Thủ lĩnh Rừng Già – Tiểu thuyết của Hà Lâm Kỳ – Kỳ 1

Vanvn- Tuần phủ Tư lệnh thành Nguyễn Quang Bích như bừng tỉnh sau cơn mê hoảng. Ngài cố mở đôi mắt như đang bị thôi miên nhìn rõ khuôn mặt Đề đốc, khuôn mặt tả hữu văn, võ, hộ vệ, rồi lặng lẽ đứng dậy bước xuống bậc thềm. Ngoài kia, tiếng súng chát chúa, tiếng la hét rầm trời, lửa đã cháy lan cả vào cổng chính tòa thành…

>> Cảm hứng lịch sử trong “Thủ lĩnh Rừng Già”

Dân ta, phải biết sử ta

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam

     Hồ Chí Minh

Chương I. Cửa hậu

 

– Chủ tướng, Chủ tướng. Lửa cháy đỏ mặt thành rồi. Xin chủ tướng mau mau rời khỏi thủ phủ theo đường cửa hậu!

– Tướng công. Không thể chần chừ hơn được nữa. Phải bảo toàn thân thể Ngài và Đại quân binh. Hãy rời khỏi tòa thành!

Những lời khẩn khoản đầy trách nhiệm của đám tướng sỹ làm cho Tuần phủ Tư lệnh giây phút đang như pho tượng bỗng trở mình quay lại.

– Vâng. Thưa Chủ tướng. Xin Ngài ra lệnh mở đường cảm tử, thoát ra ngoài rồi ta sẽ liệu bề. Chánh Đề đốc Đề Kiều Hoàng Văn Thúy chắp hai tay sốt sắng thưa.

Chánh Tuần phủ khẽ lắc đầu, hai hàng nước mắt ứa tràn gò má gầy hom của vị thủ lĩnh già. Năm bẩy tướng sỹ và hộ vệ bản phủ cúi đầu chờ một lệnh quyết tử từ Tư lệnh Võ công.

Tuần phủ đúc thanh gươm có đốc kiếm đầu rồng vào vỏ bao, rồi nhẹ nhàng tháo đai da bên mình. Hai mắt Ngài như có lửa cháy. Thủ lĩnh bước đến trước mặt Đề Kiều, hai tay lặng lẽ nâng vương kiếm đặt vào lòng vị tướng trung thành.

“- Tướng quân trao kiếm sao?”

“- Tướng quân hạ vũ khí ra thành sao?”

“- Chủ tướng…”

Đề Kiều thấy run trong người. Mệnh lệnh của Thủ lĩnh? Mà ta là ai? Rồi sẽ là ai trước Tuần phủ thủ lĩnh, trước vận mệnh Cần Vương? Thoáng nghĩ, nhưng rồi Đề Kiều vẫn đưa hai bàn tay đón nhận hộp kiếm báu, vừa như sục sôi, vừa như vô cảm.

Bỗng chốc Tư lệnh phủ quay người bước nhanh theo bậc thang rồi chạy lên sân thượng tòa thành. Trước Đài kính thiên, lá cờ Vương triều đang ngạo nghễ bay trước mặt sân thượng Tòa cung Hưng Hóa. Quân sỹ hộ vệ hiểu ngay Tổng tư lệnh đang sắp làm gì (?). Thành Hà Nội từng thất thủ, Tổng đốc Đại thần Hoàng Diệu tuẫn tiết. Danh nho trung quân, ái quốc (?)…

– Tuần phủ Tổng tư lệnh! Không được thế. Không được! Đề Kiều kêu to.

– Chủ tướng. Chủ tướng!

– Chủ tướng ơi!

Đám hộ vệ kêu la kéo vị trung thần Tư lệnh khỏi mép sân thượng. Đề Kiều ôm chầm lấy Thủ lĩnh nói trong nước mắt.

– Chủ tướng ơi. Ngài hãy vì vận mệnh Cần Vương, hãy vì đất nước Nam Việt, hãy vì quân sĩ chúng tôi. Chủ tướng ơi, Ngài hãy cùng chúng tôi mở đường máu, vượt qua đường máu…

Nhà văn Hà Lâm Kỳ ở Yên Bái

Tuần phủ Tư lệnh thành Nguyễn Quang Bích như bừng tỉnh sau cơn mê hoảng. Ngài cố mở đôi mắt như đang bị thôi miên nhìn rõ khuôn mặt Đề đốc, khuôn mặt tả hữu văn, võ, hộ vệ, rồi lặng lẽ đứng dậy bước xuống bậc thềm. Ngoài kia, tiếng súng chát chúa, tiếng la hét rầm trời, lửa đã cháy lan cả vào cổng chính tòa thành. Chánh Đề đốc ra lệnh hạ lá cờ, gấp nhỏ cho vào túi da. Con ngựa chiến màu tía của Thủ lĩnh được đưa tới. Trước chân cột cờ Đài kính thiên trơ trống, Đề Kiều cúi lạy tòa thành, cúi mình trước Tuần phủ Thủ lĩnh rồi trao lại hộp Vương kiếm cho vị Chủ tướng thành; tả, hữu, vực Ngài lên ngựa. Thủ lĩnh Chánh Tuần phủ hoàn tỉnh, Ngài ngửa mặt lên trời, tuốt gươm vung lên, giọng Tướng quân âm vọng vào bốn mặt thành, đanh lại:

– Quyết tử với quân lang xa!

Tả hữu văn võ đồng thanh:

– Quyết tử với quân lang xa! Quyết tử với quân lang… xa…a!

Chánh dề đốc Kiều hét lên.

– Võ khoa Hoan ngài hãy chỉ huy binh sỹ cảm tử cản đường giặc. Ta hộ giá Tướng công phá vây cấm thành.

Lãnh Hoan giơ gươm:

– Tướng quân Đề đốc. Võ Hoan tuân tử!

Phía ngoài cổng tòa thành Hưng Hóa, tướng Pháp Nêgrie ra lệnh cho pháo hạm trên sông Thao nhằm vào trung tâm thành cung, bắn dữ dội.

– Mời Thủ lĩnh hạ ngựa dừng nghỉ. Đề Kiều khoát tay trước ngựa, hộ vệ bước lại đỡ vai vị tướng công.

– Đây là đâu? Nguyễn Quang Bích chợt hỏi.

– Thưa. Đây là trấn Tứ Mỹ, phủ Lâm Thao. Chúng ta đã rời thành Hưng Hóa được hai trăm dặm. Đề Kiều thưa.

– Ý của Đề đốc thế nào?

Đề Kiều:

– Thưa Tuần phủ. Nơi đây an lành, xa đạo binh Pháp, ta hãy nghỉ lại Tứ Mỹ đêm nay cho lại sức. Mai, bản vị Đề đốc xin tấu trình thủ lĩnh đường trường. Xin Ngài chấp thuận.

Nguyễn Quang Bích sau giờ phút căng thẳng tột cùng nội thành Hưng Hóa, đã bình tâm. Ngồi bên vệ cỏ cùng Hoàng Văn Thúy một cận tướng trung thành mà ông từng hạ phong tước hiệu Đề đốc ngay sau ngày được vua Triều đình sắc phong Tuần phủ Hưng Hóa. Nguyễn Quang Bích cảm thấy yên lòng. Ngài nhẹ nhàng ngả mình xuống bờ cỏ ven đê sông Thao. Những làn gió cuối xuân đầu hạ như đang lướt nhẹ trên mái tóc đốm bạc của vị Thủ lĩnh vùng Hưng Hóa rộng lớn. Nắng chiều nhàn nhạt hắt xuống mặt sông đỏ rực. Hưng Hóa mình, Nam Việt mình rồi sẽ sao đây?

Tiếng đội trưởng hộ vệ làm cắt ngang giây phút tư lự của vị Tướng phủ.

– Thưa Thủ lĩnh, mời Ngài cùng Đề đốc vào an nghỉ trong một nhà dân, thân nhân của vệ binh viên thành nội.

– Vâng. Mời Tuần phủ Thủ lĩnh. Đề đốc Kiều nhắc lại.

Hai vị bản lãnh, hạng sỹ phu, nhẹ nhàng đứng dậy theo chân đội trưởng hộ vệ vào làng.

Đêm đó Tuần phủ Thủ lĩnh và Chánh Đề đốc được chủ nhà sắp xếp nghỉ tại gian buồng giành riêng cho người con gái cả sắp thành hôn, gia chủ cẩn thận sai con trai thứ cùng hộ vệ kê chõng tre ngoài đầu sân canh phòng kẻ lạ mặt. Phía ngọn tre bờ sông Hồng, trăng đầu tháng in một vành khuyết giữa nền trời trong veo.

Canh ba. Thấy quan Tuần phủ trở mình hai ba lần. Đốc Kiều sốt ruột

– Thưa Thủ lĩnh. Ngài lạ nhà, khó ngủ đấy ạ?

– Không đâu. Ngủ thì đã đủ, rất ngon giấc là khác!

– Vâng vâng. Xin Thủ lĩnh tái giấc, gà mới gáy hai, trăng chưa ngả bóng cau.

– Được rồi, được rồi! Cảm ơn ngài Đề đốc. Ngừng giây lát, Tuần phủ bất chợt hỏi:

– Còn bây giờ, theo ngài, ta nên đi hướng nào?

Đêm vẫn yên ắng, chỉ có tiếng dế kêu ngoài hiên, tiếng bờ tre ven sông vọng vào xào xạc, xào xạc. Tướng phụ không để tâm, chủ nhà cũng chẳng hay rõ, chỉ loáng thoáng đoán hai vị khách qua đường xin nghỉ lại là người có tuổi, ở hạng quan phủ hoặc nho sỹ, mà giành buồng con gái sắp hôn lễ để các ngài được một đêm yên tĩnh. Lại cho con trai cùng nhóm tháp tùng ngủ quanh nhà, dễ bề ứng đối khi bất chắc. Đề Kiều – Hoàng Văn Thúy, tù trưởng kiêm thổ hào vùng sơn cước Cẩm Khê, dấn thân vào việc nghĩa Cần Vương, được Tuần phủ Thủ lĩnh tướng quân tin dùng, phải dốc lòng phụng sự nghĩa lớn theo đạo bề tôi, đạo huynh đệ. Chánh Đề đốc thoáng nghĩ, rồi trả lời câu hỏi của Thủ lĩnh.

– Thưa Ngài, tôi hình dung đường trường của ta thế này…

Đề đốc ngồi nhỏm dậy. Ánh trăng lọt qua các khe vách liếp làm sáng nhạt cả căn phòng.

Đề Kiều:

– Thưa Ngài. Đây là trấn Tứ Mỹ thuộc đất Tam Nông, đã xa thành Hưng Hóa nhưng vẫn dọc lộ mòn ven sông. Người Pháp có thể đuổi tới. Tôi sẽ cho dân binh Cẩm Khê lập tuyến phòng thủ Tứ Mỹ, có động, ta dịch lên Ao Lộc. Ao Lộc có rừng núi nhưng hẹp đất, chỉ là trạm dừng chân. Theo lệnh Ngài, tôi sẽ cho người lên gặp thổ hào Tiên Động, nếu Tiên Động hợp ý Ngài thì ta sẽ lập bản doanh ở đó. Ngoài Tiên Động, còn có Sơn Tình, Ao Lộc, Gò Mai, Gò Hàm Rồng, làng Mỹ Lương… Những nơi này thổ dân đều sẵn lòng giúp Vua cứu quốc. Xin hạn hai ngày, Đề Kiều tôi sẽ tấu trình Ngài suy xét lựa chọn.

Nhác thấy vị Thủ lĩnh khẽ gật đầu có ý ngồi dậy, Hoàng Văn Thúy vội đưa hai bàn tay.

– Thủ lĩnh, Thủ lĩnh. Ngài cứ bình tâm hồi sức, đường trường lo việc lớn.

Nguyễn Quang Bích vắt cánh tay ngang trán. Trong đêm trăng, ông đang suy tư mưu bề việc đại sự. Hiểu thế, Chánh Đề đốc vội đứng dậy bước ra hiên nhà, bước ra sân đất – vùng quê quen thân từ thuở tiểu đồng.

Phía ngoài sân vườn vệ binh Vương Văn Doãn không ngủ. Đề Kiều bước lại.

– Này Vương. Tối qua ta đã cho người làng đi tìm Đặng Huy Tá. Nếu Tá về, ta giao cho Vương và Tá khảo sát Tiên Sơn. Ta có ý thuyết phục Thủ lĩnh lập bản doanh ở Tiên Động, Vương thấy sao?

– Tôi đồng ý với Đề đốc. Việc cần kíp, đừng để Tướng công sốt ruột. Hay là…

– Là sao? Vương nói đi!

– Tôi sẽ cận vệ Chủ tướng. Còn Đề đốc là người được Chủ tướng tin tưởng tuyệt đối, lại có khả năng quyết đoán, ngài lên đó, ấn định dinh binh, trở về đích thân tấu Quan Tuần phủ. Như thế chắc chắn hơn.

Trầm ngâm dưới ánh trăng suông, Đề Kiều khẽ lắc đầu.

– Ngẫm thế cũng phải, nhưng huynh phó thác cho đệ, đệ tròn bổn phận trước huynh, tức là trước Tướng công rồi. Còn huynh, tâm lý thành Hưng Hóa thất thủ vẫn đang day dứt Thủ lĩnh, huynh trợ lực bên Ngài, sẽ thuận hơn.

Vương Văn Doãn nghe vậy, không nói thêm lời nào, gộp hai lòng bàn tay lại, khẽ cúi đầu.

– Chánh Đề đốc. Vương này xin hứa làm tròn trọng trách.

Không phải đợi đến trưa hay chiều. Trời sáng rõ, Đặng Huy Tá, Trịnh Bá Đanh, những dân binh Tam Nông, Cẩm Khê đã có mặt bên sân nhà hàng xóm. Cuộc hội ý chỉ mươi, mười lăm phút. Vương Văn Doãn, Đặng Huy Tá, Trịnh Bá Đanh nắm chặt bàn tay vạm vỡ của Hoàng Văn Thúy vị Chánh tổng kiêm Thổ hào nổi tiếng Cẩm Khê. Ba người đàn ông trong bộ quần áo của kẻ làm ruộng, rời sân vườn, lên thẳng vùng núi Tiên Động.

*

Chánh dề đốc Hoàng Văn Thúy đi dạo quanh vườn cây gia chủ. Cuối xuân, chồi non của những cây bưởi, cây cam đã vươn hai ba lá. Lác đác, những chùm hoa đầu vụ cũng xòe cánh, lộ ra những núm nhụy vàng chanh thơm phức. Hoàng Văn Thúy nhẹ nhàng ngắt một nụ bưởi đặt vào lòng bàn tay. Cảm xúc của người làm vườn, của một chủ đất lại trỗi dậy trong ông. “Chỉ ước gì đất nước quê hương thanh bình, Thúy này sẽ biến đồng đất ven sông thành cánh đồng lúa, sẽ biến các triền đồi Cẩm Khê thành rừng cây, thành rừng quả. Rồi sẽ buôn bán, sẽ đi xa trao đổi hàng hóa… Thổ hào thì phải làm được việc ấy chứ?!”. Hoàng Văn Thúy chợt mỉm cười dạo bước.

– Đề đốc. Thủ lĩnh cho gọi ngài. Hộ vệ Đinh Gia Quốc khẽ nói.

Hoàng Văn Thúy rời vườn bưởi bước nhanh vào sân đã thấy Tuần phủ Thủ lĩnh ngồi bên chủ nhà, Ngài đang trò chuyện? Ngài chăm chú và vui vẻ! Hoàng Văn Thúy không muốn phá vỡ cảnh tượng thân thiện ấm cúng, không muốn phá vỡ câu chuyện riêng giữa Thủ lĩnh Tướng quân với người dân. Nhưng thế chẳng đã, Đề đốc chậm chậm bước tới đầu sân. Thủ lĩnh không mặc áo the thụng mà chỉ choàng ngoài bộ tứ thân.

– Lại đây, lại đây ngài Trợ giá!

– Vâng! Vâng! Hoàng Văn Thúy đáp nhưng vẫn cố ý dùng dắng.

Những khi vui trong lòng, có Đề Kiều bên cạnh Nguyễn Quang Bích thường gọi Hoàng Văn Thúy là Trợ giá – một chức chỉ là trên lời nói. Đề đốc cố cắt nghĩa: Thủ lĩnh nhận chỉ sắc Vua ban Tuần phủ Sơn Tây, rồi Tuần phủ Hưng Hóa. Thế có nghĩa đã là quan hệ Hoàng tộc, người của Hoàng tộc. Ngài chọn cho mình giúp việc, lại đích thân đề nghị nhà Vua phong chức hiệu Chánh Đề đốc Hưng Hóa, luôn tháp tùng Ngài, gắn sinh mệnh ta với sinh mệnh Ngài, thế chẳng là trợ giá sao?

– Đề đốc. Ngài lại đây. Cẩm Khê nhiều điều nói lắm.

Cử chỉ lời nói thân mật của Thủ lĩnh, Đề Kiều bước tới ngồi  bên Thủ lĩnh và gia chủ. Bỗng chốc Thủ lĩnh làm cái việc giới thiệu chủ khách thân mật.

– Đề đốc biết chưa, chủ nhà ta ngủ này là “ngài” Nguyễn Văn Lò đấy. “Ngài” Lò nói Tứ Mỹ có đình làng, Đề đốc xem xét ta có thể  rời lên trú tại đó một thời gian, nhờ vả “ngài” Lò trông nom trong ngoài. Như thế xem có được không?

Nhìn dáng hình to cao vạm vỡ của Hoàng Văn Thúy, Nguyễn Văn Lò nắm hai tay chánh Đề đốc lòng dạ e ngại.

– Vâng, Vâng. Quan phủ hỏi chuyện, tôi mạo muội tâu với Quan. Xin hai vị “đại” quan xá tội cho lão nông này.

– Không không! Đề Kiều khoát tay cười cười. Anh em Cẩm Khê cả mà. Quan Phủ đã gợi, ta sẽ cùng bàn sao cho kỹ lưỡng. Giờ thì “ngài” Lò hãy xung vào Đội Hộ vệ sơn phòng của ta. Được chứ?

Nguyễn Văn Lò vội đứng dậy chắp hai tay trươc ngực khẽ cúi mình.

– Ôi vâng ạ! Được hầu hạ hai quan, con xin hết lòng hết sức đền đáp.

Nguyễn Quang Bích cười lớn

– Ta cũng hầu cận Triều đình Hàm Nghi chống lại người Pháp xâm lăng. Cốt là thủy chung, sẵn tử vì Đạo. Thủ lĩnh tỏ rõ sự vui lòng.

Cẩm, cô con gái của vợ chồng Nguyễn Văn Lò bê ra một rá chuối sài goòng chín vàng thơm thơm.

– Con xin mời các quan, con xin mời bố! Nói rồi cúi mình

– Này con. Đề Kiều chợt hỏi. Con là…

Nguyễn Văn Lò đỡ lời:

– Đây là Nguyễn Mỹ Cẩm gái lớn của chúng con, cháu sắp vào ngày hôn lễ.

Đề Kiều lẩm bẩm.

– Mỹ Cẩm. Tứ Mỹ, Cẩm Khê. Trời định rồi. Sau ngày xe duyên, ngài Lò cho con gái Mỹ Cẩm tham gia Sơn phòng cùng cha, được chứ?

Nguyễn Văn Lò lúng túng nhưng vẫn tỏ ra thông suốt.

– Dạ vâng, vâng ạ. Cha con chúng con xin được một lòng hầu hạ quan Phủ.

Chánh Đề Kiều cười lớn, nhìn hai cha con, rồi nhìn Thủ lĩnh:

– Này này, nhớ lời dạy của “Đại quan” đây. Tất thảy chúng ta, mỗi người mỗi việc cùng nhau phụng sự Cần Vương, phụng nghiệp Cứu Quốc.

Nàng Mỹ Cẩm cúi hai cúi, nhỏ nhẹ buột lời “vâng ạ” rồi lui dần ra ngoài.

Ngay chiều tối hôm đó, với sự sắp xếp của chánh Đề đốc Hoàng Văn Thúy và dân binh Nguyễn Văn Lò, Tuần phủ Hưng Hóa, Thủ lĩnh Tướng công Nguyễn Quang Bích rời ngôi nhà bình dân ven sông, chuyển đến đình Tứ Mỹ trong sự đón tiếp rất lặng lẽ của Thủ nhang nhà Đình. Cha con Nguyễn Văn Lò, Nguyễn Mỹ Cẩm là người được giao chuyên lo việc cơm nước, nghỉ ngơi cho Nguyễn Tướng quân.

Hai mũi tiến công của quân Pháp cùng một lúc công kích bằng đại bác vào thủ phủ Hưng Hóa nơi đóng Đại bản doanh của Tuần phủ Nguyễn Quang Bích. Kinh thành Sơn Tây, kinh thành Bắc Ninh thất thủ, Hưng Hóa cửa ngõ lối vào Tây Bắc Bắc Kỳ, thay lệnh Hoàng Đế Hàm Nghi, Đại thần Tôn Thất Thuyết  khẩn cấp mật thư đến Nguyễn Quang Bích Tuần phủ Hưng Hóa phải giữ thành bằng mọi giá, tạo hậu phương Bắc Kỳ cho đạo binh tử chiến của Triều đình. Tướng Nê grie tiến đánh từ phía Sơn Tây, còn tướng Brielen chỉ huy cánh quân từ Bắc Ninh tiến về. Trong khi đó đạo binh trợ viện của nhà Thanh lại rút lên Tuyên Quang, quân Hoàng Kế Viêm rút vào Thanh Sơn. Nguyễn Quang Bích không nắm được nguyên do phân tán lực lượng viện trợ nên ra sức chống chọi. Tướng quân ra lệnh đánh chặn ở Hạ Bì, ở La Thượng, làm quân Pháp phải tạm thời thoái lui. Nhưng rồi chỉ có Tướng công, trợ thủ Đề Kiều, cùng vài trăm binh lính canh giữ bốn mặt thành chống trả không xuể. Quân Pháp dùng súng phun lửa và đạn xăng bắn tới tấp, khiến tường thành bốc cháy ngùn ngụt. Quân Pháp lại dùng đại bác bắn bầm dập làm các cửa thành tan toác, Đám binh lính Tây ào ào xông lên thành. Khi hai tướng Nêgriê và Brielen hợp binh dưới chân cột cờ thì chỉ còn thấy thành Hưng Hóa tan hoang, quân Nam Việt  nằm nghiêng ngả, Bộ tướng Hưng Hóa đã đi thoát từ lúc nào.

Nêgriê quát tháo:

– Con cọp rừng Hưng Hóa đã chạy trốn. Mau đuổi bắt, đuổi bắt.

Briêlen cũng không kém:

– Điệu tù trưởng ra đây tra khảo xem bọn thủ phủ thoát hướng nào!

Một người cao gầy, chạc trung niên từ trong đám binh lính người Việt bị bắt giữ bước ra.

– Các ngài quan Tây. Chúng tôi chỉ là kẻ làm tôi tớ cho Phủ thành, không bén mảng việc binh đao, bày đặt nước bước cho ai. Từ mấy ngày đây, cổng thành này đóng chặt, bộ chủ đi đâu hết cả, bọn tôi tớ trông nom nhà cửa gà lợn nào biết gì!

Viên thông ngôn như giảng giải thêm điều gì, tướng Tây có râu quai nón, mắt xanh, mũi lõ, làu bàu:

– Thật là lũ ăn bám. Đưa chúng nó về trại lao binh

Cai Đen từ sau lưng Briêlen đi lại, hắn dí dí mũi súng ngắn vào cằm người cao gầy:

– Chưa xong đâu. Nếu chỉ cho quan Tây biết đường chạy trốn của bọn Thủ phủ, sẽ được thưởng to đấy. Thôi, về trại mà bàn tính với nhau rồi khai báo.

Những tù nhân thành yên lặng, sắp một hàng dọc, đi bộ về khu lao binh.

Brielen:

– Ngài Cai Đen. Ngài là người bản địa, liệu ngài có thể đoán thời gian bỏ thành và hướng đi của bọn chúng?

Cai Đen – Trung úy mật thám:

– Tôi chưa thể chắc ngày giờ, nhưng dám chắc, là hướng tây.

Brielen là viên tướng đi lên từ Com măng đô Âu Châu, nên cái nghề mật thám của người Việt, với ông ta chỉ là chuyện cưỡi ngựa xem hoa. Trung úy Đen thoáng nghĩ.

Nhưng không. Brielen gật gật:

– Tôi đồng ý với ngài Cai. Kẻ đứng đầu thành Hưng Hóa, Tuần phủ Bích ấy mới rời cổng hậu Tòa thành hai ngày, mà đúng rồi, thưa ngài trung úy, họ đi về hướng Tây tả ngạn sông Thao.

Trầm ngâm giây lát. Brielen cười ruồi.

– Tuần phủ Nguyễn Quang Bích là một con voi rừng đấy, thưa ngài trung úy mật thám.

Brielen gõ gõ tẩu thuốc lá ngước mắt nhìn chằm chằm Gêgrie:

– Ta cho truy nã luôn chứ ngài thiếu tướng? Truy nã luôn, đừng để cho “con voi” rừng hoàn hồn.

– Ngài Brielen. Tôi lại nghĩ khác. Gêgrie nghiêng mặt cao đạo. Mục tiêu mà Toàn quyền thừa lệnh Triều đình Huế đưa ra, ta đã đoạt ngoạn mục, tôi và ngài chỉ còn chờ chai sâm banh từ Hà Nội gửi đến, thế thì vội gì phải lao quân? Hừ! Gêgrie búng ngón tay. Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa thất thủ chỉ trong vài tuần, Tây Bắc lấy đâu ra tử thành nữa mà ngài phải lo xa? Tướng Gê cười khẩy.

Brielen, Cai Đen đứng trơ. So với Gê, Brielen cũng lon thiếu tướng, nhưng là tướng điều tra xét hỏi, còn Gêgrie là một sỹ quan chỉ huy tấn công chuyên nghiệp, chừng nào chưa thật rõ ràng về mục tiêu và điều kiện của đối phương thì ông ta chưa thể ra lệnh. Cai Đen nhún vai, hiểu điều đó.

Nhóm thám sát địa bàn lập bản doanh Vương Văn Doãn đã về đến đình Tứ Mỹ. Chánh Đề đốc vui mừng nắm tay từng người dẫn vào hậu sân đình làng. Chén trà Tam Nông do Mỹ Cẩm pha trông thật sóng và thơm. Mới chỉ có ba ngày vắng mặt mà sao Sơn phòng đã có thêm được nàng Mỹ Cẩm. Vương Văn Doãn, Đặng Huy Tá, Trịnh Bá Đanh lấy làm lạ. Nàng Mỹ Cẩm thì Đặng Huy Tá rõ lắm, vì Tá cùng Nguyễn Văn Lò làm thuê ở đồn điền thổ hào Hoàng Văn Thúy hai năm trước. Từ ngày thổ hào Thúy vắng đi đâu xa, con trai ông điều hành đồn điền, Tá và Lò đôi lúc đến thăm nhà nhau. Tá còn dắng vui với người bạn chi điền: – Tam Nông, Cẩm Khê, giáp vách nhau thôi, nay mai cháu Mỹ Cẩm lớn lên, ông “để” nó cho con trai tôi nhá?! Lúc ấy Nguyễn Văn Lò chỉ cười cười vơ điếu thuốc lào. Giờ thì cô con gái Lò làm thuê lại ở đây? Vẫn nét mặt tươi hồng, nhẹ nhàng, nhanh nhẹn, vẫn bộ áo nâu cúc bấm chỉ có thân hình đã đầy đặn hẳn lên. Thoáng nhận, thoáng nghĩ, nhưng trước mặt Đề Sơn phòng Đặng Huy Tá không dám dò hỏi.

– Nào, các nghĩa binh sơn cước nói đi. Phủ Sơn phòng và nơi Tụ nghĩa của Thủ lĩnh sẽ đặt ở nơi đâu? Chánh Đề đốc ngẩng nhìn Trịnh Bá Đanh, Đặng Huy Tá, rồi dừng lại ở khuôn mặt Vương Văn Doãn.

– Thưa ngài Đề Kiều. Ba chúng tôi đã xem xét bốn năm địa điểm, nhưng rồi thống nhất với nhau chọn Tiên Động lập căn cứ, trình ngài xem xét trước khi tấu lên quan Tuần phủ. Vương Văn Doãn thưa báo.

– Tiên Động à! Đề Kiều buột miệng. Nơi này thì tôi rõ, nó thuộc đất Tiên Lương xã, Cẩm Khê huyện.

– Vâng vâng! Trịnh Bá Đanh nhanh nhẩu.

Đặng Huy Tá gật gật rồi giải thích.

– Tiên Động rộng rãi, vừa bằng phẳng, vừa rừng dú. Mặt đông nối sông Thao bằng con ngòi Dành, mặt tây là đồi núi, mặt nam có đầm lầy. Còn bắc, có thể đi về miền Tây Bắc.

– Được! Đề Kiều gật gù. Tiên Động Tiên Lương, có thể giao thông giữa Cẩm Khê với Tam Nông, Yên Lập, Thanh Sơn. Hạ Hòa – Yên Lập – Thu Cúc hoặc Yên Lập – Thu Cúc – Nghĩa Lộ.

Đề Kiều nhấp chén nước chè rồi quả quyết.

– Quyết định chọn Tiên Động làm căn cứ kháng chiến sau thành Hưng Hóa. Không bàn nữa. Tôi sẽ tấu trình Chủ tướng và thưởng công các người.

Đề Kiều đứng dậy. Cả ba nghĩa binh cũng đứng lên, khoát tay vòng trước ngực.

– Cảm ơn Chánh dề đốc! Cảm ơn Chánh dề đốc!

Những bóng áo vải khuất vào lùm cây, khuất vào dặng nhãn đang mùa hoa.

Đêm trăng rằm, trời làng quê đẹp quá. Hoàng Văn Thúy đi đi lại lại quanh cửa đình. Ngày rằm, khói hương phảng phất, thơm dịu. Thấy vị khách quý đi vòng quanh cửa sân, không ngắm trăng, không ngâm nga thơ phú thủ nhang Nguyễn Lộ mạnh dạn lên tiếng.

– Thưa lãnh quân. Ngài có điều gì cần chính chủ?

Hoàng Văn Thúy vốn đã quen biết Nguyễn Lộ, mấy ngày qua, nhờ có Lộ mà mọi việc lớn ở đình đều chu tất. Chánh Đề đốc quay lại.

– Trời quang, gió nhẹ, ta dạo trăng chơi đấy thôi. Nhang Lộ cứ tĩnh tâm đi.

– Dạ. Nguyễn Lộ rẽ vào hiên đình.

Chọn ai làm phó Đề đốc phụ trách Hành dinh? Vương Văn Doãn, Nguyễn Quang Hoan, hay ai nữa? Khi đã lập căn cứ kháng chiến, dù tạm thời, dã chiến hay thành Bản doanh thì Phó Đề đốc trực tiếp quản hành dinh là không thể chậm? Đề Kiều vẫn cứ đi đi lại lại, trong đầu căng thẳng, mà giờ tấu trình Thủ lĩnh Tướng công vào sáng mai, lại không thể trì hoãn.

Trở vào giường. Đề Kiều phân cắt dứt mạch từng phần việc sẽ trình cấp thượng:

Thứ nhất: Cắt cử đội hành dinh về ngay Tiên Động xây dựng lán trại bản doanh, hạn trong ba ngày phải xong, đón Tuần phủ Thủ lĩnh về an vị chỉ huy kháng chiến.

Thứ hai: Lập ra bộ quản sơn phòng, lo gấp việc xây dựng đại bản doanh sao cho thuận cả vài ba việc: Hoạt động tại chỗ, củng cố và luyện tập, thu nhập quân binh và lương khảo, lại tính đến chuyện, nếu quân Pháp đánh mạnh thì có đường rút lui…

Thứ nữa: Cho quân binh tin cẩn về Bắc Ninh, về Sơn Tây, về Hưng Hóa, tìm gặp, mời đón các sỹ phu, các yếu nhân tài giỏi: Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Thiện Thuật, Vũ Hữu Lợi, Nguyễn Đức Ngữ, đón cả trưởng nam Ngô Quang Đoan ở Thái Bình lên Cẩm Khê. Nếu Chủ tướng bằng lòng sẽ cử Vương Văn Doãn làm Phó Đề đốc hành dinh, Cử thủ khoa Võ Triều Nguyễn Quang Hoan làm Lãnh binh luyện quân kiêm tác chiến, lại cử Khê Ông Nguyễn Hội đặc trách văn vận và đàm đạo…

Đêm se lạnh, trăng rằm soi sán, Chánh Đề đốc cả mệt ngủ thiếp cho đến lúc Mỹ Cẩm kéo tấm chăn chiên, nhè nhẹ phủ lên người, Chánh Sơn phòng mới chợt tỉnh, rồi lại gác tay lên trán, thiếp đi.

Tiếng chim ríu ran trên gò vải, lại rúc rích phía vườn bưởi, tiếng chim rừng lọt vào tai, Đề đốc bừng tỉnh. Bình minh đã xiên hiên đình, Hầu bếp Nguyễn Văn Lò đã bưng âu cháo nóng đặt lên bàn ăn từ lúc nào. Đề Kiều mỉm cười như tự chê trách mình vụng về. “Ừ, thổ hào là lão nông, là đất cát vườn tược, đôi lúc thảnh thơi, có gì là quá lắm?”. Cười nhẹ, bỗng dưng Đề đốc lắc lắc đầu: “Không không, không! Ta đang là Chánh Đề đốc Sơn phòng chiến sự. Ta đang cùng Tuần phủ Thủ lĩnh nếm mật nằm gai dặm trường kháng chiến đánh quân sài lang. Ta không còn là tù trưởng, thổ hào. Ta… không…!”. Đề Kiều nhíu đôi mày rậm, bứt chân khỏi phòng ngủ bước ra sân.

– Quan Tuần, con mời quan dùng bát cháo sáng ạ. Nguyễn Văn Lò khép tay mời mọc.

– Tôi nhận, tôi nhận rồi, chú cứ lo việc đi.

Hoàng Đề đốc vươn mình một cách khoan khoái rồi khoác bộ đạo binh dã chiến sang nhà ngang đình làng. Tuần phủ Thủ lĩnh đang đợi.

– Chánh Đề đốc dùng chén trà cho ấm bụng đã. Thủ lĩnh đưa tay mời.

– Cảm ơn Tướng công. Cảm ơn Tuần phủ. Đề Kiều nâng chén đáp lễ.

– Nào, bây giờ Chánh Đề đốc bày giải ý ngài. Ta cùng bàn bạc.

– Thưa Thủ lĩnh Tuần phủ. Đề Kiều nghiêm lời mà thân mật. Việc chọn Tiên Động làm đại bản doanh như ý nhóm khảo cứu, Tiểu tướng là người bản địa, nhận thấy hoàn toàn đúng đắn. Chỉ xin Chủ tướng xem xét rộng hơn về đường tiến, thoái?

Thủ lĩnh khẽ gật đầu.

– Chánh Đề đốc nói phải. Trong giao chiến, tiến, thoái là chuyện phải tính để bảo toàn binh lực. Tôi đồng ý với ngài việc chọn Tiên Động làm bản doanh, nhanh chóng loan ngôn tụ nghĩa Cần Vương, tìm kéo minh chủ, văn vận dân tình và nghĩa sỹ. Tôi cùng đồng ý bổ tước Phó Đề đốc hành dinh cho Vương Văn Doãn ; tán tương quân vụ cho Nguyễn Hội – Khê Ông; Giao Nguyễn Quang Hoan làm Lãnh binh quân chiến và hộ vệ. Riêng Đặng Huy Tá và Trịnh Bá Đanh là người Cẩm Khê hiểu rõ đồng đất phong chức Cai, lo việc tuyển mộ ba vùng. Ngừng giây lát, Nguyễn Quang Bích nói tiếp. Nếu trời cho ta được lập cứ phòng ở Tiên Động, thì ta sẽ ra sức hợp nhân mưu đề việc lớn.

Đề Kiều cảm thấy lòng nặng trĩu, thương cho Tuần phủ sức yếu đêm dài đau đáu lo việc nước theo lẽ đạo tôi trung.

– Thưa Tướng công, Ngài cần bảo trọng, việc đại sự đã có bộ tiểu tướng chúng tôi lo liệu, tấu trình tướng công khi vượt sức.

Nói rồi Chánh Đề đốc cho Mỹ Cẩm đi gọi bộ tiểu tướng vào ra mắt: Vương Văn Doãn, Nguyễn Hội, Nguyễn Quang Hoan, Đặng Huy Tá, Trịnh Bá Đanh lần lượt khoát tay trước Thủ lĩnh Tướng công nhận nhiệm lệnh và cúi đầu đáp tạ.

Nguyễn Quang Bích trở lại am phòng. Đề Kiều mời các tiểu tướng sang nhà bên phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng người. Lại làm thông suốt ý đồ lớn của Thủ lĩnh trước vận nước nhà và nghĩa tôi trung Cần Vương.

– Ngài (Nguyễn Quang Bích) đã chính thức rời xa Hành dinh thủ phủ dù vẫn là Tuần phủ Hưng Hóa. Thành Hưng Hóa rơi vào tay quân Pháp, Ngài đã vắt mình lên ngựa chiến với tước hiệu Thủ lĩnh Tướng công, thề quyết tử dưới cờ Cần Vương. Tất cả chúng ta nguyện là đệ tử của Tướng công Thủ lĩnh.

Phó Đề đốc Vương Văn Doãn đứng dậy:

– Thưa Chánh Đề đốc, chúng tôi tâm nguyện trung thành với Tướng công, hành động theo chỉ lệnh của Đề đốc.

Các tiểu tướng cúi đầu đồng thanh:

– Tâm nguyện trung thành với Tướng công, trung thành với Tướng công.

Nàng Mỹ Cẩm từ hiên nhà bước vào

– Thưa quan Đề đốc. Có hai người từ xa đến xin được gặp ông ngay lúc này.

Hoàng Văn Thúy  ngoảnh nhìn Mỹ Cẩm rồi nói.

– Được. Con mời họ vào đây.

Mỹ Cẩm bước ra. Đề Kiều vừa đứng dậy bước theo sau, đã kịp thốt lên.

– Ôi. Giáp! Tuần phủ Giáp.

Hai người đàn ông chưa kịp hỏi han ôm chầm lấy nhau lắc lắc, nước mắt cứ tràn ra.

Vương Văn Doãn rót chén nước chè tươi, nói vui:

– Mời ngài, mời ngài! Chén trà này làm cho chúng ta đến được với nhau.

Đề Kiều cười cười đứng trước nhóm cận tướng, giảng giải:

– Phải nói là duyên ngộ. Ngài Nguyễn Văn Giáp Bố chánh Tuần phủ Sơn Tây lưu lạc sau khi cả hai kinh thành thất thủ, nay cùng vệ sỹ tìm đến yết kiến Thủ lĩnh Tướng công. Chánh đề Kiều này xin cảm tạ ngài! Hoàng Văn Thúy cúi mình.

Tiếng tăm Bố chánh Sơn Tây gan dạ đương đầu với quân Pháp thì ai cũng đã nghe thấy, nhưng giờ mới là lúc mục sở thị vị Tuần phủ trung thành với nghĩa lớn Cần Vương. Ai nấy hoan hỉ và kính phục.

Chỉ mươi phút sau đó, Bố chánh được Đề đốc đưa tới trình diện Thủ lĩnh Tướng công. Hai vị Tuần phủ Tướng quân ôm chặt bờ vai không muốn rời nhau.

Cũng ngay hôm đó, Nguyễn Văn Giáp được Thủ lĩnh tạm chỉ làm phó Tướng công và giao trọng trách cùng với Đề Kiều tổ chức Tiên Động thành Đại Bản doanh kháng chiến khu vực toàn Bắc Bộ, trực tiếp tổ chức và chỉ huy đạo binh giao chiến trên khu vực miền Tây.

Nguyễn Văn Giáp đứng dậy cúi đầu lạy tạ. Không còn là Tuần phủ, ngài trở về với tước hiệu Bố Chánh – Phó tướng, tiếp tục song hành cùng Tuần phủ Hưng Hóa Nguyễn Quang Bích Thủ lĩnh Tướng công, dấn thân vào cuộc kháng chiến Cần Vương chống Pháp ngay sau ngày 12 tháng Tư năm Giáp Thân (1884) – Ngày Thành phủ thất thủ.

Đã một tuần lưu lại ở đình Tứ Mỹ, Nguyễn Quang Bích thấy bồn chồn. Một phần sốt ruột cần có một Bản doanh để tập hợp thân sỹ cả nước, phần khác lo ngại thám sát Pháp ở Hưng Hóa theo đường đê sông Thao mà tìm đến. Ngài gặp Đề Kiều.

– Ta đã ấn định ngày về Sơn Động, Đề đốc lo sớm.

Thưa Thủ lĩnh. Căn cứ Tiên Động do phó Đề đốc Vương Văn Doãn chỉ huy đang thừa hành khẩn trương, sớm được đón Thủ lĩnh nhập Sơn thành.

– Ta muốn cử phó tướng lên đó trước, ông có đầu óc quân binh, nhận rõ thế đứng, thế tiến, thế lui, để rồi điều khiển nó.

– Vâng. Thủ lĩnh cho chỉ, tôi sẽ lo liệu việc này chu tất.

Hôm sau Phó tướng Nguyễn Văn Giáp được lãnh binh Nguyễn Quang Hoan tháp tùng có mặt ở đầm trũng Tiên Sơn. Phó Đề đốc đưa ngài đi ngang, đi dọc, đi ngược, đi xuôi. Trở về, Phó tướng vỗ vai Vương Văn Doãn.

– Ai tìm ra Tiên Sơn?

Phó Đề đốc Doãn:

– Thưa ngài, Đề Kiều. Thổ hào Hoàng Văn Thúy là người Cẩm Khê, ngài am hiểu đường đất, lại có con mắt quân phòng, nên khi tấu trình Thủ lĩnh, Ngài y duyệt ngay.

– Được, được lắm! Thủy sơn hòa nhập, trời mây hội tụ, khí chất yên tĩnh, thoáng đãng. Ta xem phong thủy, sẽ là nơi linh thiêng sông núi.

Nói rồi phó tướng Bố Giáp tự tay cắm hướng Bản doanh và ấn định nội phủ Sơn thành, giao lại cho phó Đề đốc hành dinh Vương Văn Doãn gấp rút thực thi lệnh vụ.

Ngày mai sẽ rời đình Tứ Mỹ về Tiên Sơn Động, Chủ tướng cho làm bữa cơm “khách”. Đề Kiều băn khoăn e việc lo liệu không chu đáo nên mạo muội hỏi Thủ lĩnh:

– Thưa Ngài, vị khách mà được ta mời chiều nay là…

Nguyễn Quang Bích cười, khẽ gật gật.

– Hà! Chánh Đề đốc mời cho ta, ông thủ nhang nhà Đình, ông thủ bếp, và con gái Mỹ Cẩm.

Đề đốc chợt nhận ra, lấy tay vo vo mái tóc đã ngả mầu sương mà lắc đầu    “- Tiểu tướng chậm hiểu, thưa Thủ lĩnh!”

Bữa cơm chiều đó có thịt gà rừng, có cá suối kho, có cả lạc rang, và cút rượu. Nguyễn Văn Lò và nàng Mỹ Cẩm cứ ngẩn người ngồi ngắm nhìn vị quan Phủ hiền lành, đến mức Ngài phải tự tay gắp thức ăn vào bát, mỉm cười và giục:  “- Nào, ăn nhanh, để còn… kháng chiến”

Vẻ như ai cũng ái ngại. Đề Kiều phá tan sự yên ắng.

– Thưa Chủ tướng. “Nhà” Lò đây có nghề gia truyền thảo dược. Thân phụ Lò là Nguyễn Văn Chanh, là bạn đồng niên của tiểu quan, một lang y tiếng tăm ba châu…

– Thế à. Thủ lĩnh cười cười. Hẳn nào Thủ bếp và con gái đểu khéo tay, sức khỏe ta tốt lên trông thấy.

Đề Kiều hào hứng.

– Còn Nguyễn Lộ, gia tộc đã bốn đời giữ chân thổ đạo đình làng. Nhang Lộ cũng sẽ kế vị thân phụ tế linh thần hoàng.

– Việc thiện tự tâm tất bền vững, há gì hèn sang, to nhỏ, cốt trí lực đồng mưu, chung lưng phụ tử. Nói rồi, bất chợt, Tướng công vịnh: “Đồng tâm sơn khả di/ Ninh viết lộ hành lao” (Đồng lòng rời được núi/ Xá gì đường gian lao)

Đề đốc Kiều tỏ sự vui vẻ. Nguyễn Lộ, Nguyễn Văn Lò, cả Mỹ Cẩm vừa thấy kính trọng, vừa thấy thương cảm vị quan Phủ già, dân giã.

Đêm đó, thổ nhang Nguyễn Lộ đặt lễ thắp hương bái thần thổ. Giờ Hoàng đạo, Thủ Lĩnh Tướng công được Chánh Đề đốc và hộ vệ tháp tùng, lặng lẽ rời đình làng Tứ Mỹ, dọc theo đường mòn ven đê sông Thao, tắt ngang cánh đồng, vượt đồi Yên Ngựa, ngược theo khe Ngòi Dành đi về làng Tiên Động phủ Cẩm Khê, ấy là nơi khởi đặt bản doanh kháng Pháp của các nghĩa sỹ Cần Vương hậu Hưng Hóa.

Tranh của họa sĩ Nguyễn Khôi

Chương II. Cờ khởi nghĩa.

 

Nguyễn Văn Giáp cùng Vương Văn Doãn đi rà soát lại tất cả các công trình, các địa điểm trọng yếu nhất trước khi đón Thủ lĩnh về Tiên Động.

– Theo ý ngài, nếu quân Pháp đánh đến đây ta sẽ cố thủ thế nào để phản công lại chúng.

– Thưa Bố chánh. Tôi và Đanh (Trịnh Bá Đanh) đồ rằng, ta không thể chịu chết đứng như Hưng Hóa. Ngoài việc lập đồn nhỏ ở Ao Lộc để chặn đường bộ thì cần tránh xa tầm đạn pháo trên sông Thao.

– Hay lắm. Ta thất thủ Hưng Hóa cũng là bởi thủy quân Pháp. Nay lui sâu vào rừng đồi, lại lập đồn chặn quân thủy bộ và quân tiến theo đường bộ thì cớ sao không giữ lại được thủ phủ?

Doãn thấy phó tướng Bố chánh dừng chân ở đỉnh đồi, ngắm nhìn bốn phía rồi lấy trong túi vải ra mảnh giấy mà ngài tự hình dung vẽ lại địa hình bố phòng Tiên Động. Vương Văn Doãn chăm chú nhìn theo đường di chuyển của ngón tay Phó tướng.

– Ba mỏm đồi này. Bố chánh nói. Tướng công an tọa ở đồi giữa, ta đặt tên là gò Quan Đại, Chánh Đề đốc ở cùng Thủ lĩnh. Ta trấn mỏm gò cửa tiền, gọi là cổng đồn. Còn ngài cùng Lãnh Hoan án ngữ Hố Gia, xem Hố Gia là cửa hậu, nếu buộc phải lui binh thì đưa Chủ tướng theo đường rừng này sang Yên Lập.

Vương Văn Doãn gật đầu hiểu ý Nguyễn Văn Giáp, liền nói.

– Khi mấy chúng tôi đi khảo sát về, trình Thủ lĩnh việc bố phòng, Tướng công nhắc. Cần lập các đồn binh bao quanh, trại gần, trại xa như kiểu bàn tay chụp xuống, vừa là để bảo vệ căn cứ, vừa để dân làng Tiên Lương yên tâm mà theo Cờ Tụ nghĩa.

Phó tướng ngẩng nhìn phó Đề đốc hành dinh:

– Chúng ta đã làm đúng ý chỉ, hẳn Tướng công sẽ hài lòng.

– Hai vị nghĩa sỹ có công khai sơn phá thạch căn cứ Cần Vương Tiên Động, xuống đồi, rẽ sang chân núi Lưỡi Hái. Bốn phía, quân binh đang gấp rút lo việc xây dựng doanh trại.

Giờ thì Nguyễn Văn Giáp, Vương Văn Doãn, Nguyễn Quang Hoan, Nguyễn Hội, đang cùng với Chánh Đề đốc Hoàng Văn Thúy ngồi quây bên Tướng công trong căn nhà gỗ lợp lá trên đồi Quan Đại, tên gò đồi do chính Phó Đề đốc Hành dinh Vương Văn Doãn đề xuất được Phó tướng Nguyễn Văn Giáp   chấp thuận. Khoan thai trong bộ triều phụ đại quan, Nguyễn Quang Bích ra hiệu ngồi.

– Nghe nói, đất này hợp mệnh ta, phong thủy đắc lộc. Thiên thời, địa lợi, tất sẽ có nhân hòa. Thật ưng ý lắm.

Nguyễn Văn Giáp lựa lời thưa:

– Tướng công Thủ lĩnh. Ý lớn đã định, việc nhỏ đã làm. Xin Tướng công chỉ dụ cầu tài, tập hợp nghĩa sỹ, tụ họp quân binh, ổn định đồn trí, đặng luyện tập, sẵn sàng giao tranh với giặc Pháp.

Võ tướng Nguyễn Quang Hoan cũng khép hai bàn tay.

– Thủ lĩnh. Việc trước nhất được đặt ra bây giờ là lập các hạng đồn bao quanh Tiên Sơn trong đó cần bố phòng hỏa lực ở mặt cửa sông Thao, chống chọi chiến hạm Tây, và mặt cửa bộ phòng quân Pháp theo đường Ao Lộc.

Nguyễn Hội Khê Ông lại nói.

– Việc binh đã rõ, nhưng việc dân cũng cần có chỉ giáo của Thủ lĩnh, Hạ tướng đồ rằng, với dân chúng ba vùng, không ai hơn gắn bó hơn Chánh Đề đốc thổ hào Hoàng Văn Thúy, tấu Tướng công xem xét.

Thủ lĩnh Nguyễn Quang Bích ngồi lặng lẽ nghe, thỉnh thoảng đưa bàn tay xương xương vuốt nhẹ chòm râu ngả mầu đen bạc. Ngài cảm thấy trào sôi trong lòng tình thương Nước trung Quân sau đại trận Hưng Hóa bất thành. Các tướng lĩnh binh quân phải tan tác sau mấy ngày tử thành, bây giờ đang ở đâu, liệu đã tìm được minh chủ, hay sẽ tìm lại ta? Nếu làm cho Tiên Động lan truyền thì tập hợp ba quân, tập hợp tướng sỹ nhanh hơn, nhưng lại dễ lộ bản doanh, người Pháp sẽ truy đuổi, trấn áp. Mà nếu cứ an cư  lặng lẽ thì khác nào làm chuột chui hang chờ đến đêm đi kiếm ăn! Nguyễn Quang Bích chợt nhíu mày, các tiểu tướng đang chờ lời giải của thủ lĩnh mình đây?

Tướng công ngẩng nhìn Hoàng Văn Thúy rồi chợt hỏi.

– Chánh Đề đốc thấy thế nào?

Đề Kiều tự nghĩ các tướng nêu bản kiến đều đúng. Tiếng là tù trưởng liên vùng kiêm thổ hào Cẩm Khê, Hoàng Văn Thúy nhận rõ trọng trách của Chánh Đề đốc trước Tướng công, trước bộ tướng của Tướng công, nên nắm chập hai bàn tay, đưa ngang ngực:

– Thưa Tướng công Thủ lĩnh. Tiểu tướng nghĩ rằng các vị đây đều đã vì vận mệnh mà hiến kế, và kế nào cũng đầy đủ lý và tình. Riêng hạ tướng Đề Kiều xin có lời với Tướng công và các quân chư vị…

Năm sáu đôi mắt hướng cả về Chánh Đề đốc. Chững chạc, tự tin, lại là người trọng thần phục, Hoàng Văn Thúy nói tiếp:

– Tướng công, Ngài phải là ngọn cờ Cần Vương trong lòng dân ba vùng, nghĩa sỹ tìm đến, quy phục. Bộ tướng tôi thủy trung với Ngài. Ngài Khê Ông vừa có lời trình Tướng công, nếu được Ngài y thuận, tiểu tướng họ Hoàng này xin tự nhận làm cánh quân đầu binh xung tiên dưới quyền lệnh của Tướng công và Phó tướng quân Bố Giáp.

Nói xong, Đề Kiều như thở phào. Tự nhận quân đầu binh xung tiên lần này khác với trận tử thành Hưng Hóa. Ba vùng Cẩm Khê chỉ trong lòng bàn tay, Tây Bắc mới là rộng lớn và gian khổ. Hoàng Văn Thúy không ngẫu hứng dù rằng biết mình là kẻ sỹ giữa làng thổ hào. Ông quyết định một lần nữa dấn thân vào cuộc kháng chiến chống lại người Pháp theo mệnh quốc sấm Hịch Cần Vương của minh Vương Hàm Nghi.

Những lời gan ruột và thái độ vừa cứng rắn,  vừa khiêm nhường của Chánh Đề đốc làm Nguyễn Quang Bích cảm thấy yên lòng. Ngài đưa tay vuốt nhẹ chòm râu rồi nói.

– Các tướng đã theo ta mấy trận giữ thành, nay người Pháp đã chiếm cả Hà Nội lẫn Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa. Nhờ các minh tướng mà ta đã kịp nghĩ lại, không rẽ theo đường Tổng Đốc, dẫn họa tan binh. Giờ đây tướng sỹ cùng ta khởi dựng Tiên Sơn, lại dự phòng Tây Bắc, há phải lòng Trời sao. Ta nguyện trung tử với Hịch Cần Vương của Thượng hoàng yêu nước Hàm Nghi và Đại thần phụ chính Tôn Thất Thuyết. Các tướng Văn Võ nghĩ sao?

– Y lệnh Minh quân Thủ lĩnh!

– Y lệnh Minh quân Thủ lĩnh!

Các tiểu tướng đồng thanh lên tiếng, hướng về phía Tướng công mà cúi đầu cảm tạ.

Tướng công đưa hai bàn tay lên cao, ra hiệu tạm lắng, Ngài ngẩng nhìn khắp lượt rồi chậm rãi nói, giọng Ngài rõ ràng và khỏe mạnh.

– Mưu phục quốc là ý Trời phó thác. Minh Vương, Đại thần rời khỏi Kinh thành, tự ôm lấy núi rừng Quảng Trị, lập cứ Sơn Phòng. trong Nam, ngoài Trung, rồi Bắc Kỳ, đâu đâu cũng lấy cờ Cần Vương mà phản đối Triều đình. Ta sẽ cùng các tướng tụ hợp binh quân, hẹn ngày dựng cờ khởi sự ngay trên đất Tiên Động này. Các tướng có đồng lòng với ta?

Các Tiểu tướng cúi đầu, đồng thanh:

– Y lệnh Minh quân Thủ lĩnh!

– Y lệnh Minh quân Thủ lĩnh!

Thủ lĩnh gật đầu rồi nghiêm giọng:

– Để giúp ta lo việc đại sự, ta ban lệnh: Sung Đề đốc Hoàng Văn Thúy làm Phó tướng thứ hai, đặc trách chỉ huy chiến khu Rừng Già và mặt trận Đà Giang. Sung phó Đề đốc Vương Văn Doãn làm Chánh Sơn phòng Tiên Động. Ta cho các tướng lui diện!

Chánh Sơn phòng Tiên Động Vương Văn Doãn cùng Khê Ông Nguyễn Hội lững thững đi bên mỏm đồi Cửa Tiền, vừa đi vừa ngắm nhìn phải, trái, trước sau. Cả hai dừng lại.

Vương Văn Doãn:

– Ngài Khê Ông. Tiểu nhân chưa hay được hỏi, tước của ngài là Tán tương, mà lại có tên Khê Ông là cớ làm sao?

– Phó Đề đốc. Tôi thuộc dòng Nguyễn Khắc, tên Hội. Gọi tôi là Tán tương Nguyễn Hội, được Tướng công sung Quân vụ, nên hiển danh: Tán Tương Quân vụ Nguyễn Hội. Còn Khê Ông là làng quê sinh hạ mà tôi nguyện thác sẽ hóa thân.

– Tiếng tăm ngài ba vùng đều hay, tướng binh còn phục tài ứng khẩu, tài văn luận, và cả tài đàm đạo của ngài nữa. Hẳn Tướng công xem ngài là vị quan ngự sử, vị quan ngữ văn số một bên mình. Lãnh Doãn này xin thần phục ngài, thần phục ngài!

– Ngài lãnh binh Vương cận tướng (Tướng cận vệ họ Vương). Âu cũng là nhờ giời được theo hầu Tướng công. Tinh anh của Ngài lan tỏa mà tôi nhiễm được cái tâm cái đức ở Ngài, để bây giờ theo Ngài Thủ lĩnh phụng mệnh Cần Vương phục quốc. Làm được việc nghĩa lớn ấy thì Tán tươngnày dù có ngã xuống cũng hả dạ.

Hai vị sỹ phu vào hạng đứng đầu Bộ tướng, vừa thong dong vừa trò chuyện. Bất chợt tán tương Nguyễn Hội dừng lại, Khê Ông ngắm ngắm nhìn nhìn rồi chỉ xuống mô đất mặt tiền gò đồi.

Chỗ đây. Ta dựng chân cờ Phục Quốc tụ nghĩa ở điểm đất này. Phong thủy, linh khí, gió khí, đều thuận.

Phó Đề đốc Hành dinh cúi nhìn, rồi ngẩng mặt. Bốn hướng núi chầu, tám phương gió thoảng. Một đàn chim trời từ đâu bay về chao qua chao lại rồi xà xuống đậu trên những cành cây tán rộng kêu ríu ran.

Chánh Sơn phong Tiên Động gật gật đầu lấy làm hài lòng sai vệ binh đào đất xếp đá xây trụ. Chỉ một ngày, lá cờ có dòng chữ: “Phục Quốc Tụ Nghĩa” được kéo cao, bay phần phật bên cạnh hành dinh Quan Đại.

Nhìn lá cờ Tụ Nghĩa ngạo nghễ giữa mỏm đồi cao rộng. Bố chánh Nguyễn Văn Giáp nghĩ ngay đến việc sẽ có kẻ dò xét nơi căn cứ nghĩa quân rồi thông ngôn cho quân Pháp, hoặc quân do thám Pháp ở Hưng Hóa đang truy tìm hướng đi của Thủ lĩnh và quân binh, nên cho gọi ngay Lãnh binh quân chiến Nguyễn Quang Hoan đến gặp.

– Võ tướng! Ngài sẽ là tổng chỉ huy mặt trận Cửa Tiền. Nơi ấy thường xuyên đối mặt với các tướng Pháp cả trên cửa sông Thao và cửa đường bộ. Ngài sẵn sàng nhận việc khó ấy chứ?

Nguyễn Quang Hoan từng là thủ khoa võ Triều Nguyễn, từ ngày về Hưng Hóa được Tuần phủ Thủ lĩnh gọi thân mật là Võ tướng. Mọi nhiệm vụ nặng nề giao cho Hoan, Thủ lĩnh cảm thấy yên tâm. Cuộc tử thủ Hưng Hóa không thành, nếu không có Đề Kiều và Quang Hoan thì Tuần phủ Thủ lĩnh cũng đã theo các Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu mà đi. Với tư cách là Phó tướng thứ nhất, Nguyễn Văn Giáp đề xuất việc cử Quang Hoan làm tổng chỉ huy Mặt trận số 1. Tướng công Thủ lĩnh gật đầu ngay và còn bút phê vào tờ trình: “Võ Hoan Cửa Tiền”.

– Nơi sung yếu này nên lập đồn theo thế cài răng lược. Nguyễn Quang Hoan vừa nói vừa đưa hai bàn tay xòe rộng rồi luồn vào nhau.

– Ngài lý giải rõ hơn đi? Phó tướng Nguyễn Văn Giáp yêu cầu.

– Thế này, Thưa Phó thủ lĩnh…

Hai vị tướng quân ngồi bệt xuống vồng cỏ, Lãnh Hoãn cầm hòn đá vôi vẽ vẽ trên phiến đá bằng phẳng. Những vạch kẻ ngang dọc, đan chéo, dấu cộng, dấu trừ. Lại có cả hình nón, hình cánh cung, rồi mũi tên chạy thẳng, chạy cong, mũi tên gẫy gập… Mặt phiến đá nham nhở trông như trận đồ bát quái.

Bố chánh tủm tỉm cười:

– Thủ khoa võ có khác. Nhưng đây mới là trên sa bàn, còn ngoài sa trận, ngài có dám cam kết trước Thủ lĩnh Tướng công?

Tướng quân Quang Hoan hào hứng.

– Dám chứ. Với điều kiện là Phó tướng cho tôi quyền tổ chức đao binh quân Mặt trận, và cho tôi dùng sơn pháo thần công.

– Sơn pháo thần công thành Hưng Hóa đã lọt vào tay quân Pháp cả rồi, khó khăn cho ta, khó khăn cho Lãnh tướng.

Lãnh Hoan trầm ngâm:

– Biết là khó, nhưng Tây nó có pháo hạm đặt trên chiếc thuyền sông Thao, mà ta có sơn pháo đặt trên đồi cao, tất chúng phải bỏ cuộc.

Phó tướng Giáp:

– Ý Lãnh tướng thật hay, tôi sẽ cùng ngài lo liệu.

Nắng chiều ngả chéo bóng cây, hai nghĩa binh, hai tướng lĩnh đích thân thị sát mặt trận cửa tiền trở về bản doanh. Mấy ai hiểu tâm trạng của Bố chánh và Võ khoa trong lúc này: Cửa Tiền, sự mất còn của Đại bản doanh Tiên Động.

Đề đốc Hoàng Văn Thúy ngồi trầm ngâm dưới bóng cây lim cổ thụ. Ngày còn là Chánh tổng, Thổ hào Kiều có ý định mở thêm mấy quả gò phía Tây để trồng lim, tạo nên một rừng lim để lại cho con cháu đời sau. Đem ý tưởng đó thổ lộ với bố vợ là Hà Công Cấn người làng Ao Lộc, ngỡ ông phản đối, nhưng không, nhạc phụ Công Cấn khích lệ: “- Con mở rộng gò lim thành rừng lim là phải lắm. Người xưa xem lim như cây Thần, rừng nhiều cây Thần, tất có Thần rừng, mà thần rừng thì tĩnh tâm cứu độ chúng sinh, che chở cho muôn vật, che chở cho ta. Con rể mở rộng gò lim thành rừng, là phải lắm!”. Lời nhạc phụ vốn lão nông chi điền, chứ đâu phải nho túc mà sâu sắc, thúc giục lòng người đến thế.

Thế rồi năm Đinh sửu 1877, Nhị giáp Tiến sỹ Nguyễn Quang Bích được Triều đình bổ làm Chánh sứ Sơn phòng kiêm Tuần phủ Hưng Hóa. Ngài cho người tìm đến Hoàng Văn Thúy, vời về thành. Trước đức độ, và tài thu phục của vị Tuần phủ Tiến sỹ, chánh tổng thổ hào Cẩm Khê Hoàng Văn Thúy quyết định về Sơn phòng làm phò tá Tuần phủ. Thế là ý định mở rộng rừng lim đang dở dang phải tạm ngừng. Hưng Hóa thất thủ, Thủ lĩnh Rừng già. Thật trớ trêu, nơi rừng già có những cây lim trăm tuổi đang được mở mang lại trở thành chiến khu, và ông, Đề đốc Kiều, cựu chánh tổng Cẩm Khê được chính Tướng công Thủ lĩnh phong chức Phó tướng thứ hai, đặc trách chỉ huy chiến khu Rừng Già, còn gọi là mặt trận Cửa Hậu.

Ngồi bên Đề Kiều, chỉ huy mặt trận Cửa Hậu lúc này, là phó tướng Bố chánh Nguyễn Văn Giáp và chánh Sơn phòng Tiên Động Vương Văn Doãn.

– Đề đốc đặt tên “Chiến khu Rừng Già”, nghĩa là sao? Bố Chánh hỏi.

– À, đơn giản thôi ngài Phó tướng. Vì tôi muốn gửi gắm tất cả tinh thần, của cải, suy nghĩ và hành động của tôi trước vận mệnh Quốc tộc, và trước vùng đất sinh thành!

– Sâu sắc, sâu sắc! Bố chánh bật nói, chìa hai tay nắm chặt tay Đề Kiều.

Chánh Sơn phòng Tiên Động xen ngang:

– Đề đốc tôi gắn bó với Rừng Già như xương thịt, như cơm ăn nước uống ngày ngày. Đề đốc phó tướng với chiến khu, khác gì sư tử xám làm chúa Sơn lâm. May thay, căn cứ kháng chiến có Đề đốc.

Bố chánh vui hẳn lên:

– Hay, hay lắm! Chúa Sơn lâm Rừng Già!

Chợt Đề Kiều ngửa hai bàn tay chặn ngang ngực

– Không, không. Thưa hai vị. Căn cứ Tiên Động mới là Chiến khu, “Chúa Sơn lâm” ngài đang mưu lược cứu nguy Quốc nhục đấy, hạ tướng ta chỉ là hạng hùm cọp giữ rừng.

Cả Bố chánh lẫn Phó Đề đốc Hành dinh dập tay đen đét. Bố Giáp:

– Chí lý, chí lý. Nếu có rượu đây, tôi sẽ chúc ngài, ngài Phó tướng chánh tổng.

Đề Kiều cả cười, ngài sợ rằng cuộc vui kéo dài làm mất thì giờ quý báu, nên chủ động:

– Bây giờ xin hai vị tra xét mưu kế bày binh mặt trận cửa hậu mà tôi đã chuẩn bị.

Nói đoạn Đề đốc chỉ huy trưởng trải ra thềm đất một tấm vải xám rộng tới cả mét, rồi bẻ cành găng, những lá găng bằng ngón tay cái, xanh thẫm, được bày ra từng chiếc, Đề đốc nhặt từng lá, sắp đặt, xê dịch, rồi lại sắp đặt. Chỉ một loáng trên nền tấm vải đã tạo nên một hình thù không trật tự. Đề Kiều chỉ vào bản “sơ đồ” rồi nói:

– Lá găng to này là vị trí chỉ huy chung. Lá găng nhỏ này là các đồn hiểm yếu. Còn lá găng gập kia là đồn giả, ổ súng giả, ta sẽ hút quân Pháp vào mục tiêu giả ấy mà thừa cơ đánh úp chúng.

Phó Đề đốc hành dinh Vương Văn Doãn nhìn rõ trận địa giao chiến, nhưng vẫn không nhận ra đường lui, liền hỏi.

– Ngài Phó tướng Đề đốc. Từ hành dinh Thủ lĩnh ở gò Quan Đại vượt đầm lầy đến cửa đèo Yên Lập là đoạn đường xa, phải leo núi Lưỡi hái và vực Đá trơn. Nếu quân Pháp đánh ập bốn mặt cùng một lúc, ta đưa chủ tướng đi thế nào?

Đề Kiều:

– Tôi đã nghĩ đến bài học thành Hưng Hóa. Nếu Thủ lĩnh đòi phải lập phương án “cửa hậu” thì Yên Lập là con đường duy nhất. Mặt trận cửa tiền và các đồn tiền cửa hậu sẽ kìm chân giặc để Thủ lĩnh cùng bộ tướng thừa cơ rút lui an toàn.

Phó Tướng công bố Giáp ngắt cành găng thành những mẩu nhỏ, đặt thành dãy nối tiếp trên mặt tấm vải.

– Ngài Đề đốc. Không cần chờ ý chỉ của Thủ lĩnh Tướng công, mà trước hết là tôi và các ngài phải đặt ra, phải lo liệu.

Ngẩng nhìn hai Lãnh tướng chiến trận, phó tướng Bố chánh chỉ tay vào những mẩu cành găng nối nhau, nói một cách rắn chắc.

– Nếu buộc phải lui binh, rời khỏi căn cứ Tiên Động, thì đường đi của Tướng công và Đại quân sẽ là “đây”: Hố Gia, đèo Lưỡi hái Yên Lập, lên rừng núi Tây Bắc.

Không ai bảo ai, trong đầu ba vị Tả tướng đều thoáng hình dung một núi rừng miền Tây bao la, nơi ấy có thể sẽ là Chiến khu khởi nghĩa Phục Quốc bền vững.

Với sự chủ trì của phó tướng Bố chánh Nguyễn Văn Giáp và phó tướng thứ hai Đề Kiều Hoàng Văn Thúy, cuộc tụ họp quan trọng tổ chức tại Gò lim khu Rừng Già  cách gò Quan Đại mấy trăm mét. Bố chánh thay lời Thủ lĩnh Tướng công đọc “Lời Triệu” chiêu binh mộ sỹ do văn quan Nguyễn Hội soạn:

– Bàn dân Cẩm Khê, Tam Nông, Hạ Hòa, Yên Lập. Người Pháp xâm lăng đã chiếm thành Hưng Hóa. Tuần phủ và binh tướng đã rút về Tiên Động lập chiến khu Rừng Già. Ta mời gọi các chư vị chí sỹ nghĩa sỹ, nghĩa binh và bàn dân khắp miền cùng về Rừng Già hợp sức với ta đánh lại người Pháp, phục Quốc rửa nhục Quốc sử. Văn võ bên ta là những tướng tài như Bố chánh Nguyễn Văn Giáp, Đề đốc thổ hào Hoàng Văn Thúy, võ quan triều Nguyễn Nguyễn Quang Hoan, văn quan Khê Ông Nguyễn Hội và nhiều Tả Hữu tài giỏi, đức độ khác nữa. Nay ta thành tâm triệu mời!

Các tướng sỹ Rừng Già cùng hô vang:

– Về với Tướng công đánh Pháp! Về với Tướng công đánh Pháp!

Lời Triệu vang thật nhanh. Dân làng các xã ba vùng bàn tán, hỏi nhau thực hư ra sao? Có đúng Ngài Tuần phủ kêu gọi từ Tiên Động không? Trai tráng hay bàn dân, nghĩa sỹ, nghĩa binh, lại cả chí sỹ nữa, Ngài sẽ thu nạp thế nào? sử sự thế nào? Ông già bà cả, nam thanh, nữ thanh đi làm, đi chợ, xôn xao cả một vùng.

Việc thu nhận quan sỹ và quân binh, và sắp xếp về các đồn do đích thân Phó tướng Đề Kiều phụ trách. Nghe tên tuổi Đề Kiều phó tướng, đúng là chánh tổng thổ hào Hoàng Văn Thúy năm năm về trước, dân làng ba huyện ào ào cho con cháu loại trai tráng tìm đến Rừng Già ra mắt và xin được nhập “Đạo quân Tuần Phủ”. Đề đốc loan truyền: “- Ai ai ra nhập Đạo quân Tuần Phủ, cũng đều là bởi nghĩa lớn, đều là bởi việc Nước, nặng lòng Vương Triều, không mảy may nghĩ lợi riêng mình, Tướng công Thủ lĩnh sẽ biết tới!”.

Lời Triệu của Thủ lĩnh Tướng công ban ra chưa đầy nửa tháng trời, trai tráng khắp nơi đã kéo đến xin đầu quân. Việc trai tráng đầu quân Đề đốc phó tướng giao cho đốc binh Nguyễn Đình Ngữ sắp xếp bổ về các Đồn, chỉ huy đồn cho luyện tập rồi phiên các đội thiện chiến tùy theo vùng sông nước, đồng lầy, rừng rậm, dốc đá hay len vào làng quê xóm chợ mà đánh. Còn các nghĩa sỹ, vệ binh, dân binh, từng giao chiến trận Hưng Hóa, thất lạc, nay tìm về với Chủ tướng, Đề đốc phó tướng cho mời đến tư phòng phó Đề đốc hành dinh Vương Văn Doãn để được Tướng công ghi nhận công tích và lấy lại lòng thành, rồi mới bổ về giữ trọng trách tại các đồn trọng yếu.

Chánh Sơn phòng Tiên Động Vương Văn Doãn đang lúi húi ghi chép, soạn thảo nội dung một lễ trọng theo yêu cầu của Thủ lĩnh Tướng công thì một bàn tay to bè, đặt lên vai.

Lãnh Doãn quay lại.

– Ôi, ôi, ngài Tán Thuật!

Tán tương Nguyễn Thiện Thuật Chánh sứ Sơn phòng Hưng Hóa, ôm chầm lấy phó Đề đốc hành dinh

– Tán tương Chánh sứ ở đâu đến? Ở đâu đến? Lãnh tướng dồn dập.

– Chuyện dài. Thôi! Thành Hưng Hóa không còn, nhắc đến Chánh sứ Sơn phòng làm gì?

Nguyễn Thiện Thuật ngồi bệt xuống hiên nhà, ngài nhẹ kéo gấu áo Triều phục, thủng thẳng:

– Đi đến chân núi Tiên Sơn mới đưa nó ra mặc, cũng là nợ nước trung quân mà nguyện tìm về với Chủ tướng, tìm về đồng cam cùng Bộ tướng.

Vương Văn Doãn khoát tay trước ngực.

– Cảm tạ tướng quân, cảm tạ tướng quân. Doãn này xin được làm hầu đệ của Thủ lĩnh.

– Không chỉ có tôi đâu, Thuật này nghe nói tiến sỹ Vũ Hữu Lợi ở Nam Định, tiến sỹ Tống Duy Tân ở Nghệ Tĩnh, cử nhân Đinh Công Tráng ở Thanh Hóa cũng đang trên đường tụ nghĩa Tiên Động, trình diện Đình nguyên Hoàng Giáp Tướng công.

Vương Văn Doãn nghe Tán Thuật đưa tin, mừng lắm, liền mời ngài vào nhà an tọa thư giãn sức lực. Rồi sang dinh lán Thủ lĩnh thưa chuyện. Nghe xong, Tướng công nhắc, hậu đãi Tán Thuật, và cứ để ngài bình tâm an tĩnh vài ba ngày. Đoạn lại truyền cho cảnh binh hành dinh đi các ngả đường Tiên Động chờ đợi, nếu gặp được các văn thân nghĩa sỹ thì đưa đường, rước phục về tư lán hành dinh của phó Đề đốc. Vương Văn Doãn chắp nắm tay nhận lệnh rồi lui ra.

Tin tán tương Quân vụ Nguyễn Thiện Thuật tìm đến yết diện Chủ tướng Nguyễn Quang Bích tại chiến khu Rừng Già làm dậy lòng tướng sỹ. Tán Thuật là người Hưng Yên, đỗ cử nhân, được bổ làm Chánh sứ  Sơn phòng phò tá Tuần phủ ở Hưng Hóa. Lại được Tuần phủ giao cho việc trợ giúp Hoàng Kế Viêm. Khi Viêm bỏ về Huế, Tuần phủ mất chỗ dựa, Hưng Hóa thất thủ Tán Thuật đang trên đường ra Bắc, được tin, khóc lóc thảm thiết, nhịn ăn ba ngày rồi về quê an vị. Nhưng nghĩ thương Hoàng Giáp Tuần phủ, lo cho vận mệnh đất nước mà ăn không ngon, ngủ không yên lòng, Nguyễn Thiện Thuật chắp tay vái mẹ già, rồi đeo túi Triều phục cùng một hộ vệ ra khỏi nhà trong đêm mưa rét tháng hai.

– Chủ tướng Tuần phủ ơi, Ngài đang ở Tiên Động là chỗ nào? Trời Phật phù hộ cho ta tìm được Ngài càng sớm càng tốt!

Vừa đi, vừa nghĩ, có lúc bật lời tâm giao ra khỏi miệng.

Hai thầy trò vị tiểu tướng thành Hưng Hóa mặc áo nâu sồng lẫn vào dòng người, kẻ buôn thúng bán mẹt, kẻ hội hè, chùa chiền. Có đêm vào nhà dân xin ngủ nhờ, xin cơm chay, có đêm ghé tạm lán trại trẻ chăn trâu, rồi tìm gặp người già ngoài ruộng, hỏi đường về Tiên Động Cẩm Khê.

Vùng đất Tam Nông đây rồi. Ngày ở Thành, Nguyễn Thiện Thuật đã từng cùng Đề đốc Hoàng Văn Thúy đi kinh lý nơi đây, khi đó tiếng tăm Chánh tổng thổ hào Thúy nổi cả ba vùng, dân làng Tam Nông, Yên Lập, Cẩm Khê ai cũng trọng vọng ngài, nhờ những chuyến đi cùng Đề đốc mà Nguyễn Thiện Thuật học được cách gần dân, gắn kết với họ, mưu việc cho mình. Nhớ lại những ngày sôi động mà thân tình bên Chủ tướng, Nguyễn thiện Thuật thấy tự tin. Hai thầy trò thay bộ nâu sồng nhà chùa, hiển hiện hai cha con lang y nhà nông, lên rừng Tiên Động tìm cây thuốc nam.

Theo lời đề Đề hành dinh, ý Minh chủ chưa giao việc cho một tướng tài cao đức trọng như Tán Thuật là có ý gì? Đến cả phó Thủ lĩnh Bố chánh cũng chưa tự lý giải được huống gì Bộ tướng? Đề đốc phó tướng, Khê Ông văn vận, lãnh Hoan tướng võ, ngồi chụm đầu sắp xếp trọng trách tướng lĩnh và nghĩa sỹ để trình Thủ lĩnh Tướng công.

Bố chánh đi đi lại lại, chợt dừng bước.

– Ngài Đề đốc mặt trận cửa hậu, và ngài võ tướng lãnh binh chỉ huy mặt trận hậu cửa tiền, hãy xướng danh đồn trưởng các đồn?

Lãnh Hoan nhanh nhảu.

– Thưa ngài Bố chánh. Cửa tiền xung yếu bởi pháo hạm Sông Thao, mà Tán Thuật lại giỏi sông nước, xin ngài cho Thuật đặc trách đồn Sông Thao nhằm chặn quân sài lang ngay từ thủy pháo hạm.

Bố chánh gật gật tỏ ý tán thành. Nhưng lại hỏi.

– Nếu Thủ lĩnh Tướng công không phê thì ngài tính sao? Lại còn cửa đường bộ nữa!

Lãnh Hoan giật mình. “Ờ nhỉ. Chủ tướng chưa giao việc, chắc là Ngài đã có ý!” Nhưng rồi không ngần ngừ, lên tiếng:

– Cửa Sông là Dật, Tán tương Lê Đình Dật. Còn Cửa Rừng là Hoàng Đình Cương, lãnh binh Cương. Tạm thời hai người đồn trưởng ấy đã, các phó đồn, tôi tính sau.

Bố chánh, Đề đốc Kiều đều gật đầu.

– Được!

– Được đấy, ngài võ Hoan! Đề Kiều tán thành, rồi ngài tiếp luôn.

– Ở Rừng Già, tôi đề xuất: Đề Kiều tôi sẽ kiêm nhiệm cửa Cẩm Khê, phó đồn có Trịnh Bá Đanh Tổng Khảm và cụ Tán Áo Hà Công Cấn trợ giúp. Còn cửa Khả Cửu Thanh Sơn thì tốt nhất là Đốc Ngữ – Nguyễn Đình Ngữ. Tôi cũng nghĩ đến phần trung lưu Sông Thao, nên lập một đồn, trấn cửa Hạ Hòa đề phòng thủy chiến Pháp ngược sông rồi đánh lật lại Tiên Động.

Phó thủ lĩnh Tướng công thấy Đề Kiều đề xuất thì vỗ đùi đen đét mà cười.

– Đề đốc, ngài đúng là một tướng quân, và là một chánh tổng. Ngài có con mắt của quân binh, lại có con mắt của một dân binh thổ hào! Nhưng theo Đề đốc, ngài giao việc này cho ai?

Đề đốc Kiều ngẩng mặt quả quyết

– Đốc Thục, người Đoan Hùng!

– Được, được! Bố chánh gật gật đầu.

Nguyễn Văn Giáp đứng dậy bước vài bước trong khuôn sân lán trại rồi vỗ vỗ nhẹ vào vai Vương Văn Doãn phó Đề đốc hành dinh, người vừa bước vào ghế.

– Một việc rất quan trọng nữa, là, cột cờ thì làm rồi, nhưng nội dung lá cờ tụ nghĩa, hình như Chủ tướng chưa hài lòng. Các ngài thấy sao?

Lãnh Doãn:

– Vâng, thưa ngài Phó thủ lĩnh. Tướng công có lần tâm sự với tiểu tướng là hai từ “Tụ Nghĩa” thì hay, nhưng không rõ mục đích, mục tiêu, chưa thể hiện ý chí của Văn thân và nghĩa sỹ. Nhưng Ngài chưa đề bút, mà cũng không đọc lời, nên tôi không tiện hỏi.

Bố chánh:

– Thôi được, việc Cờ nghĩa là việc lớn, tôi và Vương chánh Sơn phòng sẽ xin ý kiến cụ Hoàng.

Ngừng giây lát. Nguyễn Văn Giáp đưa hai bàn tay nắm chặt giơ lên.

– Việc bổ tướng đồn, ta đã thống nhất. Các ngài sớm sắp đặt cho hoàn thiện và lo chuyện tập dượt, việc binh dao không đợi bút phê của Tướng công.

Đề Kiều, Võ Hoan, Lãnh Dõan, đều đứng cả dậy khẽ cúi chào phó Thủ lĩnh, rồi bước ra khỏi dinh Bố chánh.

Nguyễn Quang Hoan cho người về làng Mè tìm Ma Văn Vân. Dạo ở Hưng Hóa, Vân là dân quê, nhân chuyến đi bè Sông Thao, gặp Hoan, lúc bấy giờ Hoan chỉ là nghĩa binh, hai người hợp lòng hợp ý, Vân tôn Hoan là anh, anh em huynh đệ, Hoan – Vân trở nên thân thiết. Rồi Vân tự theo Hoan vào Thành, lúc đầu là dân binh, được thủ khoa võ Hoan bảo lãnh, Ma Văn Vân trở thành nghĩa binh, rồi là thủ binh cho lãnh Hoan. Ma Văn Vân gan dạ, mưu mẹo và trung thực, nên được võ tướng tin dùng. Có lần lãnh Hoan kể chuyện Vân dụ hai lính vệ binh người Việt cùng quê, làm trong hàng ngũ quân Pháp ở Sơn Tây, hai lính Việt họ Mè tìm cách làm cùng ca gác rồi ôm súng trốn về thành Hưng Hóa, tự thú tội và xin làm quân binh của lãnh Hoan. Từ bấy Chủ tướng biết đến Ma Văn Vân và giao cho Vân chức Thị sát, phụ trách nhóm quân dò xét tình hình bên ngoài. Hưng Hóa thất thủ. Ma Văn Vân lánh về quê làng Mè.

Gặp được thị sát Ma Văn Vân, lãnh Hoan không ngần ngừ mà giao ngay phó đồn Cửa bộ dưới sự chỉ huy trực tiếp của Đề Cương.

Thủ khoa võ tướng Nguyễn Quang Hoan lại cho người tìm đến Văn Lang Hạ Hòa tìm Đào Văn Toát. Toát là người cao to, có sức khỏe, từng gia nhập quân Triều đình xung hành thành Sơn Tây. Do có công, được Bố chánh Tuần phủ Sơn Tây Nguyễn Văn Giáp phong chức Đội Vệ – đội trưởng vệ binh. Thành Sơn Tây bị uy hiếp rồi thất thủ, Đào Văn Toát chạy về Hưng Hóa ra mắt Tuần phủ Nguyễn Quang Bích và được Ngài phong Lãnh – Lãnh Toát, xung vào đội cảm tử của võ tướng Nguyễn Quang Hoan. Thế giặc quá mạnh, Đề Kiều, Lãnh Hoan dìu Tuần phủ Thủ lĩnh Rừng già. Đề đốc Kiều đưa Thủ lĩnh rời thành, lãnh Hoan và đội vệ Đào Văn Toát cùng đội cảm tử, vẫn cản bước chân giặc cho đến lúc quân Pháp tràn vào Thành, Hoan và Toát, mỗi người cùng tốp binh quân, chạy thoát vào rừng.

Võ Hoan vời được Đào Văn Toát trở về Sơn phòng Tiên Động làm Phó đồn cửa sông dưới quyền tán tương Lê Đình Dật.

*

Cái rét nàng Bân năm nay cũng chỉ thoáng qua, không kéo dài. Sau trận mưa rào tháng ba, dấu hiệu của đầu hè đến sớm. Bản doanh Thủ lĩnh như trầm lặng trong cánh rừng già đang vụ nảy lá non. Chim rừng từng đàn, ríu rít trên các cây cổ thụ Tiên Động. Dưới tán cây xanh mát có những khoảng trống to nhỏ để những tia nắng sau mưa tuy có nhợt nhạt nhưng cũng đủ dọi xuống làm thoáng đãng không gian Rừng Già.

Đồi “Quan Đại thần” – quân binh thân mật gọi thế, một lúc có mấy tốp khách được vệ binh của lãnh Hoan đưa đến tư dinh Quan Đại. Ai nấy tỏ vẻ tươi vui hào hứng chờ đợi phút giây mà họ đã phải mất bao ngày đêm mỏi mắt đợi chờ.

Gian nhà lán ba gian lợp lá cọ, phân liếp vách nứa nhưng rộng rãi. Cột gỗ không cưa xẻ mà một đầu hồi, cây cột cái lợi dụng luôn vào chãng hai gốc thành ngạnh già. Hôm chọn địa điểm dựng lán “chiêu hiền”, đích thân Tướng công cắm hướng và gợi ý chánh Sơn phòng Vương Văn Doãn để nguyên cây xanh này. Thành ngạnh là loại cây cao, thẳng, cứng, vỏ bạc phếch, các mắt sần lúc nào cũng rỉ nhựa đỏ và dính. Thành ngạnh sống khỏe trong mọi thời tiết mưa, nắng, hạn, úng, gió giật. Khê Ông văn thân Nguyễn Hội nhìn nhà lá chiêu binh hiền tài gật gù nói với phó Đề đốc hành dinh:

– Tướng Công có con mắt linh thần , lại có quả tim trung Quân ái Quốc, việc tất thành!

Vương Văn Doãn lấy làm thích thú giải đáp:

– Tướng công sâu sắc lắm, nhựa cây cũng như máu và nước mắt người ta vậy, “Bình Tây, báo Quốc” là ý chí của Chủ soái Thủ lĩnh! Tán tương Quân vụ và phó Đề đốc hành dinh rảo bước quanh nhà lá “Chiêu Hiền”.

– Thưa ngài!

Vương Văn Doãn quay lại. Một vệ binh đã đứng ngay sau lưng, hai nắm tay khép hờ.

– Thưa ngài chánh Sơn phòng, có một người tự xưng là tướng quân Đinh Công Tráng, nghe giọng nói nặng nặng, hai ba kẻ theo hầu, đang dưới lưng đồi, đòi vào gặp Thủ lĩnh.

– Được! Mời lên gặp ta.

Nói rồi, Doãn bước nhanh về tư dinh. Vừa lúc Đinh Công Tráng bước tới.

Vương Văn Doãn chắp hai nắm tay ngang mặt.

– Chẳng hay, Tướng quân là ai, từ đâu về tụ nghĩa?

Đinh Công Tráng nhìn Vương Văn Doãn, thấy phong thái lịch thiệp nhưng thiếu dáng uy nghi, cho rằng đây chỉ là một hầu cận nên không trả lời mà chỉ bước qua bước lại.

Chánh Sơn phòng thấy người được cho là “Tướng quân Đinh Công Tráng” tỏ vẻ xem thường chức sắc của bản doanh Tiên Động, lấy làm khó chịu. Nhưng vì trọng nghĩa chiêu hiền của Minh chủ nên kiềm chế, bước lên hai bước, một lần nữa chắp nắm tay, mỉm miệng, mà rằng:

– Quý tướng quân, muôn dặm đường xa về đây không ngoài mưu cầu phục Quốc, là phải lòng phải dạ Thủ lĩnh Hoàng Giáp lắm lắm. Xin mời ngài an tọa cho đỡ mệt mỏi, Tướng công tôi sẽ thân hạ tiếp người.

Đinh Công Tráng thấy người đứng trước mặt lễ nghĩa nói câu “Tướng công thân hạ” tiếp mình thì cảm thấy ái ngại, liền khoát khép hai cánh tay, lên tiếng.

– Thưa tráng sỹ, Đinh Công Tráng tôi từ xứ Thanh ra đây tìm Minh chủ, đúng là cũng chỉ vì mưu phục Quốc. Nay được ngài thiện tình, thì mau mau cho tướng quân họ Đinh này vào ra mắt Tướng công.

Phó Đề đốc vẫn từ tốn:

– Hạ tướng xin cảm tạ và mời tướng quân lên dinh Chiêu Hiền cho lại sức.

Đinh Công Tráng khoát vòng tay rồi bước theo chánh Sơn phòng.

Cùng chiều hôm đó tiến sỹ Vũ Hữu Lợi ở Nam Định được mấy học trò dẫn đường, đã tìm đến Tiên Động mong ngày được gặp bạn cũ – Cụ Hoàng Giáp, mà cùng bạn dấn thân vào cuộc chinh chiến mới vì nghiệp lớn.

Cụ Hoàng Giáp Nguyễn Quang Bích thong thả rảo bước trên sân dinh Thủ lĩnh. Trời đang giữa thu, khô hanh pha lẫn sự mát mẻ của khí hậu rừng già. Thủ lĩnh bước đi, bộ Triều phục nhẹ nhàng lướt trên những đốm lá khô. Mũ vành đai, áo lụa xanh với những ô hình đa giác mềm mại, hàng khuy đồng gọn nhẹ mà khỏe khoắn. Ngài không đi giầy Triều thần, mà thật lạ, Ngài thưởng đôi guốc mộc, tay cầm cuốn sách, tay vuốt nhẹ chòm râu dài trước ngực. Ba bốn hộ vệ đứng quanh tư dinh khẽ ghé tai nhau thầm thì mà không ai dám làm phiền Tướng công. Nhưng có điều chắc chắn, với Ngài, hôm nay phải là một ngày quan trọng. Mấy hộ binh luận thế.

Cụ Hoàng vẫn bước nhẹ, lá khô xào xạc. Những tốp chim rừng đủ mầu xanh đỏ chao đi chao lại rồi đậu xuống cành cây thành ngạnh đầu trái nhà, kêu rúc rích. Hoàng Giáp đến bên phiến đá trắng khoan thai nâng vạt lụa Triều, từ từ ngồi xuống. Đôi con mắt vị Hoàng Giáp nhìn xa xôi, vừa như mơ tưởng, vừa như đăm đắm. Ngài bật thành lời: “- Gập ghềnh nào sợ bước gian nan/ Cứu nước thân già, dạ sắt son/ Trung hiếu trên đầu trời chiếu rọi/ Non sông che chờ được bình an!”

Ngẫm lướt qua đường đời, lúc ngọt lành khi chua chát; lúc hào hứng bởi sự mãn nguyện, khi buồn rầu khi trời chẳng chiều lòng. Hai mươi tám tuổi, đậuTú tài; ba mươi mốt, đỗ Cử nhân. Được vào thi Đình, đỗ Đình nguyên Nhị giáp, rồi Hoàng giáp. Tiến sỹ. Năm ấy Tự Đức Hoàng thượng trọng tài đức mà bổ làm Án sát Bình Định, rồi làm Tuần phủ phủ Hưng Hóa, phong Hiệp biện Đại học sỹ. Nếu không có biến cố Hà Nội thất thủ, Tổng đốc tuẫn tiết, dẫn tới thành Bắc Ninh, thành Hưng Hóa… Nghĩ đến đây cụ Hoàng thở dài, rồi tự vươn ngực hít thở như lấy lại sự tự tin giữa nơi không khí trong mát “Gập ghềnh nào sợ bước gian nan/ Cứu nước thân già, dạ sắt son…” Hoàng Giáp cựu Tuần phủ cảm giác trong người nhẹ nhõm thanh tao, hiệu bút Ngư Phong mỗi khi được nhắc đến, hay đặt sau mỗi bài thơ do mình cảm tác, Ngài tự thấy viên mãn, tự thấy sự mãn nguyện của một kẻ sỹ lòng thành. Bây giờ thì, chút lãng mạn nho gia đấy đã thay đổi. Trước mặt là vận Nước, kẻ sỹ lãng tử như Ngư Phong Hoàng giáp đây sẽ phải đối diện, sẽ phải đối mặt. Triều thần là ta ! Triều đình là ai? Thế sự đến bao giờ thì có thể đảo ngược? Hay mặc cho số phận, mặc cho Trời, Đất định đoạt? Không! Triều đình là ai ? Triều thần là ta ! Vận mệnh nước nhà phải do các sỹ phu, nhất định phải do các sỹ phu giành quyền giữ!

Hoàng Giáp như chợt tỉnh, Ngài mỉm cười gấp cuốn sách giấy bổi dầy đặc chữ nho.

Phó Đề đốc hành dinh rụt rè.

– Thưa… thưa Thủ lĩnh Tướng công…

Nguyễn Quang Bích khẽ ngẩng mặt quay lại.

– Thủ lĩnh Tướng công. Tiến sỹ Vũ Hữu Lợi bạn hữu của Ngài xin được tiếp kiến.

– Vũ Văn Lợi người Nam Định phải không? Tướng công chợt hỏi.

– Vâng! Đúng. Đúng ạ!

– Ông Nghè cũ. Mời bạn ta vào!

Nguyễn Quang Bích bước nhanh trên nền sân dinh, lá khô xào xạc. Ngài đang nóng lòng đón ông Nghè làng Giao Cù Vũ Hữu Lợi bạn hữu thời cùng học thầy Doãn Khuê tiến sỹ trường Nam Định.

Hoàng giáp bước vào dinh phòng, không thấy ai, liền quay bước lại. Chánh Sơn phòng lúng túng.

– Thưa Thủ lĩnh, chờ Ngài an tọa…

– Ơ kìa, bạn ta, bỏ mọi lễ tục!

Nói rồi Nguyễn Quang Bích ra hiệu Vương Văn Doãn đưa xuống nhà ngay.

Tam giáp đồng tiến sỹ Vũ Hữu Lợi nhác thấy bóng Triều phục, hiểu ngay Hoàng giáp Nguyễn Quang Bích thân chinh đến gặp mình nên vội cúi sụp xuống, hai tay chắp khép, chào nhỏ.

– Cụ Hoàng Giáp! Quan Đại thần Hoàng Giáp!

Ấy ấy! Cụ Đốc học tam giáp tiến sỹ. Tôi mặc Triều phục là để luôn nhớ trọng trách trung thần chứ không phải để làm quan. Việc của anh em ta bây giờ là phục quốc bài Tây, Cụ Đốc học đồng tình chứ?

Hai vị tiến sỹ đồng trang lứa, cùng mưu chủ chiến, đồng nghĩa thân dân, nắm tay nhau bước vào nhà lán giành cho Thủ lĩnh.

Cũng ngày hôm ấy vào giờ Dậu, Thủ lĩnh Tướng công cùng phó Đề đốc hành dinh, thân chinh xuống nhà nghỉ trong khu dinh thự Đại bản doanh, đón tướng quân Đinh Công Tráng, tán tương quân vụ Nguyễn Tử Ngôn, cử nhân Trần Ngọc Dư. Ai nấy hoan hỉ, hào hứng và thân tình. Bản doanh khu Rừng Già Tiên Sơn đang ngày càng có thêm nhiều tướng lĩnh, nghĩa sỹ, thân hào các miền tìm đến.

Đã mấy lần Chánh Đề đốc theo ý của Bố Giáp có lời với Thủ lĩnh, là tăng cường các tướng, các nghĩa sỹ về đội quân, để rồi lập ra bộ tướng Tiên Động như thời thành Hưng Hóa. Tướng công lắng nghe, không gạt đi, nhưng cũng chưa tỏ thái độ đồng lòng. Thấy sốt ruột, Bố chánh Nguyễn Văn Giáp đề thư ngỏ gửi lên Thủ lĩnh.

Một ngày, hai ngày. Đến chiều, Tướng công cho mời Bố chánh Giáp và Đề đốc Kiều cùng ăn cơm. Lại cho mời võ tướng Nguyễn Quang Hoan, văn thân Nguyễn Hội và phó Đề đốc hành dinh Vương Văn Doãn kế tiệc.

– Ta mời các tướng đến, nhấp chén rượu nhạt, và cùng ta định liệu việc thế sự.

– Dạ. Có các tiểu tướng, thưa Thủ lĩnh! Bố chánh Nguyễn Văn Giáp đáp nhẹ.

Thủ lĩnh:

– Từ ngày rời đình Tứ Mỹ lên đây, đã tròn sáu tháng, các tướng giúp ta nhiều điều, làm ta hài lòng. Căn cứ Tiên Động đã hình thành. Lập được các đội quân đồn. Nhiều tướng lĩnh, văn thân, nghĩa sỹ, nghĩa binh từ khắp miền tìm đến, ra nhập. Dân chúng ba miền Phú Thọ đều hướng về chiến khu Rừng Già mà góp gạo thịt, chăm sóc, bảo vệ làm ta cảm động…

Nguyễn Quang Bích ngừng lại. Các tướng khoanh tay trìu mến nhìn vị Thủ lĩnh. Đề đốc Kiều nhận rõ khuôn mặt Ngài đã thay đổi ít nhiều theo năm tháng, gầy hơn, râu tóc nhiều sợi bạc, thân hình không còn vượng sức như ngày đương kim Tuần phủ tọa lạc nội thành. Trước mặt các văn thân nghĩa sỹ đây, bây giờ chỉ là một Tuần phủ lưu vong không thể điều hành bộ máy hành chính đầy quyền lực. Mà Triều đình dù chưa bãi chức, nhưng không điều hành, không liên lạc, không cung cấp, không ngăn chặn quân Pháp. Có nghĩa là không tất cả với Hưng Hóa… thì còn nghĩa lý gì? Ngài ngồi đây, một quan đại thần hàng phủ của Triều đình ngồi đây giữa rừng Tiên Động, không mặc Triều phục, chỉ bộ cánh nâu lụa như các cụ hào lý làng. Vậy mà thần thái Ngài dường như vẫn tỏa sáng. Khuôn mặt đầy bản lĩnh, đôi mắt kiên nghị, giọng nói rắn rỏi thuyết phục…

Nguyễn Quang Bích trìu mến nhìn các tướng lĩnh hạng cận thần, nhẹ nhàng bộc bạch: “- Gập ghềnh nào sợ bước gian nan/ Cứu nước thân già, dạ sắt son/ Trung hiếu trên đầu Trời chiếu rọi/ Non sông che chở được bình an”.  Nhóm tướng bất ngờ cúi mình cảm tạ. Văn thân Khê Ông Nguyễn Hội vội đứng lên:

– Thưa ngài Thủ lĩnh. Mỗi lời trên bút hiệu Ngư Phong được viết ra từ gan ruột. Chúng tôi coi đó là lòng dạ mình vậy.

Bố chánh Nguyễn Văn Giáp cũng đứng dậy.

– Thủ lĩnh. Chúng tôi nhất tâm tôn Ngài làm Đại thần Quân vụ Bắc Kỳ!

Nguyễn Quang Bích đưa hai bàn tay xương xương ra trước mặt.

– Giã ơn các ngài. Giã ơn! Ta muốn nói ra điều này. Tiên Động căn cứ đã là đây, nhưng lá cờ hợp nghĩa chưa làm ta ưng thuận. Các tướng cùng lo cho cái ngày tuyên bố hành động, để tiếng vang gần xa, ba miền biết tới, và để nghĩa sỹ, dân tình hòa lòng sau trước, báo quốc bình Tây, giữ bền Tiên tổ!

Các tướng lại một lần nữa cúi mình vâng mệnh. Bữa cơm Thủ lĩnh mời chiều nay, chỉ có rau rừng chấm muối cỏ gianh, cũng chỉ có rượu lá cất từ lõi cây đao xanh, rót đầy bát mắt tre, mà ai nấy cảm thấy no say ấm áp.

Rời tư dinh Thủ lĩnh, Bố chánh và Đề đốc sóng đôi bước về phía Quân trại.

– Tướng công tâm trạng và sâu sắc. Đề Kiều nói.

Bố chánh:

– Đúng là Tướng công tâm trạng, sâu sắc, mà cũng đã đặt lòng tin ở tất cả chúng ta rồi. Theo ngài, phải làm gì bây giờ?

– Thủ lĩnh nói như vậy, nghĩa là cần chuẩn bị kỹ cho việc tổ chức dựng cờ tuyên bố khởi nghĩa.

– Đúng thế, việc đại sự này xin Đề đốc cùng hành dinh lo giúp cho. Phần mình, tôi sẽ lựa lời trình Thủ lĩnh chuyện sắp đặt Bộ tướng trên bàn cờ Tiên Động.

– Ngài Bố chánh yên tâm. Tôi hiểu vùng đất, hiểu dân binh, ta sẽ làm vừa lòng Tướng công.

Hai vị Phó soái cùng chắp ốp bàn tay chào nhau. Mỗi người một lối, về tư dinh Bản doanh Tiên Động.

Chánh Sơn phòng Vương Văn Doãn thật sự vui mừng khi vệ binh dẫn hai cha con “ông dân quê” lên tìm gặp. Mới thấy thoáng dáng hình Nguyễn Văn Lò, Vương Văn Doãn đã bổ xô đến ôm thật chặt.

– Đầu bếp, Đầu bếp! Ông có khỏe không, xa nhau đến sáu bẩy tháng rồi còn gì?

Nguyễn Văn Lò nắm chặt hai vai bạn rồi quay sang cô gái – nàng Mỹ Cẩm.

– Chú, chú! Mỹ Cẩm lúng túng!

– Thế nào, cưới chồng lâu chưa?

– Dạ, chưa đâu ạ!

– Sao thế anh Lò. tôi cứ ngỡ…

– Thế này chú Vương ạ…!

Thực lòng bố con Nguyễn Văn Lò đã sắp định việc ở lại Tiên Động cùng Thủ lĩnh sau hôm rời đình Tứ Mỹ. Nhưng rủi, ở Tiên Động được hai ngày thì đầu bếp Nguyễn Văn Lò nhận tin bố vợ ốm nặng rồi qua đời. Cha con Lò phải về chịu tang, việc theo hầu Thủ lĩnh bỏ dở, cả chuyện tình duyên cận ngày ăn hỏi của nàng Mỹ Cẩm cũng đành gác lại. Những tưởng không thể về Tiên Động, nhưng rồi chính cha con Nguyễn Văn Lò cũng bị phụ thân là cụ lang y Nguyễn Văn Lường mắng mỏ về tội “bỏ dở việc Nước”. Không đợi đến giỗ đầu bố vợ, đất đã xanh cỏ hai cha con Lò trở lại Tiên Động.

Chánh Sơn phòng Vương Văn Doãn nghe xong lấy làm chia sẻ rồi cắt đặt Nguyễn Văn Lò nhập trại doanh Đề đốc ở khu Rừng Già, còn nàng Mỹ Cẩm được giao trọng việc tiếp tục cùng các lang y chăm sóc sức khỏe Thủ lĩnh và Bộ tướng như ngày ở đình Tứ Mỹ.

Đề Kiều và Vương Văn Doãn ngồi chụm đầu bàn việc may một lá cờ đại để kéo lên cột tre bương trên đồi Trọi.

– May cờ đại là việc hệ trọng, Ngài cho tìm các nghệ nhân dệt vải, rồi chọn các gái trinh tiết thêu riềm. Đề đốc nói.

– Thế còn thêu chữ?

– Cũng vậy! Xin Tướng công Thủ lĩnh đề bút, rồi các gái trẻ gái khéo thêu thành chữ. Trước ngày kéo lên, ta mời Ngài  ra lễ tế hô thần nhập binh. Cờ là Quốc hồn, vừa tụ nghĩa, vừa khởi nghĩa.

Đề đốc Hoàng Văn Thúy nói làu làu như thể ông đã hiểu hết ý tưởng của vị Thủ lĩnh. Chánh Sơn phòng Vương Văn Doãn gật đầu, rồi lại gật đầu lãnh nhiệm.

Mười ngày nay. Những tấm vải vuông lụa điều đồng mầu ngũ sắc của các làng nghề dệt may nổi tiếng ở Tiên Động được đưa về Bản doanh. Hai mươi cô gái xinh đẹp, khéo tay nhất cũng được chọn đến khâu tua khâu diềm. Giờ mùi sáng hôm đó, nắng bừng Rừng Già không gian thật lãng mạn, Thủ lĩnh Ngư phong Nguyễn Quang Bích được văn thân Khê Ông và phó Đề đốc hành dinh tháp tùng, đi xuống nhà ngang bản doanh, nơi các gái trẻ Tiên Sơn đang khẩn trương làm việc. Đứng ngắm lá đại kỳ dài hơn hai trượng, Thủ lĩnh Tướng công nhìn quan văn Nguyễn Hội tỏ ra hài lòng. Chánh Sơn phòng vội vàng lấy bút lông dâng lên tay Thủ lĩnh. Nguyễn Quang Bích bước tới mặt tiền đại kỳ, Ngài nâng cây bút hoa đưa dần, đưa dần tới góc trái lá cờ mà nhẹ tay đề tựa “Bình Tây, báo Quốc”. Đoạn quay sang nàng Mỹ Cẩm và các gái trẻ mà rằng: “- Đời ta chưa  trả xong, đời con, đời cháu nối tiếp”. Rồi Ngài khoan thai trở lại tư dinh. Bốn chữ đề tựa nét chữ đậm trên góc ngọn cờ lụa được các nghệ nhân già trong làng, phóng đại đặt vào tâm cờ. Một tháng sau, bốn chữ “Bình Tây, báo Quốc”, được các cô gái hoa tay thêu căng nét giữa bản cờ lụa. Chánh Sơn phòng ra lệnh gấp lại, cất kỹ, chờ ngày tế linh.

Sau thời gian để các văn thân võ tướng tĩnh dưỡng tại nhà dưỡng sức, tọa lạc ngay bên đầm nước làng Mỹ Lương. Đầm nước Mỹ Lương bao bọc quanh làng. Mùa mưa, làng nổi như một bán đào. Ngay sau khi đặt chân lên đất Tiên Động, Thủ lĩnh Tướng công đã cùng Đề Kiều và lãnh Hoan đi thực địa, tại đây Tướng công gợi bảo võ tướng Nguyễn Quang Hoan lập một đồn thuộc mặt trận cửa tiền nhằm án ngữ đường thủy Ngòi Dành, lại có thể yểm trợ cho các đồi Gò Dọc, đồi Cỏ Rác, những điểm sẽ lập đồn thuộc Mặt trận. Tướng công lại gợi ý Đề Kiều, nên làm một dinh thự nơi lòng đảo này để tướng lĩnh, văn thân nghỉ ngơi thư giãn sau mỗi lần chiến trận thắng lợi.

Tám tháng trôi nhanh. Tướng công Thủ lĩnh và các hạ tướng, quân binh, đã làm cho Tiên Động khá yên tĩnh ngày nào, nay sôi động không khí sinh hoạt, lại sôi sục máu nóng quân binh. Tướng công tỏ ý hài lòng. Giờ thì Ngài đang thanh tĩnh tại tư phòng chờ đón các Văn – Võ ba miền – một cuộc gặp Bình Tây báo quốc mà chính Ngài, một quan Triều, đã bao ngày đêm chờ đợi.

Chánh Sơn phòng  Vương Văn Doãn lần lượt mời các văn thân vào phòng: Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Công Tráng, Vũ Hữu Lợi, Nguyễn Đình Ngữ, Nguyễn Tử Ngân. Rồi các tướng đồn trưởng, đồn phó mặt trận cửa tiền, cửa hậu: Hoàng Đình Cương, Lê Đình Dật, Ma Văn Vân, Đào Văn Toát, Trịnh Bá Đanh, Hà Công Cấn…

Thủ lĩnh Tướng công Nguyễn Quang Bích trong Triều phục từ cửa dinh bước ra. Bên ngoài là Bố chánh Nguyễn Văn Giáp, Đề đốc Hoàng Văn Thúy, lãnh binh võ tướng Nguyễn Quang Hoan, Khê Ông văn thân Nguyễn Hội. Tướng công nắm tay từng người, đôi mắt Ngài trìu mến và thu phục. Đứng trước hàng cận tướng, Nguyễn Quang Bích đưa hai bàn tay lên cao, nắm chặt.

– Các Tướng quân. Người Pháp cướp nước, Triều đình lung lạc. Thế ta không giữ nổi Hà Thành, Bắc Thành, Hưng Thành, đã là tội lớn với Tổ tiên. Nay ta từ chức Tuần phủ Hưng Hóa mà tự gánh lấy việc dấy binh ở Tiên Động, các tướng đã tự nguyên về đây cùng ta, xin ăn ở lòng thành, sống chết tôi trung, danh thơm muôn đời để lại cùng Non Nước. Nguyễn Quang Bích ta sẽ chọn ngày kéo cờ khởi sự “Bình Tây, báo Quốc”, các tướng nghĩ sao?

Cả loạt văn thân võ tướng khoanh tay đáp vang.

– Theo Tướng công, bình Tây, báo quốc! Theo Tướng công, bình Tây, báo quốc!

Tướng công Thủ lĩnh một lần nữa đưa hai bàn tay lên cao, nắm chặt. Rồi Ngài cùng phó Đề đốc hành dinh lui vào phòng Hậu cung. Bố chánh Phó Thủ lĩnh Nguyễn Văn Giáp bước lên. Nàng Mỹ Cẩm bưng tới một bình rượu nếp.

Nguyễn Văn Giáp:

– Các tướng quân. Đây là rượu lộc Thủ lĩnh Tướng công ban biếu để ghi nhận buổi gặp mặt hôm nay. Mời các ngài lần lượt thụ hưởng để giữ tròn danh dự.

Nói rồi, Bố chánh bật nút bình rượu, nàng Mỹ Cẩm tay nâng ly sành, tay rót nhẹ. Hương vị rượu nếp tháng mười tỏa thơm cả tòa Hành dinh. Lần lượt, cứ thế, lần lượt…

Cuộc vui khởi động diễn ra nhanh gọn mà ai nấy đều cảm thấy hài lòng. Một cảm giác tràn ngập lòng các bá quan văn võ: Chén rượu nếp vừa cay vừa ngọt ấy, cũng là vị nóng của máu đào, vị mặn của mồ hôi mà tướng lĩnh đã đồng lòng đón nhận từ Thủ lĩnh, tự nguyện chinh chiến vì một mối thề báo Quốc, bình Tây.

Giờ mão đêm hôm đó, mồng chín tháng ba Ất dậu Thủ lĩnh Tướng công lặng lẽ rời Bản doanh, về đình làng Hội, đích thân làm lễ tế Tổ vua Hùng. Ngài chỉ đem theo văn thân Nguyễn Hội, chánh Sơn phòng hành dinh Vương Văn Doãn, và nàng Mỹ Cẩm hầu lễ.

Đề đốc Hoàng Văn Thúy không thể ngờ dân chi điền vùng Tiên Động, Hoàng Lương lại hướng về Chủ tướng Thủ lĩnh đến thế. Làm chánh tổng bao nhiêu năm gắn bó với đất và người làng quê trung du mà chưa khi nào dân chúng lại sôi động, lại gần gũi và thân thiện như từ ngày Tướng công về đây công khai chiêu mộ. Nếu không có sự hiển linh của quý nhân, thì hẳn là, ở Ngài phải có hút lực nào đấy! Lực hút vô hình kia ngoài cái tâm, cái chí, cái tài nữa, có thể còn có cái thiêng mà không mấy ai dám nói ra một cách rành mạch. Ngồi một mình với chén trà ướp nụ hoa nhài, Đề Kiều gật gù cắt nghĩa.

– Khê Ông, Khê Ông văn hầu! Mời ngài ghé lán dùng trà.

– A ha, Đề đốc võ Hoàng. Văn thân Nguyễn Hội kêu lên.

– Mời ngài. Trà nhài ướp tươi uống nóng chỉ Phú Thọ tôi mới có.

– Vâng. Vâng! Xin ngài Đề đốc.

Nhấp chén sành trà miền quê trung du, Khê Ông Nguyễn Hội thấy thân tình, ấm áp mặc cho ngày đông lạnh giá. Khê Ông thảnh thơi tự bạch.

– Tướng công lạ lắm. Đặt tách trà xuống mặt bàn tre, văn thân Khê Ông Nguyễn Hội gật gật nhẹ.

– Văn hầu có ý nói đến sự tinh anh của Tướng công?

– Vâng, đúng, đúng thế. Đình Hội là nơi thờ Vua Hùng thứ 18, ngài biết rõ rồi! Thủ nhang mời. Hành lễ xong, Tướng công cúi lạy ba lạy, bát nhang tự bùng cháy một vầng sáng cầu vồng. Ấy là điều linh, Tổ tiên chả những đã chấp nhận xá tội thành Hưng Hóa, mà còn giục Ngài cầm gươm lên ngựa cứu nguy giang sơn.

Nguyễn Hội lại gật gù trầm ngâm. Hoàng Văn Thúy đặt chén trà chắp hai bàn tay vào nhau.

– Tôi đây chưa bao giờ gặp điều này ở đình làng. Linh nghiệm, linh nghiệm!

– Chưa hết, chưa hết đâu ngài Đề đốc! Tôi dám chắc Hồng phúc trời Nam sẽ xuất hiện nay mai mà Tiên Sơn đây chỉ là một trong bẩy sắc cầu vồng! Tán tương Khê Ông hào hứng nói.

Đề đốc Kiều reo to.

– Hay, hay! Thật là hay. Xin chúc phúc ngài Văn thân Nguyễn hầu.

– Cám ơn, cám ơn ngài Phó tướng Đề đốc.

Văn thân Nguyễn Hội chắp tay cáo lui thì cũng vừa lúc Lãnh binh chỉ huy cửa tiền bước đến.

– Đề đốc phó tướng.

Đề Kiều cười cười :

– Thì cứ ngồi xuống đây làm chén trà quê đã chứ.

– Vâng vâng. Xin lộc Đề đốc! Lãnh Hoan vui vẻ đáp, rồi nói: – Sau ngày Tướng công làm lễ tế Tổ, dân các làng hân hoan đến nhập quân. Các tướng thu nạp cả.

– Rồi sao nữa? Đề Kiều nghiêm trang hỏi.

Lãnh Hoan:

– Đồn trưởng cửa bộ Hoàng Đình Cương, đồn cửa sông Lê Đình Dật, đồn canh phòng Hạ Hòa, rồi Tổng Khảm, Tán Áo chỉ huy cửa Cẩm Khê, đang lập các đội dân binh, hỗ trợ quân chính quy của Tướng công. Ai ai cũng tự nguyện, cũng hào hứng.

– Các tướng chỉ huy quân chính quy, sắp xếp ra sao ngài lãnh Hoan?

– Tôi mới được rõ, ở xóm Chầm Vần có đội dân binh do Nguyễn Du Hè chỉ huy, xóm Đốc Đông có Nguyễn Văn Vượng, Mỹ Lương có Nguyễn Văn Ngọ, làng Hoàng Lương có Nguyễn Văn Bối…

– Chà chà! Dân binh Cẩm Khê ta, chỗ dựa vững chãi cho Bản doanh Tướng công ở Tiên Động! Đề Kiều buột miệng. Rồi ngài vỗ nhẹ vai Lãnh Hoan:

– Võ tướng Quang Hoan, tôi sẽ cho lập các Đội dân binh ở khắp vùng Chiến khu Rừng Già, nhiệm vụ của dân binh là tự giữ làng, bảo vệ khu cứ, đánh hỗ trợ chính quy khi cần thiết, và lo thực túc. Trước mắt tướng quân phụ trách mặt trận dân binh này. Ngài nghĩ sao?

– Thưa Phó tướng Đề đốc. Tôi sẵn sàng nhận lệnh của Ban doanh.

– Hay lắm. Võ tướng cho rà soát và lập Đội các làng ngay trong nửa tháng. Nửa tháng! Được chứ?

– Vâng. Thưa Đề đốc!

Nguyễn Quang Hoan đứng dậy, cúi nhẹ nhận nhiệm vụ rồi bước ra khỏi lán dinh phó tướng Đề đốc Kiều.

Trời đang là mùa xuân mà như ngày đông. Rừng đồi trung du Phú Thọ cây cối xanh đặc, sương mù lúc phủ xuống ướt đẫm cành lá nhưng mặt đất vẫn hanh khô, thỉnh thoảng cơn gió mùa lành lạnh thoáng qua vừa đủ cho người người đi lại, vừa đủ cho chim chóc ríu ran, thật là cảnh bình yên trong chiến tranh âm ỷ.

Ma Văn Vân và Đặng Huy Tá được phó tướng Nguyễn Văn Giáp giao nhiệm vụ thám sát quân Pháp ở Hưng Hóa, sau ba ngày trở về bản doanh. Bố Chánh cho mời Đề đốc Kiều, lãnh Hoan, Vương Văn Doãn đến cùng nghe tình hình.

Ma Văn Vân:

– Đêm, chúng tôi đã vào sát cửa thành, thấy người Pháp đưa Sơn pháo ở đâu về đặt giữa sân, có đến bốn năm khẩu. Chòi canh có hai lính “người ta”, soi đèn chiếu sáng từng đợt từng đợt.

Đặng Huy Tá:

– Hai chúng tôi đóng giả thường dân vào làng hỏi han, dân chúng nói, từ ngày ngài Tuần phủ rút lên miền ngược, người Tây mở rộng bến bãi ven sông, chiến thuyền đậu về đây nhiều lắm. Cờ ba vạch của Pháp cắm cao. Quân lính người Pháp canh gác, đi lại, lúc lúc lại bắn cầm canh.

– Thế có dấu hiệu gì là bọn chúng có thể động binh không? Nguyễn Văn Giáp chợt hỏi.

Ma Văn Vân:

– Thưa ngài Bố chánh. Hai chúng tôi quả quyết, người Pháp chiếm thành Hưng Hóa, họ đang gấp rút củng cố, sớm muộn cũng sẽ ra tay.

– Dân ven thành nói sao nữa? Đề Kiều hỏi.

– Thưa ngài. Họ bị bắt đi làm phu khuân vác hàng hóa ở bến cảng sông, ở bãi ô tô, rồi đi mở đường, chặt gỗ. Nhiều trai làng đã vào lính cho Pháp để có tiền có muối. Huy Tá nói.

Phó tướng Nguyễn Văn Giáp đứng dậy đi đi lại lại trên nền dinh Quan Đại.

– Nghe vậy, có thể khẳng định rằng người Pháp đang tập trung vũ khí, mở đường, tuyển lính người Việt, chuẩn bị đánh tập kích ta. Tôi giao cho ngài Lãnh Vân việc tổ chức nhóm thám sát đặc biệt, vừa nắm tình hình quân Pháp, vừa lôi kéo quân binh người Việt. Nếu cần thiết thì tìm cách bắt cóc lính đồn để tra hỏi lấy tin tức.

Lãnh Vân, Đặng Huy Tá lui khỏi lán dinh

Từ nguồn tin có được, Bố chánh Nguyễn Văn Giáp và Đề đốc Hoàng Văn Thúy lên tư dinh Thủ lĩnh trình kiến. Nguyễn Quang Bích đưa tay vuốt nhẹ chòm râu đen, bình thản:

– Ta đồng ý với đề xuất của hai tướng quân. Ngày giờ khởi sự được định trong tháng này năm Ất Dậu.

Hai tướng cúi mình nhận trọng việc rồi cáo lui.

Ngày hôm sau, Chánh Sơn phòng trình lên Tướng công bản Lễ tiết tuyên ngôn khởi nghĩa do đích thân Bố chánh vạch thảo.

Đệ trình Tướng công bản lễ tiết, nhưng Bố chánh phó tướng vẫn không khỏi băn khoăn. Nếu chỉ là một nghi lễ thì khó khăn gì, xa gần rồi cũng sẽ biết, tướng lĩnh, quân binh hả lòng, dân binh dân vệ ngóng đợi. Nhưng tiếng vang ấy cũng chỉ như nằm mơ mà thôi, nó thoáng qua nhanh chóng, nó rơi rụng dần ý chí quân tướng nhất là trong lúc khởi đầu này. Còn nếu như đánh một trận vào quân Pháp, thì đánh vào đâu, sự chuẩn bị chưa kịp sẽ dẫn đến thất bại. Mà nếu lui thời gian thì Tướng công đã chỉ lệnh trong năm Ất Dậu, với lại, nếu tin tức lộ ra ngoài, quân Pháp ở Hưng Hóa sẽ ra tay phá trước…

Bố chánh phó tướng ngồi thu lu, hai chân vắt chéo nhau, hai tay ôm chặt đầu gối. Đang lúc đầu óc rối bời thì nàng Mỹ Cẩm bước vào.

– Con chào Tướng quân. Có bắp ngô non, thầy con bảo đưa lên mời Tướng quân.

Bố chánh :

– Thế à. Thầy con cho, ta nhận ngay đây!

Mỹ Cẩm đặt đĩa ngô luộc thơm phức, cúi mình xin lui.

– Này con. Ta muốn trò chuyện một chút, được chứ?

– Dạ. Thưa Tướng quân!

Mỹ Cẩm e dè bước đến gần ngồi xuống góc ghế. Từ ngày trở lại hành dinh, nàng được Sơn phòng giao việc hầu cận Tướng công, có lúc phụ hầu các phó tướng Bố chánh, Đề Kiều, nên quan hệ giữa nàng với các Thủ lĩnh là quan hệ cận hầu, quan hệ cha con gần gũi trong khoảng cách.

– Con đã cập kê, vì việc nước mà dãn tình riêng, ta rất trọng. Nay Tướng công chuẩn bị cho đại sự, cần đến con; chỉ có con là cận hầu mới có thể đảm đương được việc.

– Dạ, thưa Tướng quân. Việc gì con cũng xin nhận ạ. Mỹ Cẩm rắn rỏi đáp.

– Thế thì tốt rồi. Cụ thể thế nào Lãnh Vân sẽ gặp con.

– Thưa vâng!

Nàng Mỹ Cẩm đứng lên rời lán dinh, lòng lâng lâng. Cả bản doanh duy nhất, có Mỹ Cẩm là gái. Dù là chiến khu, là chuyện binh đao rừng dú chỉ phù hợp với nam giới, nhưng có những công việc, phần việc không thể thiếu bàn tay, tiếng nói nữ nhi. Có lẽ vì thế mà tướng quân Bố chánh trực tiếp gặp, trực tiếp dò hỏi, hẳn Ngài tin tưởng lắm. Mừng cho mình, mừng cho thân phụ đầu bếp Nguyễn Văn Lò được Tướng công, Tướng quân luôn nghĩ đến. Nhớ ngày Thủ lĩnh Tướng công về tạm trú ở Tứ Mỹ, được thân phụ giao việc chăm sóc sức  khỏe cho Ngài, rồi tướng quân Đề Kiều gợi ý cả hai cha con theo Người lên Sơn phòng, nghĩ đến đồng đất quê cha Tứ Mỹ và quê mẹ Cẩm Khê mình mới có cái tên đẹp “Mỹ Cẩm” nên nàng Mỹ Cẩm không do dự dù đang dở dang chuyện tình duyên. Giờ thì mẹ không còn, ông bà nội ngoại đã có chú dì cậu mợ trông nom, chồng chưa cưới không chịu nhập quân binh. Mỹ Cẩm thấy phải luôn ở bên cha Nguyễn Văn Lò để cha con cùng phò trợ việc đại sự nơi Bản doanh Sơn phòng.

Càng nghĩ nàng Mỹ Cẩm càng thấy lâng lâng, khấp khởi…

Hôm sau, rồi hôm sau nữa, lãnh Hoan, lãnh Vân nắm chặt tay hai chú cháu Đặng Huy Tá, Nguyễn Mỹ Cẩm, chúc họ “lên đường” thật may mắn và hoàn thành công vụ trở về.

*

Bản doanh Sơn phòng hôm nay lại đón tiếp hai quân binh từ đất Thanh Hóa tìm đến. Cận vệ hỏi họ tên, quân binh chỉ trả lời “người xứ Thanh” về ra mắt Thủ lĩnh Tiên Động. Nghe nói người từ xứ Thanh, phó tướng Nguyễn Văn Giáp cùng chánh Sơn phòng Vương Văn Doãn thân chinh xuống nhà cận vệ gặp gỡ.

Một người to cao sức lực, tự xưng là Tống Duy Tân, tiến sỹ chánh sứ Sơn phòng Thanh Hóa, bất mãn vì Triều đình ký hòa ước với Pháp mà từ về ẩn. Được tin Tuần phủ Nguyễn Quang Bích dựng cờ kháng Pháp ở Tiên Động mà lặn lội tìm đến.

Một người nhỏ nhắn những khỏe mạnh, giọng nói đặc âm tiếng dân tộc, tự xưng là Hà Văn Mao, từng làm trợ tá cho chánh Sơn phòng Tống Duy Tân, nay tự nguyện theo chân quan đốc học Tống Duy Tân, về với Sơn Động.

Mới nghe xưng danh và thái độ lời lẽ lịch thiệp của hai “quân binh” Bố chánh Phó tướng đã ôm chầm lấy Tống Duy Tân, rồi ôm lấy Hà Văn Mao mà lắc lắc. Vương Văn Doãn phó Đề đốc hành dinh cũng khẽ cúi đầu cảm tạ rồi nắm chặt tay khách xa.

– Mời, mời hai quan Sơn phòng xứ Thanh vào dinh lán Sơn Động.

Nghe Vương Văn Doãn giới thiệu Bố chánh Nguyễn Văn Giáp, phó tướng thứ nhất của cụ Hoàng giáp Tuần phủ, giờ đây là Thủ lĩnh Tướng công Nguyễn Quang Bích. Tiến sỹ Tống Duy Tân cả mừng ôm lấy phó tướng Bố Chánh mà nói.

– Thầy trò tôi gặp được đây rồi! Thầy trò tôi gặp may rồi, Tướng quân!

Quả thật Bố chánh chưa giáp mặt Tống Duy Tân. Ngày ở Hưng Hóa có nghe chuyện Chánh Sơn phòng Thanh Hóa phản đối hàng ước của Triều đình mà khăng khăng từ bỏ quan trường Thủ phủ vùng Thanh Nghệ Hà, chỉ đem theo bao kiếm về quê. Chuyện ấy đến tai Tuần phủ Hưng Hóa, cụ Hoàng nói với Bố chánh: “- Một võ tướng lòng thành, khảng khái”. Ngày Tướng quâng Đinh Công Tráng từ Thanh ra Bắc, tìm đến Thủ lĩnh xin yết kiến, Ngài đã hỏi Tráng            “- Tướng quân có biết đến Tống Duy Tân không?” Tráng nói. “- Tiểu tướng có biết nhưng không phục!”. “- Vì sao?”. Minh chủ cười, không dò thêm.

Phó tướng đứng dậy, đưa hai tay đỡ Tống Duy Tân

– Thay lời Minh chủ, xin mời hai Tướng quân về dinh Tụ Nghĩa an tọa chờ ngày yết kiến Thủ lĩnh Tướng công.

Tiến sỹ họ Tống và quân binh họ Hà được Vương Văn Doãn đưa chân đến tận lán dinh.

Nắng ngả sang chiều.

Đề đốc Hoàng Văn Thúy lật giở từng tờ giấy gió mềm mại, vàng thâm. Những dòng chữ mục tím hằn lên rõ nét. Tướng quân mỉm cười một mình “- Các làng địa hào cũ, vẫn còn nghe ta!”

Có tiếng bước chân. Đề Kiều ngước ra cửa.

– A, lãnh Hoan. Vào đây vào đây!

Nguyễn Quang Hoan ngồi luôn xuống tấm chõng tre bên Đề đốc.

– Hay lắm, hay lắm. Như vậy là có đến bốn mươi làng của Cẩm Khê, Hạ Hòa, Tam Nông, Thanh Sơn lập được đội dân vệ. Đề Kiều nói.

– Vâng! Nhưng chưa được luyện tập gì, chưa được trang bị cả những hiểu biết lẫn khí giới. Lãnh Hoan tỏ ý băn khoăn.

– Đúng đúng. Phải đi từng bước một. Thế này nhé…

Đề Kiều đứng dậy, lấy hòn than củi viết nghệch ngoạc ra tấm ván giường ngủ.

Võ tướng Nguyễn Quang Hoan từng là thủ khoa võ triều Nguyễn nên hiểu ngay ý của phó tướng Đề đốc:

– Trong các đội dân vệ làng, chọn một số người đủ điều kiện, lập ra đội dân binh liên làng. Dân binh làm nòng cốt cho các đội dân vệ. Bản doanh sẽ tập dượt cho dân binh, dân binh tập lại cho dân vệ. Bình Tây, phục quốc là mục đích cao cả nhất, danh dự nhất của mỗi người. Thế còn khí giới: cây, gậy, gươm, giáo có sẵn, đi đến súng kíp, súng săn, tên cung tên nỏ mà đánh quân giặc!

Thủ khoa Hoan vỗ nhẹ hai bàn tay. Đề đốc Kiều cười tán thưởng.

– Còn việc này nữa. Đề Kiều bất ngờ nghiêm giọng.

–  Vâng. Xin Phó tướng Đề đốc giao lệnh. Lãnh Hoan đứng nghiêm nghị.

Tướng quân Rừng Già đi đi lại lại, rồi lên tiếng:

– Ta giao cho Đốc Ngữ, đồn trưởng cửa Khả Cửu Thanh Sơn làm tổng chỉ huy mặt trận dân binh và dân vệ, Nguyễn Đình Ngữ có tài vận động đồng bào dân tộc. Quang Hoan đặc trách cảnh vệ và mặt trận cửa tiền. Chiến khu Tiên Sơn đã rộng lớn mà đại bản thì phải tuyệt đối an toàn.

– Vâng, Thưa Phó tướng Đề đốc. Ý ngài như vậy thật phải lắm. Tôi sẽ hoàn thành trọng trách Bộ tướng giao cho.

– Tốt lắm. Chúc Lãnh Hoan, mưu lược, đánh đâu thắng đấy.

Hai vị tướng quân nắm tay rời dinh Đề đốc.

Sau khi chiếm được thành Hưng Hóa. Tướng Brielen cho dựng ngay một đồn trại phía đầu nguồn sông Thao cách Thủ phủ khoảng hai ba cây số, gọi là Đồn Cửa sông. Đồn Cửa sông chỉ khoảng một Trung đội hầu hết là dân bản xứ với những vũ khí thô sơ như hỏa mai, mút ca tông, chia hai khu: chỉ huy, và doanh trại, nhà lá vách đất, xếp thành dẫy trên diện tích mấy nghìn mét vuông. Mục đích của Brielen là đề phòng nếu có quân Triều đình phản loạn ở phía mạn nguồn thì quân đồn sẽ là đám hứng đạn đầu tiên, cũng là để lính Thủ phủ kịp đánh dẹp.

Gần trưa có hai bố con lão nông gánh thúng hàng quà đi rao, ghé vào cổng Đồn trại. Trong thúng có đủ ngô luộc, khoai lang luộc, chuối sài gòong vàng ươm, rồi đu đủ chín, cam quýt bưởi ngày xuân. Người cha gánh, người con vừa bán vừa rao. Hai cha con bán hàng rong đóng giả khéo đến nỗi có mấy bà dân Tứ Mỹ đi chợ về không một ai nhận ra nàng Mỹ Cẩm, và người cha gánh hàng là cai bộc Đặng Huy Tá.

Nghe giọng con gái vừa dịu vừa ngọt, đám lính thú chạy ùa ra khỏi cổng, kẻ hỏi giá, đứa tán tỉnh cô hàng.

– Anh muốn mua quả “bưởi” kia. Một lính thú cợt nhả.

– Dạ đây ạ, quả này đẹp và ngon ạ. Mỹ Cẩm ôm quả bưởi vàng ươm vỏ xốp trên tay đưa cho tên lính. Anh ta dùng dắng.

– Không, bưởi kia cơ!

– Đâu, quả nào anh?

– Đây, đây này! Tên lính chỉ trỏ không rõ hướng. Nàng Mỹ Cẩm hiểu ý nhưng cố giả bộ chẳng hay rõ.

– Quả này đẹp rồi, ngọt ngọt, thơm thơm mà anh.

– Không tròn bằng hai quả kia, hai  qủa kia kìa. Một lính thú với tay chạm vào ngực “con gái” bán hàng rong Mỹ Cẩm.

Cô gái khẽ lấy tay đẩy nhẹ bàn tay to bè. Đám lính cười hô hố. Nàng Mỹ Cẩm: “- Mặc chúng nó!”.

Trong khi bọn lính túm đến gánh hàng, ông “bố” Đặng Huy Tá đã kéo một lính thú trông có vẻ mặt hiền lành ra phía ngoài.

– Chú hút với anh điếu thuốc lá cuốn vậy.

– Vâng, con xin!

– Quê chú ở đâu, đi lính thú lâu chưa?

– Con ở Tiền Hải, nhà nghèo lắm, đi lính lấy mấy đồng nuôi bố mẹ già.

– Thế à, chú cũng quê Thái Bình đây. Ta nhận nhau làm chú cháu nhé. Tên chú là Trần, con gái kia là Như. Bố con gánh rong kiếm đồng ra đồng vào nuôi nhau.

– Vâng. Vâng ạ! Còn tên cháu là Tiến. Em Như đến đây cứ hỏi tên cháu là lính cổng cho gặp thôi ạ.

– Như ơi, bán xong chưa, đi thôi con! “Bố Trần” gọi to.

Đám lính mua thì ít mà tán thì nhiều. Nghe “bố” gọi, Mỹ Cẩm hiểu ý cười nói.

– Thôi, các anh chỉ đòi mua “bưởi”, em đi đây!

– Ấy ấy…

– Em đi đây! Mỹ Cẩm nhấc gánh hàng bước lại chỗ “bố”

Cai Bộc Đặng Huy Tá giao giá với Tiến.

– Em Như đây, sẽ thường đi lại với nhà đồn. Em cần gì chú Tiến giúp đỡ.

Nhìn Mỹ Cẩm, dáng hình khỏe mạnh, khuôn mặt tròn xinh, môi đỏ, má lúm, lúc nào cũng như cười cười. Lính thú có tên là Tiến chỉ biết gật đầu            “- Vâng, vâng ạ”.

Cai Bộc cầm một tai chuối đẹp đưa cho Tiến.

– Cái này, chú gửi biếu anh em gọi là tình cảm với nhà đồn.

Người lính đỡ nải chuối. Mỹ Cẩm thừa cơ.

– Ngày mai bố bận, chỉ có em qua đây, chúng mình nói chuyện riêng anh Tiến nhé?

– Thế thì vui lắm, anh sẽ mời vào nhà trại. Tiến liếc nhìn cô gái hàng rong, bắt gặp đuôi mắt, nửa như hoa cau, nửa như ánh lửa của nàng Mỹ Cẩm.

Thật ngẫu nhiên, chú cháu cai Bộc Đặng Huy Tá làm quen được với Tiến, phó trưởng doanh trại đồn Cửa sông.

Ngày hôm sau. Một mình Mỹ Cẩm gánh hàng đến cổng trại

Ngày hôm sau nữa, lại một mình nàng Mỹ Cẩm. Và lần này, phó trưởng trại Bùi Quang Tiến đưa cho Mỹ Cẩm một mảnh giấy nhỏ, lại dặn: “- Giờ khởi sự, anh sẽ bơi thuyền sang sông rồi tìm về Tiên Động”.

Bố chánh Phó tướng Nguyễn Văn Giáp, lãnh binh Nguyễn Quang Hoan, và cai Bộc Đặng Huy Tá, chụm đầu bàn bạc về những đường vẽ, những ký hiệu trên mảnh giấy mà Mỹ Cẩm chuyển giao lại. Không còn ý nào trái ngược nữa, Phó tướng chính thức chuẩn chỉ phương án đánh đồn Cửa sông và giao sự chỉ huy này cho võ tướng Nguyễn Quang Hoan. Trong lúc khẩn trương chuẩn bị, cách ngày “Như” lại quảy hàng rong vào sân dẫy nhà lá trại lính thú.

Truyền lệnh Tướng công Thủ lĩnh! Phó tướng Nguyễn Văn Giáp dõng dạc lên tiếng.

– Lệnh truyền của Tướng công Thủ lĩnh sắp đến giờ khởi sự! Chánh Sơn phòng Tiên Động thừa lệnh nâng ống loa quay về bốn phía, nói lớn.

Lập tức cả chòm đồi Quan Đại gần như xao động. Cột cờ làm bằng cây tre bương cao chín mét, to và thẳng như thân cau, mấu mắt lờm xờm, cảm giác gai góc, rắn đanh. Các tướng lĩnh thân hào, hạng nghĩa binh bản sỹ, có cả đội trưởng dân binh, quân binh làng xã, theo lời hô của Chánh Sơn phòng mà bước vào hàng lối, ngay ngắn, trang nghiêm.

Chín giờ. Phó Đề đốc hành dinh Vương Văn Doãn thân chinh bước tới cửa dinh Bộ tướng đón Tướng công Thủ lĩnh Nguyễn Quang Bích, đưa Ngài đến bên cột cờ. Bước sau Ngài là Phó tướng Bố chánh Nguyễn Văn Giáp, phó Đề đốc Hoàng Văn Thúy, Khê Ông Nguyễn Hội, các thân sỹ từ nơi xa tìm về Tiên Động: Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, Nguyễn Thiện Thuật, Vũ Hữu Lợi, Hà Văn Mao, Nguyễn Đình Ngữ, Nguyễn Tử Ngôn, Hoàng Đình Cương…

Nàng Mỹ Cẩm bước lại, cúi mình dâng lên Thủ lĩnh Tướng công bao kiếm đầu rồng. Trong bộ triều phục uy nghiêm, Tướng công nắm chặt đốc kiếm, dõng dạc Tuyên ngôn:

“- Nay ta vâng mệnh Hùng Vương Tiên tổ, dựng cờ khởi nghĩa, Bình Tây, báo Quốc; cầu gọi muôn dân đồng lòng đánh giặc…” Lời Tướng công sang sảng vang vọng rừng núi Tiên Sơn. Tấm đại kỳ dài hơn hai trượng, đỏ rực khuôn vuông giữa những giải ngũ sắc được Khê Ông văn thân Nguyễn Hội cầm chín nén hương trầm nghi ngút khói đưa vòng đưa lại ba lượt. Đoạn, võ tướng Nguyễn Quang Hoan từ từ kéo rút đại kỳ lên ngọn cột. Đại kỳ gặp gió Rừng Già bay phần phật. Khê Ông lui lại hạ mình quỳ gối lạy ba lạy. Thủ lĩnh Tướng công và các tướng quân cùng chắp tay cúi đầu vái vọng Hồn Quốc, Linh thần. Trời đang sáng bỗng nhiên chuyển nhiệt, tối sầm. Một tiếng sét chói tai dội xuống đâu đấy sau làn chớp lòe. Thật lạ, cơn mưa lớn nghe rào rào phía bờ sông Thao mà không về đến khu hành dinh Tiên Động. Ngày hôm đó, đêm hôm đó của năm Ất Dậu. Chiến khu không ngủ.

Cuối xuân, tiết trời lúc se lạnh, khi có độ nóng, các cụ nói thời tiết chuyển mùa con người khó chịu. Đúng thật. Đặng Huy Tá như cố quên đi cái đau đầu sổ mũi mà làng quê vẫn gọi là cảm cúm để đưa nhóm quân binh của lãnh Hoan tập kích đồn Cửa sông Thao phía tây thành Hưng Hóa chỉ vài chục dặm.

Ngay sau ngày Thủ lĩnh Tuyên ngôn khởi nghĩa, nàng Mỹ Cẩm được lệnh đến bán hàng dong tại trại lính Cửa sông với một nhiệm vụ đầy căng thẳng, thách thức.

– Này em gái xinh đẹp, Em vẫn chưa cho anh “bóc bưởi”, anh giận đấy.

Bọn linh thú đứa tán tỉnh, đứa vào hùa. Mỹ Cẩm thoáng nghĩ, rồi cởi hai cúc bấm áo ngực, lấy chiếc nón lá vừa quạt, vừa tươi cười.

– Em cho các anh, bưởi bóc trắng rồi đây này!

Đám lính xô nhau.

– Vào đi, vào đi!

– Mà khoan đã. Mỹ Cẩm nghiêm trang nói to. Sắp đến ngày phủ Hưng Hóa thất thủ, em làm quà nhà đồn cả gánh hàng này đấy.

Phó trại Bùi Quang Tiến nói to

– Cô nàng biếu, thì ta nhận anh em ơi.

Dứt lời, Tiến nhấc cả gánh hàng quà chuyển cho tên lính đứng bên. Cả đám vỗ tay rào rào chạy theo gánh rong vào sân trong. Vẫn là tên lính tán tỉnh lúc nãy nhanh tay ôm hai má Mỹ Cẩm hôn đánh “chụt”: “- Các anh xin em gái xinh đẹp nhé!”, rồi chạy vụt đi. Mỹ Cẩm liếc anh ta, cười tình.

Chỉ còn lại Cẩm và Tiến.

– Đêm nay, khởi sự. Anh hẹn giờ nào?

– Giờ nào cũng được. Tốt nhất là nửa đêm. Khi phát hỏa, nