng thét từ trong các nhà trại, rồi từ các lùm rơm khắp đồi Cỏ rác, khắp bãi Đầm đào phát ra. Mỗi tiếng hét là một bóng quân binh quần áo nâu gươm giáo sáng loáng lao như điên loạn vào đám lê dương khố đỏ mà đâm chém, mà cướp súng đạn. Một lá cờ to từ đâu xuất hiện trên nóc nhà đồn cửa bộ. Cờ gặp gió, chữ “Bình Tây báo quốc ” cứ phần phật phần phật làm cho quân binh Tiên Sơn càng phấn chấn, quân giặc thì rối loạn. Đạn nổ “Tắc, bọp, chát, chát; đóp, đóp, đóp…!” Tướng chỉ huy Mácdoa giật cương ngựa đen quay đầu tháo chạy ra cổng. Thấy chỉ huy tháo chạy, đám quân tướng giặc liều chết thoát ra khỏi khu nhà đồn. Quân binh vẫn cứ từ các lùm rơm xô tới, đánh giáp mặt. Hàng trăm quân khố xanh, khố đỏ vứt súng giơ tay xin hàng. Đề Cương nhìn thấy mấy con ngựa chạy ra khỏi cổng đồn liền thúc quân binh đón đầu. Súng vẫn nổ chan chát. Lãnh Vân giơ khẩu mút ca tông nhằm kẻ dẫn đường, bóp cò. Con ngựa nâu quỵ xuống, tên giặc người Việt quay súng ngắn nổ từng phát. Lãnh Vân bổ tới đá mạnh, tên giặc mất thăng bằng, rút dao găm thế thủ. Lãnh Vân lùi lại, một mũi gươm vung lên, bay đến, cắm phập vào ngựa tên phản bội. Lãnh Vân chỉ kịp nhìn thấy tên giặc mặt rỗ, trợn mắt rồi gục xuống như cây chuối đổ. Cai đội Minh rỗ giãy giãy mà tay hắn vẫn nắm chặt chuỗi dao găm.

Bọn giặc phủ Hưng Hóa chạy tán loạn ra bờ sông thì gặp đại đội quân binh của Lê Đình Dật đã đón sẵn. Hai con ngựa một đen, một mốc, hý ầm ỹ. Năm bẩy tên lê dương mũi lõ, mặt trắng bệch, râu rậm rì, ra sức cản nhóm quân binh. Tán Dật hét:

– Giết giết thằng chỉ huy, giết chết quân giặc Tây.

Tán Dật vừa dứt lời, một tiếng nổ danh gọn phát ra, tên chỉ huy ngồi lưng ngựa đen nghiêng nghiêng người rồi lăn xuống đất. Con ngựa thân chủ kéo rê hắn đi tới ba chục mét, lãnh Toát cùng mấy quân binh xô lại, đốc Thục cũng vừa bổ đến, một mũi giáo phóng thẳng vào tên chỉ huy, khẩu súng lục trên tay hắn rời ra, con ngựa đen hý to nhảy bật đi. Viên đại úy Mácdoa trợn cặp mắt xanh rồi gục đầu. Đám tàn binh cả trăm đứa ra đến bờ sông thì gặp quân của đốc Thục đã đón sẵn, tất cả quay đầu chạy ngược bờ sông. Thằng Tây ngồi trên lưng ngựa mốc, giật cương, ngựa mốc chồm thẳng xuống đầm nước ven dòng sông Thao đang đục ngầu phù sa. Cả đám khố đỏ, khố xanh trung thành với chủ tướng ào ào nhảy theo.

Trận đồi Cỏ rác kết thúc, đồn Cửa bộ im tiếng súng. Theo lệnh của Tướng quân Nguyễn Quang Hoan, hàng trăm lính giặc đã xin hàng, được đưa vào nhà trại, cho ăn uống nghỉ ngơi. Chiều tối hôm đó, Đề đốc Hoàng Đình Cương gặp tất cả, khuyên giải đám hàng binh, hãy trở về quê mà làm ăn, không được đi lính cho Pháp; còn nếu ai yêu nước thì ra nhập nghĩa quân Tiên Sơn bình Tây báo quốc. Hàng binh khố đỏ, khố xanh, vâng dạ, ra khỏi nhà trại.

Thượng thư Bộ lễ Đại thần Nguyễn Quang Bích cùng mấy tùy viên về đến Bản doanh hành dinh Tiên Động thì trời tang tảng sáng. Chánh Sơn phòng Vương Văn Doãn mời Ngài nghỉ ngơi một vài ngày cho lại sức. Hiệp thống khoát tay.

– Ta vẫn khỏe. Nghe nói đầu bếp Lò tử trận trong trận Xuân Quang, thương thay nghĩa binh đầu bếp từng cưu mang ta!

Chánh Sơn phòng cho gọi nàng Mỹ Cẩm đến. Nhìn thấy Thủ lĩnh đi đường xa về, người gầy rộc, Mỹ Cẩm quỳ xuống bên Tướng công mà khóc, Thủ lĩnh khẽ đỡ tay.

– Con gái ta. Cha Nguyễn Văn Lò đã vì nghĩa lớn mà thác trận, con nối bước chân người nghĩa sỹ Tiên Sơn, cho xứng danh với quê hương, với Quốc Tổ.

Nói rồi, Ngài nhắc chánh Sơn phòng cho người về quê thăm hỏi thân phụ Nguyễn Văn Lường, phụ tử binh họ Nguyễn để nghĩa được trọn trước sau.

Bộ tướng Tiên Sơn có mặt. Hiệp thống khen các tướng quân lập được mưu kế nên thắng lợi. Nhưng Ngài lại nói:

– Thua trận, Pháp sẽ trả thù, chúng không để ta lừa lần nữa. Phó tướng công cho củng cố toàn tuyến thủ phòng. Tăng sức dân binh các làng, cùng soát lại sơn pháo Cửa sông, ngăn chặn quân dò xét. Việc binh không được quên lãng.

Bố chánh cùng các Tướng quân cúi mình đáp lễ rồi lui khỏi tư dinh.

Chuyến đi Vân Nam theo chỉ dụ của Đức Vua Hàm Nghi trở về làm cho Hiệp thống thấy vui. Tổng đốc Sầm Dục Anh đã ngỏ ý giúp đỡ Triều đình chủ chiến cả về người và súng đạn trong thời gian sớm nhất, có thể đầu mùa thu Ất Dậu này. Hiệp thống tự mỉm cười cầm bút viết thư cho Đại thần Tôn Thất Thuyết. Võ tướng Hoàng Bộc cùng hai nghĩa sỹ đóng vai người ăn xin, vào Sơn phòng Quảng Trị dâng thư. Cai Bộc cũng đem theo lời lẽ của Hiệp thống, tìm đến Tả tướng quân Phan Đình Phùng người đang bị hồi quê ở Hà Tĩnh. Chiều nắng nhạt, tư dinh Sơn phòng âm thầm đưa tiễn Cai Hoàng Bộc và hai nghĩa binh. Bố chánh phó tướng, Đề đốc phó tướng và Chánh Sơn phòng Vương Văn Doãn có mặt. Hiệp thống đặt vào tay Cai Bộc hai vuông vải to bằng tờ giấy, cả hai đều có dòng chữ Hán “Bình Tây báo quốc ” và dặn, một vuông, dâng lên Đại thần Tôn Thất Thuyết, một vuông chuyển đến Phan Tả tướng. Ba sứ giả Tiên Sơn cúi mình lãnh nhiệm.

Như tự bằng lòng với đại sự mà Đức Vua giao, Hiệp thống Đại thần mời phó tướng công quân vụ Nguyễn Văn Giáp, phó tướng công Đề đốc Hoàng Văn Thúy trở vào hành dinh. Một phác họa khâu nối giữa chiến khu Tiên Sơn, với các căn cứ mới hình thành trên đất Bắc Kỳ được Thủ lĩnh đặt ra. Ngay hai ngày sau, Hiệp thống cho các võ sư lên đường, người đi Hưng Yên, Hải Dương tiếp kiến tán tương Nguyễn Thiện Thuật; kẻ về Ninh Bình gặp tán tương Nguyễn Tử Ngôn. Hiệp thống lại viết thư cho Tiến sỹ Vũ Hữu Lợi, xem xét việc sớm dấy binh ở Nam Định, Thái Bình, lại nhắc Nghè Lợi đưa con trưởng Ngô Quang Đoan đang tầm sư thầy Nghè, lên Chiến khu Tiên Động.

Chưa lại sức, Hiệp thống cùng các Phó tướng Đề đốc, lên ngựa đi kiểm tra phòng tuyến chiến khu Khả Cứu Thanh Sơn nơi Đề đốc Nguyễn Đình Ngữ đang khẩn trương xây dựng mặt trận, và miền Tây chiến khu Rừng Già nơi rừng núi Yên Lập tiếp giáp với Thu Cúc, Nghĩa Lộ.

– Ngày ta ở Hưng Hóa không nghĩ đến đường lui. Mà ai biết được vật đổi sao dời, Triều đình quy phục ngoại bang, hết đất Nam Kỳ, đến Trung Kỳ, rồi Bắc Kỳ. Đến khi ông Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết thì mọi sự đã rồi, cứu vãn khó thay.

Thong dong trên lưng ngựa, Hiệp thống quân vụ tâm tư cùng Hoàng Đề đốc.

– Chuyện đã qua rồi, thưa Thủ lĩnh. Trước mặt Tướng công quá nhiều việc lớn. Đề Kiều phân trần.

– Cổ nhân dạy “Thần thiêng nhờ bộ hạ”. Nay ta dấy binh Tiên Động, được yếu nhân khắp nơi tìm đến phù trợ, há chẳng phải lòng Trời đấy sao?

– Vâng, vâng, thưa Thủ lĩnh! Đề đốc vội cắt ngang lời Hiệp thống Đại thần khi vó chân ngựa chiến bước xuống dòng suối chảy xiết.

Thất bại thê thảm trong trận bao vây đánh chiếm Cửa bộ một đồn trọng yếu của nghĩa quân Tiên Sơn. Có đến hai ba trăm lính khố đỏ khố xanh bị giết chết, bị trôi sông; số còn lại trở thành hàng binh. Vũ khí đạn dược mất tất vào tay đối phương. Đại úy Mácdoa, đội Minh rỗ, những người hùng của Sa Nô Tây Bắc, đều chết trận. Ý đồ lập đồn Tứ Mỹ của ngài thiếu tá Tham mưu trưởng Xanhtơni hoàn toàn đổ vỡ. Ăn nói thế nào, lập luận thế nào với Sa Nô, với ngài đại tá Molanh?

Chánh thành phủ Hưng Hóa trung tá Máclăng ngồi thừ mặt, chén rượu Mácxay đặt trên bàn vẫn nguyên vị. Có tiếng gõ cửa.

– Chào thiếu tá Xanhtơni. Chào trung úy Đen.

– Vâng, Vâng. Chào ngài Xáclăng!

Những tiếng chào hỏi, đáp lễ, khô khốc, nặng nề. Trung úy Trương Đen thấy cần phải phá vỡ không khí mệt mỏi, lấy lại sự tự tin theo kiểu người Việt, chủ động lên tiếng.

– Các ngài cho tôi rót tiếp ly rượu Mácxay. Hì hì. Ta chúc nhau chiến thắng trong cuộc thua tạm thời.

Miệng nói, tay Đen cầm chai rượu mạnh rót đầy ba li thủy tinh.

– Nào, các ngài. Người Việt là thế, thua là để chiến thắng!

– Ô kê. Ô kê! Nào! Nào! Chiến thắng…

Xanhtơni đặt chiếc li cạn xuống bàn, ngẩng mặt. Đôi mắt xanh của y bỗng khác thường.

– Các ngài. Đại tá Molanh Tổng chỉ huy Tây Bắc không trách cứ chúng ta, ngài chỉ đòi hỏi, muốn đánh được nghĩa binh thổ dân, phải có một chiến thuật.

Xáclăng vừa rót rượu vừa ngếch mặt lên như dò xem chiến thuật bình sơn nào sẽ hữu hiệu nhất?

Xanhtơni búng ngón tay cái, rồi bật ngón tay trỏ, và xòe cả năm ngón tay trên bàn tay.

– Đánh lẻ, đánh liên tiếp, rồi đánh đổ bộ!

Trương Đen vỗ đùi đánh đét.

– Hay! Quấy rối, tiêu hao, rồi càn quét. Tôi xin tiên phong! Cai đội Trương Đen le lên, cầm chén rượu uống đánh ực, gật gù cười.

Chiến thuật của Xanhtơni được đại tá Molanh y duyệt. Chỉ mấy ngày sau, nhóm “Chuột rừng”, từng tốp, từng tốp, luồn sâu vào địa bàn Cẩm Khê, dò xét.

Tốp thám báo “Chuột rừng” có hai tên thuộc chủng loại khố xanh đi Mỹ Lương trở về, tin tức được đưa ngay lên trung úy Đen.

– Ngài Cai đội. Mỹ Lương là đầm sình lầy, quân Tiên Sơn đang xây dựng các ụ pháo bằng đất. Chưa rõ Tuần phủ lập kế gì?

– Kế gì à? Đen trợn mắt. Kế cướp pháo đồn cửa Đà giang hay Thao giang, các ngươi không đoán được thì do thám làm gì?

Một tên bước lên:

– Theo ý tiểu binh, thiển nghĩ, quân Tuần phủ Tiên Động không đủ sức cướp pháo của Chánh phủ mà chỉ dùng súng thần công để đối chọi.

Trương Đen hất hàm.

– Súng thần công?

– Vâng. Khi ta chiếm được thành Hưng Hóa, hàng binh Tuần phủ khai rằng, có ít nhất ba khẩu thần công đã được quân Tuần phủ Bích cất giấu, bây giờ nó đã nằm trên núi Tiên Sơn.

– Quân Chánh phủ ra tay ngay được chứ?

– Vâng được. Ra tay ngay bây giờ. Còn nếu chậm, mùa mưa về cả làng Mỹ Lương ngập nước, muốn đánh, lại phải bắc cầu từ gò Hang hùm sang gò Hàm rồng mới tập kích bất ngờ cứ điểm Mỹ Lương được.

– Ha, hay hay! Chiến hữu Phú, anh xứng đáng được trọng thưởng. Trung úy cai Đen vỗ vai.

Chỉ mấy ngày sau Phú bạnh được bổ chức đội phó do thám thế chỗ Lưu Minh rỗ vừa chết trận.

Lê Phú bạnh được thăng đội phó là phải; anh ta có bộ cằm vuông mỗi lần cãi vã, cổ bạch ra, đám lính gọi là Phú Bạnh chứ kỳ thực tên họ chỉ là Lê Phú.

Phú bạnh người Thổ Tang, cũng từng làm thuê ở đồn điền Cẩm Khê của Thổ hào Hoàng Văn Thúy, anh ta tranh giành cái chức tổ trưởng bốc vác không được, mang thù, đánh chết bạn điền, bị đuổi. Phú chạy một mạch về Sơn Tây xin vào lính khố xanh. Hưng Hóa rơi vào tay người Pháp, Phú được đưa về đây, vào đội “Chuột rừng”, tranh nhau chức phó đội với Trần Đức, nhưng Đức cao tay hơn, thắng thế. Giờ thì Đức bị điều đi Bắc Ninh, Minh rỗ thì chết xác. Phú vừa mưu mẹo, vừa được lòng Trương Đen. Thế là Xanhtơni thăng chức từ lính quèn lên đội phó.

Mưu mô của Phú bạnh được Xanhtơni chú ý nhất là thâm kế đánh nghĩa quân Tiên Động vào ngày nước ngập. Xanhtơni nhìn Trương Đen tủm tỉm cười.

– Cám ơn Trung úy Cai Đội! Dùng mưu nào, bao giờ dùng nó, và dùng ra sao để phá được bọn thổ dân Tiên Sơn, còn phải được ngài đại tá Molanh thụ lý ban lệnh. Ngài hiểu chứ, ngài Đen?

– Ồ, tôi hiểu, tôi hiểu! Chỉ mong thiếu tá tham mưu ghi nhận đấy là công sức của anh em người Việt chúng tôi.

Xanh tơ ni cười to, với chai Mácxay rót hai chén đầy.

– Chúc mừng công sức các ngài. Chúc mừng!

Chưa lập được đồn Tứ Mỹ, nhưng phải khống chế nghĩa quân Tiên Sơn, Xanhtơni, Xáclăng, tăng cường sơn pháo cho đồn cửa phủ Hưng Hóa và giao cho Cửa phủ nhiệm vụ quấy rối Tiên Động bằng thủy pháo nhằm tránh chạm trán đường bộ với Tiên Động chờ mùa mưa nước nổi dùng đại binh quét trận.

Tổng chỉ huy Sa Nô Tây Bắc, đại tá Molanh bước vào phòng Chánh phủ Hưng Hóa. Xáclăng, Xanhtơni, cả Trương Đen hoan hỉ chào đón bằng món quà mưu kế thâm hiểm.

– Tôi thành thật khen những sáng kiến tuyệt vời của ngài Chánh phủ Xáclăng, của ngài tham mưu Xanhtơni, và của cả ngài trợ lý Đơbiêngđơ của tôi nữa. Molanh cười nhạt rồi cầm li rượu Mác xay. Nào. Chúc mừng!

Năm sáu sỹ quan Sa Nô có mặt tại dinh Chánh phủ tươi vui mặt mày.

– Thưa ngài đại tá. Tôi, tôi sơ xuất…

Mọi con mắt đổ dồn về trung tá Chánh thành phủ. Xác lăng nghển cổ:

– Tôi sơ xuất chưa giới thiệu với ngài Quan một Molanh cao cả. Cùng tôi đón ngài hôm nay còn có thiếu tá Víchke, phó Chánh phủ Hưng Hóa, và ngài Cai- trung úy Trương Đen!

Trương Đen thở phào. Molanh:

– Ố ồ, tốt tốt!

Vích ke, Trương Đen cúi đầu rồi bước lại gần viên Tổng trưởng Sa Nô.

Li Mác xay, cả ba cạn trơ đáy. Mo lanh cười nửa miệng rồi bỗng trang nghiêm.

– Các ngài! Tôi muốn nói với các ngài. Sứ mệnh của phủ Hưng Hóa hôm nay, khác ngày hôm qua. Hôm nay, Phủ của ngài Toàn quyền Đông Dương chứ không còn của cái Triều đình Huế lỗi thời. Mo lanh đột ngột dừng, nhìn quanh, rồi lại bật thành tiếng. “- À mà cái ông Tuần phủ Nguyễn Quang Bích đi đâu rồi nhỉ (?!)”

Xáclăng thừa hiểu quan trên hỏi xỏ mình nhưng vẫn lễ độ

– Thưa đại tá, ông ta kéo được đám thổ dân chạy lên núi Tiên Sơn đang hòng lật lại thế cờ.

– Ồ, đúng đúng! Tuần phủ Bích không còn nữa, mà bây giờ là Hiệp thống Bắc Kỳ Đại thần quân vụ của Triều đình lưu vong sơn cước. Ha ha. Triều chính Huế đang rối loạn. Bổn phận của các ngài là phải dẹp tan đám loạn quân Tiên Sơn này.

Viên đại tá chỉ huy Sa Nô mặt rắn lại, giọng điệu đanh chặt. Y tự rót cho mình một ly rượu, rồi bất ngờ.

– Sao? Các ngài, ta hành động chứ?

Xáclăng rụt rè. Víchke hăng hái. Trương Đen xum xoe. Tham mưu trưởng Xanhtơni hất hàm.

– Trung tá Xáclăng, ta hành động.

Xáclăng như chợt tỉnh cười tươi, cái cười chưa quên đòn đau trận đồn Cửa bộ, đồi Cỏ rác mấy tháng trước.

– Vâng! Nào, ta hành động, ra tay quét sạch quân Tiên Sơn. Chúc ngài đại tá…

– Ô, Ồ! Tốt, tốt! Mo lanh cười to.

Chỉ sau ba ngày tổng chỉ huy Molanh về thành phủ. Xáclăng đã ra lệnh cho đồn Cửa phủ đưa thủy pháo lên tầu, đêm, bí mật ngược sông Thao, ém sát Tiên Lương, nhằm các đồn Cửa bộ, Cửa sông của nghĩa quân Tiên Sơn mà nhả đạn tới tấp, rồi rút nhanh. Hai tháng ròng, chiến thuật của phó chánh thành phủ Víchke được bốn thám báo “Chuột rừng” đi dò xét trở về.

– Thưa ngài Xanhtơni. Trương Đen liếc mắt

– Ngài nói đi. Ngài Đen!

– Tôi cho rằng chiến thuật của ngài Vích chỉ là tiêu tốn đạn. Quân Tiên Sơn vốn cố thủ, mấy đồn binh của chúng vẫn kéo cờ ngạo nghễ. Đánh như thế khác gì bắn chỉ thiên (!!), cai Đen đùng đùng căng máu mặt.

– Ý ngài sẽ là sao?

Cai Đen được thể.

– Phải lập được vài trạm đồn Cửa phủ nằm dọc mặt sông Thao. Quân Tiên Sơn không đánh được, mà ta vẫn có cơ hội đổ quân bộ dưới sự hỗ trợ của thủy pháo.

– À a! Một kế hay! Tôi sẽ thống nhất với ngài Xáclăng, lập các trạm đồn lưu động ngay trong tháng chạp này.

Xanhtơni nói là làm. Mười ngày sau, ba trạm thủy pháo của đồn Cửa phủ nghênh ngang nổi trên mặt sông Thao suốt ngày đêm tương ứng với khu vực Tiên Động, bất thình lình bắn tới tấp vào các đồn Cửa bộ, Cửa sông của nghĩa binh. Có ngày thủy tầu còn ngược sông lên áp đồn canh phòng Hạ Hòa của đốc Thục để thăm dò. Quân nghĩa binh đốc Thục không được lệnh khiêu chiến.

*

Tháng mười hai Ất Dậu. Giữa trưa mà trời sương lạnh, Hiệp thống ngả mình trên giường tre hiên nhà Hành dinh. Ngài không ngủ, mà Ngài cũng không mấy khi ngủ trưa. Từ ngày Đức Vua bổ chức Đại thần, lãnh nhiệm đi sứ Côn Minh, thế chỗ Hoàng Tá Viêm làm trưởng đoàn trình quốc thư lên tổng đốc Vân Nam Sầm Dục Anh, Hiệp thống thấy trọng trách thiêng liêng nặng nề trước Đức Kim thượng Hàm Nghi và phụ chính Đại thần Tôn Thất Thuyết, trước vận mệnh “Phục quốc bài Tây” của nghĩa binh Tiên Sơn. Đang miên man nghĩ ngợi thì Chánh Sơn phòng Vương Văn Doãn bước tới. Sau Doãn là võ tướng Nguyễn Quang Hoan.

– Thưa Thủ lĩnh Quân vụ. Lãnh Hoan đứng nghiêm trang, nói. Mấy ngày nay quân Pháp ở thành phủ lập ra ba bốn tầu pháo nằm dọc sông Thao. Chắc chúng có ý đồ lớn bao vây Tiên Sơn. Xin Thủ lĩnh Quân vụ cho đánh chặn.

– Bằng cách nào? Thủ lĩnh hỏi.

– Các nghĩa binh sông nước bơi ra đốt tầu, hoặc là Ngài cho dùng thần công bắn thẳng? Lãnh Hoan nói ngắn.

– Cả hai cách. Cách nào sẽ làm cho “thành phủ” nổi giận mà đổ quân đánh Tiên Động?

Lãnh Hoan, chánh Doãn đều chợt hiểu, khi ta chưa củng cố được lực lượng thì chỉ nên ở thế giằng co, manh động là hỏng. Lãnh võ Hoan vội vàng đỡ lời lỡ miệng.

– Vâng, thưa Thủ lĩnh. Chỉ khi thủy pháo bắn nhiều thì súng thần công của ta mới đáp lại. Còn việc tập kích các tầu pháo thì… tạm gác lại.

Quân vụ Tướng công gật đầu rồi nói.

– Việc trọng, cần bàn với phó Tướng công Bố chánh. Rồi Ngài quay sang Vương Văn Doãn: Phó Đề đốc nhắc lời ta với Phó tướng công Đề đốc, là, chuẩn bị tích cực hơn lương thảo, và rà soát lại các đội quân dân phòng quanh Tiên Sơn. Xuân này ta sẽ gặp mặt dân phòng.

Hai tướng quân cúi mình, đáp lễ. Hiệp thống Quân vụ trở lại tư dinh. Nàng Mỹ Cẩm bưng lên tư phòng mấy quả ngõa mật căng mọng, thơm ngọt.

– Con mời Thủ lĩnh Tướng công ăn cho lại sức.

– Được rồi, ta tự dùng! Nói rồi Ngài vẫy Mỹ Cẩm lại gần:

– Ta nghe Chánh Sơn phòng hỏi ý, rằng có anh hàng binh nào đấy, ngỏ lời yêu con. Đúng không?

– Dạ vâng, việc này con đã xin ý kiến thế phụ Doãn, thế phụ đồng tình ạ.

– Thế thì được, ta mừng cho con. Ta sẽ nói với thế phụ Vương Văn Doãn lo liệu.

– Dạ. Con mang ơn Thủ lĩnh Tướng công, mang ơn thế phụ.

Có gì bồn chồn trong lòng. Đêm càng về khuya, càng trằn trọc. Bao mối lo nghĩ nơi chiến khu Rừng già Tiên Sơn chưa đâu vào đâu mà vận Nước thì như băng phủ. Nơi rừng núi Quảng Trị, Đức Vua và Phụ chính đang đối mặt với Ưng ký Nguyễn Cảnh Tông Đồng Khánh chủ hòa, Tướng Pháp Cuốc xy ở Huế đã thắt được thòng lọng vào cổ Triều đình Việt chủ hòa này rồi. Nguyễn Văn Tường, Hoàng Tá Viêm đều là những Đại thần bạc nhược. Ba tháng rồi, Tổng đốc Vân Nam đã hứa mà không có văn tự đáp lễ Kim thượng Sơn phòng chủ chiến, lẽ nào họ nuốt trôi lời hứa cứu viện? Việc quốc gia đại sự mà ta có lỗi với tổ tiên, với vợ con nơi làng quê Trình Phố. Xin Đèn trời soi rọi xá tội cho đứa con ngày đêm lo nghĩ việc báo Quốc này.

Hiệp thống Thủ lĩnh thiếp đi, cho đến lúc gà rừng te te gáy, Ngài chợt tỉnh, bước ra khỏi tư phòng. Bộ tướng đã tề tựu dưới nhà Hành dinh, mặt mũi ai nấy tươi vui, nói cười rôm rả.

Chánh Sơn phòng đứng dậy.

– Thưa Hiệp thống Quân vụ. Theo lệnh Thủ lĩnh võ tướng Hoàng Bộc đã hoàn thành trọng trách, Tướng quân xin được tấu trình với Hiệp thống và Bộ tướng.

Tin Hoàng Bộc (Cai Bộc- Đặng Huy Tá) trở về an toàn khỏe mạnh, làm Tướng công vui lòng. Ngài khăn mũ tử tế, ngồi trang nghiêm, nghe lời dụ.

Võ tướng cai Bộc cúi mình, rồi thong thả.

– Tiểu tướng đã thân chinh trình tấu với Đại thần Phụ chính. Phụ chính Tôn Thất Thuyết chuyển lời khen của Đức Kim Thượng về sự dấy binh khởi nghĩa Tiên Động “Bình Tây phục quốc”  của Thủ lĩnh Tướng công; và việc Hiệp thống Quân vụ đi sứ Vân Nam gặp được Sầm Dục Anh, nay chờ cứu viện.

Thủ lĩnh ngồi lặng yên. Phòng nhỏ hành dinh im phắc

Cai Bộc cúi mình lấy trong ngực áo ra phong thư của Đại thần Phụ chính. Thư có câu thơ: Độc vãn cô quân trì viễn tái/ Cộng hoài xích kiếm trảm đông lưu (Níu đám cô quân nơi cửa vắng/ Cầm ba thước kiếm chặn lòng sâu).

Hiệp thống đứng dậy đỡ phong thư của Phụ chính Đại thần viết từ Sơn phòng Quảng Trị mà lòng bồi hồi. Tướng công Ngư Phong Hiệp thống bật lời họa lại: “Ba trung chỉ trụ, ngột cuồng lưu” (Cột cao giữa sóng, chặn lòng sâu). Bộ tướng gật gù thán phục và tự cảm thấy tin tưởng cao độ ở quan Đại thần chủ chiến dòng Tôn Thất trong bối cảnh đất nước ngàn cân treo sợi tóc này.

Mưa xuân rả ích. Thủ lĩnh Tướng công cùng Đề đốc và Võ tướng chống gậy lão nông chi điền đi đến từng đội dân binh dân phòng các làng Tiên Lương, Hoàng Lương, Mỹ Lương, Ngô Xá. Dân binh chỉ biết đến Đề đốc từ ngày ông còn là thổ hào chủ đất, rồi chánh tổng Cẩm Khê, nay bất ngờ được gặp Quan Đại thần Triều đình thì lòng vui khôn xiết. Hiệp thống vỗ vai một lão nông dân binh:

– Đất của ta, nhà của ta, thằng Tây đến cướp, ta cùng nhau đánh lại nó mà giữ lấy. Thế. Có làm được không?

– Làm được, đánh được!

Các dân binh, dân phòng cao niên, trung niên thanh niên. Cười ha hả.

Thăm đồn Cửa bộ, Hiệp thống Đại thần khen trận lừa địch khôn khéo mà đánh bại nó. Rồi Ngài lại nhắc: “- Nó có trả thù quân ta, ta cũng sẽ đánh thắng. Được chứ?” Quân sỹ vung hai tay lên cao, hô to: “- Thưa Tướng công. Được ạ. Đánh thắng ạ!”. Ngày xuân, hoa nở trắng các gò đồi. Nghĩa quân Tiên Sơn, từ vị Tướng công đến chàng nghĩa binh, ai nấy hào hứng. Hiệp thống quay lại nói với các tùy tùng:

– Lời Đức Vua anh minh đã về đến làng quê; quân binh, dân binh một lòng phụ tử!

Ngoài sân đồn cửa bộ, hộ vệ đã thắng ba con ngựa chiến, đón quan Hiệp thống, Đề đốc và võ tướng trở về hành dinh. Trên yên ngựa chủ tướng Thủ lĩnh bất ngờ hỏi Đề đốc.

– Nếu quân Pháp đánh chiếm được chiến khu Rừng già, tướng quân tính sao?

Đề Kiều:

– Thưa Hiệp thống. Nếu chẳng may phòng tuyến mặt tiền bị vỡ. Bộ tướng sẽ rút theo đường Thu Cúc. Hạ tướng sẽ ở lại cùng dân binh, quân binh, biến Rừng già thành hố chông, bẫy đá, tên thuốc độc mà cầm cự với giặc.

Hiệp thống Quân vụ gật đầu

– Được lắm, được lắm. Khen cho tướng quân Đề đốc có đầu óc kháng chiến du kích.

Võ tướng Quang Hoan chợt nghĩ: “- Đề đốc thực kỳ tài. Kháng chiến du kích và kháng chiến võ khí, cần được đan xen với nhau!”.

Bộ ba kỵ mã bước nhanh, về tới hành dinh. Trời xuân, hong hong nắng.

 

Đã nhiều lần đội “Chuột rừng” lập được công tích do thám và hiến nhiều mưu kế mà chánh thành phủ vẫn phớt lờ việc bổ chức, thăng cấp. Trương Đen tức tối mà không dám nói ra, y quyết định tung các tin giả rồi đòi Xáclăng, Xanhtơ ni mở cuộc phản công kết hợp quân bộ và thủy pháo.

Tháng sau.

Mấy ngày liền tàu thủy nối nhau ngược sông Thao, rồi dừng ở khu vực các đồn, các làng có quân binh, dân binh Tiên Sơn đồn trú mà bắn pháo. Có quả thủy pháo tầm xa nổ đến tận ngòi Dành, nổ tận Minh Côi, giáp với Tiên Động.

Thấy hiện tượng khiêu khích không như trước đó, lãnh Hoan, phó đề Doãn gặp phó Tướng công Bố chánh xin ra lệnh án ngữ. Quân Tiên Sơn chưa kịp triển khai thì thủy pháo cấp tập bắn. Võ tướng Lãnh Hoan cho kéo hai khẩu thần công xuống bờ ngòi Dành phục sẵn đề phòng tầu địch vào bến đổ quân. Rồi cho quân binh liên lạc đến ngay các làng cửa tiền sông Thao cho đôn đốc các đội dân phòng cảnh giác sẵn sàng đánh giặc.

Mưu kế Trương Đen thật hiểm độc, sau hàng loạt thủy pháo vào Mỹ Lương, Minh Côi. Quân Pháp bất ngờ đổ quân bộ vào làng Hoàng Lương. Đội Bớt, chỉ huy dân phòng Hoàng Lương kháng cự không nổi cho dân binh rút sang ngòi Dành. Quân Pháp đuổi theo. Khố đỏ, khố xanh hò hét, đạn nổ chát chúa. Thấy quân địch ào ào, Đội Bớt liều chết ra lệnh tổng phản công đánh gập trở lại. Đứng trên đồi, Ma Văn Vân đồn phó đồn Cửa bộ phán đoán quân giặc đã tiến sát ngòi Dành liền cho liên lạc chạy báo đến lãnh Hoan. Võ tướng Hoan điềm tĩnh mà dứt khoát.

– Xuống nói với lãnh Vân cho cảm tử dồn giữ chân quân giặc đúng ngã ba cửa ngòi càng nhiều càng tốt. Rồi nổ liền ba viên xít ten, cảm tử nhảy xuống vực ngòi để sơn pháo khai hỏa.

Liên lạc chạy đi.

Lãnh Vân y lệnh, vác khẩu xít ten mà nghĩa quân thu được trong trận cửa bộ lao xuống ngòi Dành.

– Đội Bớt, Đội Bớt. Cho dân binh lui vào trong, cử mấy người cùng anh và tôi cảm tử cản giặc.

Không đợi đội trưởng cắt đặt hai dân binh Nguyễn Văn Đồng và Nguyễn Văn Đạo cầm giáo, vung gươm bước sang đứng bên đội trưởng. Lãnh Vân ra lệnh.

– Chỉ bốn, chỉ bốn người thôi. Khi tôi nổ liên thanh ba phát súng, tất cả phải nhảy xuống vực Dành để ta bắn pháo.

– Rõ.

Trên đồi, Khê Ông Nguyễn Hội cùng võ tướng Nguyễn Quang Hoan đang làm lễ tế linh, cầu Thổ công Thổ địa Thổ kỳ Tiên Sơn và linh thần Thần công phù hộ lần đầu khai pháo sau trận Hưng Hóa. Ba khẩu thần công ém mình dưới lá cây, bộ nòng chĩa thẳng xuống ngã ba Dành. Nghĩa binh chuyên pháo đã sẵn sàng đốt lửa đuôi nòng.

Tiếng la hét mỗi lúc một gần: – Bắt sống, bắt sống bọn thổ dân…! Bỗng ba phát nổ liên hoàn, đúng là tiếng nổ của súng xít ten. Lãnh Hoan hét:

– Đốt lửa. Bắn!

Lập tức ba khẩu súng thần rung lên. Uỳnh. Uỳnh. Uỳnh…

Phía dưới chân đồi đúng ngã ba ngòi dành, tiếng khóc thét, tiếng kêu la: – Sơn pháo, sơn pháo quân Tiên Sơn, chạy đi, chạy đi! Vang trời.

Ba khẩu thần công vẫn nổ từng phát, từng phát cho đến lúc quan sát chạy đến báo: “- Quân giặc chết như rạ, chúng kéo nhau đã tháo chạy ra bờ sông”, Võ tướng mới ra lệnh tháo rời sơn pháo giấu vào rừng.

Trận ngòi Dành giáp lá cà, lính khố đỏ khố xanh chết la liệt. Trung úy Đooc ka và nhóm lê dương trúng đạn pháo thần công đúng lúc quay đầu tháo chạy. Lãnh Cát, đội Bớt cùng một nghĩa binh chém tới tấp vào lũ giặc. Bị chúng quây bắt, đội Bớt trúng đạn địch, ngã xuống ngay trên đất làng. Lãnh Hoan, Khê Ông Nguyễn Hội, Lãnh Vân, cúi đầu thương tiếc các dân binh hy sinh anh dũng trong trận Hoàng Lương – Ngòi Dành.

– Thưa Hiệp thống Quân vụ…

Nguyễn Quang Bích đang thư thả phe phẩy cánh quạt tay được làm bằng tầu cọ đồi gò thì nghe tiếng chánh Sơn phòng, nhưng thoáng trong đầu Ngài đã hình thành một bài thơ ca ngợi Đức Vua Hàm Nghi, kiên quyết rời bỏ chốn Vương phủ mà theo bề tôi lặn lội rừng già  lập Sơn phòng mưu việc cứu nước. Chút lãng mạn hiếm hoi của Ngư Phong Tướng công bị ngắt quãng.

– Thưa Hiệp thống. Có sứ thần từ Quảng Trị ra, xin được trình diện.

– Phó Đề đốc mời hai phó Tướng công và Khê Ông Nguyễn Hội cùng diện kiến.

– Thưa vâng!

Hiệp thống bước vào tư phòng, Cận vệ hành dinh nhanh chóng sắp bộ Triều phục. Bộ tướng đã có mặt.

Sứ thần bước tới:

– Thưa Đại thần Hiệp thống. Sứ thần vâng lệnh Đại thần Phụ Chính chuyển đến Hiệp thống chỉ dụ của Đức Vua, cắt cử Phụ chính và Hiệp thống cùng mấy Triều thần thân chinh gặp lại Tổng đốc Vân Nam cầu viện. Ngày giờ lên đường được ấn định là…! Nơi nhập đoàn cũng được ấn định là…! Ấn chỉ Ngài Hiệp thống gấp rút lo liệu.

Sứ thần cúi mình trao thư của Phụ chính. Bộ tướng nhẹ nhàng đáp lễ.

Từ hôm cùng tướng quân Đề Kiều và võ tướng lãnh Hoan đi thị sát các làng ven khu cứ và các đồn mặt tiền chiến khu. Thủ lĩnh Tướng công có phần yên tâm. Trước mắt tìm cách yên tĩnh để củng cố quân lực và hậu cần, cũng là chờ viện binh từ Vân Nam. Thủ lĩnh luôn ngóng trông tin tức từ Sầm Dục Anh và Chiếu chỉ từ Đức Vương minh. Giờ đây mật thư của Phụ chính gửi đến, đủ thấy trọng trách mình chưa thành làm phiền lòng Minh Vương Hàm Nghi khiến Ngài lại phải yêu cầu đích thân Tôn Thất Phụ chính và Hiệp thống Lễ bộ Thượng thư xuất bôn, đủ thấy vận mệnh Quốc gia nghiêm trọng đến mức nào.

Ba ngày sau nhận chỉ lệnh Hiệp thống Thủ lĩnh triệu tập bộ tướng.

– Ta lên đường, ngày tháng nhanh chóng đều không thể định. Ta trao quyền cho Bộ tướng mà người đứng đầu là Tham tán Hiệp đốc Bắc kỳ Quân vụ, Bố chánh phó Tướng công Nguyễn Văn Giáp. Người Pháp cố tình, binh thuật đã có, tướng sỹ phụ tử, dân làng đồng lòng, ta yên tâm đi sứ hẹn sớm trở về Tiên Sơn.

Lời quan Hiệp thống nhẹ nhàng, sâu sắc, đầy đủ. Các tướng có mặt đồng thanh đáp lễ. Bố chánh Nguyễn Văn Giáp đưa hai tay nhận bản triện từ Thủ lĩnh.

Hôm sau. Giờ mão. Hiệp thống Nguyễn Quang Bích, Khê Ông Nguyễn Hội được vệ sỹ võ tướng lãnh Hoan tháp tùng rời Tiên Động sang Tuyên Quang, đợi đón Phụ chính Đại thần Tôn Thất Thuyết và các văn thân Trần Xuân Soạn, Chu Thiết Nhai nhập đoàn, xuất dương ngoại giao. Dạo ấy là tháng Năm, năm Bính Tuất.

Hiệp đốc phó Tướng công Bố chánh cho mời Bộ tướng đến hành dinh.

– Các tướng quân. Hiệp thống Quân vụ vừa rời đất Phú Thọ đi sứ thì quân Pháp đã đồng loạt pháo kích càng làng ven rồi đổ quân bộ đánh vào Hoàng Lương. Nhờ các tướng mà ta chặn được giặc ở ngòi Dành.

Bố Giáp chậm rãi, ngẩng nhìn bộ tướng. Rồi bất chợt đặt câu hỏi.

– Liệu có kẻ do thám nào biết việc Hiệp thống ta tạm dời hành dinh Sơn phòng hay không? Các ngài cùng phán đoán?

Vương Văn Doãn đứng lên:

– Thưa phó Tướng công Bố chánh. Theo nội gián lãnh Hằng thì việc quân Pháp bất ngờ đánh vào các làng là chỉ để thăm dò quân ta. Lãnh Hằng chưa nắm được kế hoạch này nhưng cho biết thành phủ đã lập nhóm thám báo lấy tên là “Chuột rừng”, chuyên điều tra tin tức Tiên Sơn. Nhóm này hoạt động lẻ, hai ba người, xen lẫn vào dân làng nên rất khó phát hiện chúng.

– Ai có kế gì? Bố chánh hỏi.

Đốc binh Nguyễn Đình Ngữ:

– Tôi sẽ yêu cầu các đội trưởng dân phòng, dân binh lưu ý phát hiện kẻ trà trộn, phát hiện cả người lung lạc đem tin tức đi Cửa bộ.

Chánh Sơn phòng Vương Văn Doãn.

– Khu vực đại bản doanh vẫn được bảo vệ chặt chẽ. Tin tức cho biết bọn “Chuột rừng” đang tìm cách mua chuộc quân binh, các tướng quân phải chú ý cả quân mình.

Đề đốc Hoàng Đình Cương đồng tình.

– “Chuột rừng” nhiều mưu mẹo, ta tìm cách diệt được chỉ huy chúng, tất nó hoang mang mà chùn tay.

Phó tướng công Bố chánh:

– Đối phó với đại quân cũng khó, nhưng còn dựa vào rừng núi, dân binh. Đối phó với thám báo, với kẻ bị mua chuộc, hoang mang, lung lạc mà có ý phản tặc, thật khó. Triều Trần, Triều Lê chả lắm bọn rắn rết này thao túng cả cơ đồ đấy sao? Yêu cầu các tướng quân giám sát quan binh, quân binh thuộc đạo mình sao cho chặt chẽ.

Các tướng rời hành dinh. Đề đốc Kiều nán lại.

– Ngài Bố chánh. Hiệp thống ta đang lo việc đại sự, vả lại, Ngài có thể chưa lường hết mưu mô người Pháp. Phận ta giúp Ngài giúp Vua giữ Nước, nghĩ đường rộng hơn được không?

– Đề đốc, ý ngài là ta mở rộng hơn nữa chiến khu, phòng khi tự lập? Nguyễn Văn Giáp nhìn Đề Kiều một cách thân tình như dò hỏi.

– Vâng, đúng. Ý này nhiều lần tháp tùng Thủ lĩnh kinh lý, nghĩ vậy mà tôi chưa dám thổ lộ. Nay nhờ rướng quân…

Hoàng Văn Thúy khẽ lặng mình. Dù sát cánh bên nhau tại chiến khu đã hơn một năm nay, nhưng hiếm khi có dịp trò chuyện chung riêng với Phó tướng công Bố chánh. So về tuổi tác, Bố chánh hơn Đề Kiều một giáp. So về hàm phẩm, Bố chánh là Tòng nhị phẩm, sát dưới Chánh nhị phẩm của Hiệp thống. Đề Kiều đang là Chánh tam phẩm dưới ngài một bậc. Bố chánh văn võ song toàn, từng làm Tuần phủ, cùng quân Cờ Đen đánh nhiều trận lớn với quân Pháp. Đề đốc Hoàng Văn Thúy lại từ một chánh tổng, về với cụ Hoàng Tuần Phủ. Hưng Hóa thất thủ Đề đốc cùng lãnh Hoan vực Ngài lên ngữa chạy về Tứ Mỹ rồi lên Tiên Động lập Chiến khu.

Không dám so đo với một tướng quân toàn tài, kiên quyết đánh Pháp như Tòng nhị phẩm, nhưng bảo vệ chính kiến của mình trước Thủ lĩnh về vùng đất chiến khu thì Đề đốc lợi thế hơn. Mặc dầu vậy, Đề đốc cần có tiếng nói của Bố chánh, tấu trình quan Đại thần Hiệp thống càng sớm càng tốt. Nghĩ vậy, Đề Kiều lên tiếng.

– Nay nhờ tướng quân xin với Hiệp thống cho mở rộng vùng đất khởi nghĩa này ra toàn miền Tây Bắc, mà lâu dài, bản doanh ta cũng phải rời ngược lên đó. Thủ lĩnh đã căn dặn, dựa vào rừng núi, dựa vào dân bản, thì đấy là lợi thế nhất cho ta, thế thua thiệt cho người Pháp.

Bố chánh nhấc chén trà xanh mời bạn hữu, thong thả nói.

– Tướng quân. Ngài quả là người nhìn xa trông rộng, Bố chánh tôi đồng tình với tướng quân. Hiệp thống Thủ lĩnh dù chưa về, chúng ta vẫn cho người đi tìm địa hạt sao cho đạt ý địa lợi nhân hòa. Việc trọng này, tướng quân nên nhắm vào ai?

– Tòng nhị phẩm. Tôi nghĩ là Hoàng Đình Cương, người mà đích thân Hiệp thống thăng chức Đề đốc sau trận thắng Cố Tiết – Gia Dụ. Đề Kiều đáp.

– Liệu đề Cương có am hiểu vùng đất Tây Bắc? Bố chánh đắn đo.

– Một người như tướng quân Hoàng Đình Cương, Thủ lĩnh đã tin tưởng, há ta phải băn khoăn?

– Cảm ơn Đề đốc Chánh tam phẩm.

Hai vị tướng quân đứng dậy. Bố chánh tiễn Đề đốc ra tận sân hành dinh.

Ba ngày sau, Đề đốc Hoàng Đình Cương, Tán Áo Hà Công Cấn, và lãnh Liêng, được Hiệp đốc phó Tướng công Nguyễn Văn Giáp mời đến giao nhiệm vụ đặc biệt:

– Ba tướng quân mang theo mình sứ mệnh tìm Sơn phòng Hành dinh Triều chiến Bắc Kỳ là việc trọng, ta nghĩ quan Đại thần Hiệp thống Quân vụ sẽ hài lòng mà chấp thuận. Lại nữa, kháng chiến Cần Vương lấy thu phục nhân tâm trong đó có người bản địa rẻo cao là việc cần, các ngài luôn nhớ.

Hai tướng đáp lễ.

Hà Công Cấn, người làng Áo Lộc, bố vợ của Đề đốc Hoàng Văn Thúy, có công với khởi nghiệp căn cứ Tiên Động, được Thủ lĩnh Tướng công Hiệp thống phong chức Tán tương Quân vụ, dân làng yêu quý nên thân mật gọi ghép chức với tên quê mà nên Tán Áo. Đề đốc không tỏ ra ái ngại trước việc bố vợ được Tham tán Hiệp đốc Bố chánh cử đi Tây Bắc, nhưng là đạo con, Hoàng Văn Thúy quay lại Tán tương.

– Thầy đi cùng tướng quân Đề đốc Hoàng Đình Cương, và chú lãnh Liêng, dù đường xa, mưa rừng, dốc núi, con vẫn thấy yên lòng. Thầy và tướng quân giữ gìn sức khỏe, sớm trở về.

Nói đoạn Đề Kiều gọi vệ sỹ hậu cần dắt đến hai con ngựa nâu và mấy nghĩa binh hầu cận.

Tán tương Hà Công Cấn khoát tay:

– Tướng quân Đề đốc Hoàng Đình và ta còn khỏe, đi được. Khi nào mệt mỏi nghĩa binh sẽ vào làng nhờ ngựa dân bản chả khó khăn gì.

Đề đốc Cương thấy nhạc phụ đề Kiều nói vậy, cũng cười cười mà rằng.

– Xin hai ngài phó Tướng công yên tâm, nhạc phụ và tôi sẽ làm vừa lòng Quan Hiệp thống Đại thần.

Nói dứt, hai tướng cúi chào rồi cùng tùy tùng rời hành dinh Sơn phòng Tiên Động, men theo bờ sông Thao lên Âu Cơ. Từ đây đoàn khảo sát bản doanh Tây Bắc sẽ ngược ngòi Lao, lên Ba Khe, đi vào Mường Lò, rồi từ Nghĩa Lộ sẽ theo đường Thu Cúc, về đất Thanh Sơn, nơi chiến khu Khả Cửu của Đề đốc Nguyễn Đình Ngữ.

Không đánh chiếm được Hoàng Lương, lại bị trận pháo thần công bắn đúng đội hình tại ngã ba ngòi Dành khiến chỉ huy người Pháp và đám lê dương, khố đỏ, khố xanh chết la liệt. Đưa nhanh chân chạy thục mạng ra đến sông Thao. Xác lăng, Trương Đen, Xanhtơni, Víchke, chụm đầu tìm mưu kế mới. Trung úy mật thám nhanh nhảu:

– Ta tổn thất vì súng thần công, lại vào lúc đường đất khô ráo, quân “Cỏ” không bị bất ngờ (!)

Víchke:

– Phải làm thế nào để bọn “cỏ” không kịp trở tay ngài trung úy Đen?

– Kế đó, tôi nêu rồi, “ngày nước nổi” (!), ngài Xanhtơni và ngài Xáclăng hãy nghe tôi, nghe tôi! Trương Đen nói giọng như trách móc, lại như cam đoan.

Xanhtơni thấy nóng mắt nhưng vẫn đấu dịu.

– Được rồi. Các ông không bàn thêm nữa. Ngài Cai Đen cho “Chuột rừng” nắm bắt tình hình quân “cỏ”, về báo cho chánh thành phủ. Trận này, tôi đích thân chỉ huy, Sa Nô quyết đào đất đá, lập đồn giữa bản doanh Sơn Động.

Nhóm chỉ huy Pháp nặng nề đứng dậy.

Việc do thám Tiên Động, Trương Đen giao cho Lê Phú bạnh đội phó. Còn “ngày nước nổi”, nghĩa là lũ sông Thao dâng, các đầm nước vào Tiên Động sẽ đầy, quân binh trên núi dễ chủ quan, dân phòng thì không ra khỏi nhà. Chỉ cần bắc vài ba bộ cầu gỗ vượt đầm là cả tiểu đoàn có thể tập kích đồn quân Tiên Sơn.

Mưu mô của Trương Đen bày đặt đúng cơ hội.

– Thưa ngài Víchke. Lê Phú bạnh hào hứng. Thám sát chúng tôi đi về biết chắc chắn chủ tướng Tiên Sơn là Nguyễn Quang Bích đã đi Vân Nam cầu viện. Ở nhà chỉ còn mấy tướng quèn, đang tranh giành quyền hành lẫn nhau.

Thiếu ta Víchke nghe nhóm “Chuột rừng” cam đoan tin tức, mừng ra mặt, liền xin lệnh chuẩn bị gấp chờ ngày mưa lớn là hành động ngay. Chánh thành phủ, trung tá Xáclăng đích thân duyệt kế hoạch giao chiến. Xanhtơni ranh mãnh hơn, đòi Lê Phú Bạnh phải đưa nghĩa binh Tiên Động, người vừa bị nhóm “Chuột rừng” bắt cóc lên tra hỏi.

– Thủ lĩnh Nguyễn Quang Bích của các ông đi Vân Nam bao giờ về?

– Chắc là còn lâu. Nghĩa binh trả lời.

– Bây giờ những ai chỉ huy trên Tiên Sơn?

– Bố chánh Nguyễn Văn Giáp và Đề đốc Hoàng Văn Thúy còn gọi là Đề Kiều. Họ đang tranh cãi nhau để nắm quyền.

– Ngoài các đồn….; còn đâu nữa?

– Chỉ có các trạm dân binh, dân phòng vây quanh Tiên Động.

– Ông dẫn đường cho quân thành phủ vào tận bản doanh của bọn nổi loạn Giáp, Thúy được chứ?

– Được. Nhưng…

– Nhưng tính mạng ông chứ gì? Đây! Ngài Lê Phú bạnh nói cho ông ta yên tâm. Nào…

Cuộc tra hỏi kết thúc. Nội dung không khác xa những gì mà nhóm “Chuột rừng” đã tra khảo dọc đường. Lưu Phòng, một vệ binh Tiên Động, trên đường đi thăm người nhà bị nhóm Lê Phú bạnh bắt cóc, đã nhận dẫn đường cho quân Pháp đánh vào Tiên Động. Bây giờ thì Phòng đang ngồi trước một tờ sơ đồ do Phú bạnh vẽ, Phòng chỉnh sửa lại cho đúng. Cả đám chủ huy: Xanhtơni, Víchke, Trương Đen chụm đầu xuống tờ sơ đồ quan trọng

– Đường này, đường này nhanh hơn!

– Nếu bắc cầu vượt đầm nước, thì đầm này, và đầm này…

– Đại bản doanh Tiên Động. Đây, đây!

Cứ thế Lưu Phòng chỉ ngón tay xuống bản sơ đồ, nói một cách hào hứng.

– Tốt lắm. Được rồi. Tốt lắm! Sau trận vây bắt Tiên Động ngài Phòng sẽ được trả công thật xứng đáng. Quan ba Xáclăng nói tiếng Việt lơ lớ, lơ lớ. Rồi cười to.

Lưu Phòng được giam giữ cách biệt, anh ta hối hận với các ân nhân Tiên Động và nhất là Thủ lĩnh Tướng công, chỉ vì thói dựng chuyện, bịa đặt ra chuyện nội bộ mà bị chánh Sơn phòng Vương Văn Doãn sa thải ra khỏi đội cận vệ hành dinh, xuống làm quân lương. Bất mãn, anh ta bỏ việc về quê thì bị nhóm thám báo “Chuột rừng” bắt cóc.

– Này anh bạn gác ơi, tôi cũng từng là lính gác đây.

Nghe gọi, người lính khố xanh quản mấy buồng giam quay lại

Lưu Phòng thủ thỉ, nói như khoe:

– Bạn ở quân nào, lần này có được lên đánh Tiên Động không? Tôi dẫn đường đấy!

Nhờ khéo miệng, chỉ mấy phút, người khố xanh gác buồng đã mở cửa cho Lưu Phòng ra sân. Nhưng Phòng không có ý trốn trại mà chỉ muốn tự do hơn, thoải mái hơn trong cái phòng chật hẹp kia, chờ ngày đưa đường lấy thưởng.

Biết được kế hoạch thành phủ sắp điều quân đi đánh Tiên Động, nghĩ mấy trận trước, quân khố xanh người Việt phải lên trước đỡ đạn cho lê dương, khố đỏ mà ngán ngẩm, người lính khố xanh rỉ tai mấy bạn lính thân nhất, liệu tìm cách mà cáo ốm được lần nào hay lần ấy. Tin đến tai lãnh Hằng cựu nghĩa binh Hưng Hóa giải ngũ, giờ “nằm” lại thành nội gián. Lãnh Hằng cho người đưa tin mật đến Đốc Xù, từ Đốc Xù – liên lạc của Lãnh Hoan, tin tức đến Bố chánh Nguyễn Văn Giáp. Một lưới chống càn được bày trận.

Đã bẩy tám ngày không thấy động tĩnh gì, mà lãnh Hằng cũng không có tin gì thêm. Những ngày cuối cùng của tháng mười Bính Tuất, trời mưa trái mùa như đổ nước. Cả vùng đầm Tiên Động nước ngập như đảo đến người dân cũng không ra vào được. Quân Pháp do Xanhtơni đích thân chỉ huy, Víchke, Trương Đen được giao đưa một tiểu đoàn tinh nhuệ đánh chiếm và lập đồn tại Gò Mai sau khi trung úy Bécgăng và Lê Phú bạnh được Lưu Phòng dẫn đường bí mật bắc cầu gỗ từ Hang Hùm sang Hàm Rồng đánh chọc sườn Tiên Động.

Trời mưa lớn, Trạm quan sát của đồn Cửa sông phát hiện có một bè gỗ to và thẳng của dân buôn, được tầu thủy thành phủ kéo ngược sông Thao. Sau bè gỗ là hai ba tầu tuần tiễu.

– Tại sao (?). Sao bè gỗ lại chạy ngược sông, mà tầu Pháp kéo hẳn hoi? Một lính trạm thắc mắc.

– Chúng đi tuần tra, bắt của dân buôn đấy thôi. Thôi kệ! Lính trạm thứ hai giải thích.

Nghi ngờ và tự giải thích, nhưng hai quân binh canh gác vẫn báo về đồn. Đồn phó Đào Văn Toát báo về phó Đề đốc Vương Văn Doãn. Doãn ra lệnh cho các đồn Cửa tiền, Cửa bộ, Cửa sông, và các đội dân phòng đề phòng quân Pháp tập kích. Mặt khác Bùi Quang Tiến lập nhóm quân binh giỏi sông nước bí mật tập kích tầu thủy giặc ngay khi quân bộ của bọn Pháp đánh vào Tiên Động.

Bùi Quang Tiến và Phạm Văn Luật đều là hai hàng binh đồn Cửa tiền của Pháp ở thành phủ, khi quân nghĩa binh đốt trại vì cảm phục lãnh Vân và nàng Mỹ Cẩm mà Tiến và Luật bơi vượt sông lên Hạ Hòa rồi tìm về Tiên Động. Biết chuyện Thủ lĩnh Nguyễn Quang Bích và thân phụ Mỹ Cẩm là Nguyễn Văn Lò, nhận Bùi Quang Tiến làm “con trong nhà”. Quang Tiến luôn được ở bên Mỹ Cẩm, “cặp” quân binh nam thanh nữ tú duy nhất ở căn cứ kháng chiến Cần Vương Tiên Sơn. Nắm tay người vợ chưa cưới, nhìn nàng trong ánh mắt dịu dàng đằm thắm, Bùi Quang Tiến quay mặt rồi cùng nhóm chiến binh thủy tử gấp gáp chuẩn bị những túi rơm khô tẩm đẫm dầu hỏa theo ngòi Dành ra cửa sông mai phục tầu giặc.

Hai ngày mưa rào.

Ngày thứ ba, vào lúc rạng sáng, nhiều ánh đèn le lói phía mỏm đồi Hang Hùm. Tang tảng sáng mồng một tháng mười một Bính Tuất, Tiểu đoàn khố đỏ, khố xanh của quan tư Béc găng bất ngờ từ Gò Dọc vượt qua làng Minh Côi theo ba mặt cầu gỗ vượt sang Hàm Rồng, từ đây đạo quân bắn phá cấp tập lưng sườn Tiên Động. Dân phòng, dân binh Minh Côi chỉ có giáo mác đâm chém giặc không xuể. Cả làng bị bắn giết thảm hại trong đó có đội Văn, đội Luân. Thấy quân giặc bất ngờ chiếm được Hang Hùm và Hàm Rồng xung quanh đều là đầm nước ngập, nghĩa binh Nguyễn Du Hè (Lãnh Khóa) cùng quân dân binh của đốc Đông và lãnh Bồi ra sức kim chân giặc chờ ứng cứu. Vừa lúc đó quân đồn Cửa bộ do lãnh Vân chỉ huy từ phía ngoài bơi qua đầm nước vào đánh giáp mặt. Thấy cờ Tây cắm trên đồi Hàm Rồng, Thiếu tá Víchke thúc đại quân đánh bừa vào Gò Mai. Ba phía đã là cờ Pháp: Hàm Rồng, Mỹ Lương, gò Thanh Mai; Bố chánh buộc phải điều đại đội vệ binh Tiên Sơn ứng cứu quyết đánh bật địch khỏi gò Thanh Mai. Cai bộc Đặng Huy Tá cho cả trung đội quân binh giấu dao găm súng đạn trong người rồi viết thư giả hàng. Người đưa thư cởi trần, chỉ cầm theo chiếc khăn trắng, xin được vào gặp chỉ huy Pháp ở Gò Mai. Thấy có một người, quần áo nông dân, gầy gò, trung úy Trương Đen cười ha hả rồi nói tiếng Tây với thiếu tá Víchke.

– Quân ta đã chiếm được Gò Mai. Cờ Pháp đã tung bay. Há gì phải sợ? Cứ cho tướng quân nó vào nộp vũ khí rồi lột hết quần áo, đuổi về quê.

Víchke cười khùng khục.

– Tôi khen trung úy, ngài thật cao kiến và nhân ái!

Nghe tiếng súng chát chúa trên gò Hàm Rồng, rồi ba lá cờ Pháp nhô lên giữa các lùm cây, thủy binh Bùi Quang Tiến ra lệnh cho nhóm chiến binh đánh thủy ôm từng bao ni lông rơm đã tẩm dầu hỏa, nhanh chóng tiếp cận hai chiếc tầu Pháp đậu sát bờ sông Thao, nòng pháo chĩa lên Tiên Động như sẵn sàng nhả đạn. Những chiến binh sông nước của nghĩa binh bơi gọn như con rái cá, chỉ mấy phút rời bờ đã bám vào được thành tầu. Tiếng quân lê dương Âu phi trên tầu xì xồ nói như cãi nhau. Bùi Quang Tiến bám được vào chiếc tầu có lá cờ Pháp, đoán đây là tầu chỉ huy nên ra hiệu cho thủy binh hết sức chú ý bọn lính gác chờ cho Luật hành động trước. Trời lờ mờ sáng, Tiến nhìn rõ Luật đã đưa túi rơm lên boong tầu mà sao chưa phát hỏa? Kia rồi, dây bùi nhùi đã bốc cháy. Tiến và Thủy cùng leo lên thành, ép sát người, đưa được hai ổ rơm lên boong. Hai tên lính khố xanh ngồi canh mà không hay biết. Bùi Quang Tiến và Đỗ Thủy dùng võ chân đạp mạnh cả hai tên khố xanh rơi xuống sông. Tiến bật lửa châm thẳng vào ổ rơm. Rơm đẫm dầu hỏa bùng cháy giữa đầu buồng máy. Cả hai nhảy tùm xuống sông bơi vào bờ.

Khi lãnh Vân và quân binh đồn Cửa bộ bơi qua đầm nước sang được bờ bên thì quân Pháp đã chiếm xong đồi Hàm Rồng. Lãnh binh Ma Văn Vân đấm thình thịch vào ngực mà ra lệnh cho quân lính bơi trở về giữ đồn Cửa bộ. Còn mình và hai quân binh ôm súng bò lên sát miệng đồi nằm phục. Trời sáng rõ mặt người.

– Tướng quân, có tốp lính đi kiểm soát trận địa. Tướng quân cho đánh trả thù.

– Được. Nấp kín. Đánh xong chạy lên đồi.

Ba nòng súng xít ten, mút catông, hỏa mai chĩa vào đám lính, đồng loạt bóp cò. Mấy loạt nổ liên tiếp. Đám lính kêu la. Quân khố đỏ chạy túa ra bắn loạn xạ. Lãnh Vân ra lệnh nổ thêm mấy loạt đạn vào bọn khố đỏ rồi chạy lên mỏm đồi bên cạnh nghe ngóng.

Tiếng vọng từ đồi Hàm Rồng:

– Thưa trung úy Bécgăng, ngài đội phó do thám, thiếu úy Lê Phú bạnh cùng mười mấy quân lính xanh, đỏ, đã bị bắn chết.

Tiếng Bécgăng:

– Thiếu úy có công vẽ sơ đồ Hàm Rồng mà phải sớm thiệt mạng!

Tình thế khiến võ tướng Cai Bộc cực chẳng đã phải dùng mưu mạo hiểm trá hàng để đánh từ trong ra, chờ quân cứu viện từ đồn Hạ Hòa xuống trong thế yếu, cờ Tây đã cắm trên đồi Gò Mai.

Thiếu tá Víchke phó Chánh thành phủ, trung úy mật thám Trương Đen, cả “Chuột rừng” đào tẩu Lưu Phòng có mặt. Một đám lính lê dương, khố đỏ, khố xanh tò mò quây quanh xem mặt mũi đám “giặc cỏ”  thổ dân ra hàng quân Thành phủ.

Một, hai, ba quân binh vào nộp súng. Trương Đen cho đẩy Lưu Phòng ra giữa sân nhận mặt chỉ huy “quân cỏ”. Phòng bước lại, chỉ tay vào Đặng Huy Tá rồi cười.

– Đây, đây là ông Cai Bộc Đặng Huy Tá, chỉ huy vệ binh hành dinh Sơn phòng của tôi. Chào ngài chỉ huy. Không ngờ anh em mình lại trở về một nhà từ hôm nay!

Tất cả nghĩa binh Tiên Sơn ai cũng nhận ra kể đồng ngũ từng bị sa thải. Thì ra hắn đã phản bội Thủ lĩnh Tướng công, chạy theo Tây rồi!

Không kiềm chế nổi. Cai Bộc hét lên.

– Giết, giết quân chó má!

Lập tức mấy chục nghĩa binh Tiên Động trá hàng rút dao găm đâm tới tấp vào đám giặc. Võ tướng Cai Bộc lao thẳng vào Vích ke, một cú đấm như trời giáng vào giữa mặt tên chỉ huy mũi lõ. Rồi một mũi dao từ tay võ tướng thọc thẳng vào sườn nách. Thiếu tá Víchke viên phó Chánh thành phủ, giãy giãy rồi nằm im trên vũng máu. Một nghĩa binh vật nhau với Trương Đen, mọi người nhận ra đó là đội Dương. Đội Dương đánh võ tới tấp, Trương Đen cũng không vừa, hai bên lừa miếng nhau. Thấy vậy một vệ binh quân xô tới, mũi dao găm đâm sượt trúng vào cánh tay trái. Trương Đen bỏ chạy. Các nghĩa binh lùng tìm Lưu Phòng kẻ làm phản, nhưng hắn biết lợi dụng lúc giáp lá cà mà ôm đầu lăn xuống dốc đồi chạy mất. Quân Pháp bị đánh bất ngờ ngay trên bãi “hàng binh” giao nộp, khí giới. Mặt trời sau những ngày mưa, le lói sáng. Đạo binh Pháp đã kịp tổ chức lại, chặn tất cả các ngõ quanh Gò Mai. Cai Bộc thấy không thể chờ quân tiếp viện đành ra lệnh thu súng đạn rút lui. Nghĩa binh  vệ sỹ Tiên Động tản nhanh ra đồi gò dưới làn mưa đạn của lính tây.

Ngoài cửa sông Thao, cột khói đen đặc cuộn lên, làm u ám cả vùng trời Cẩm Khê.

HÀ LÂM KỲ

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *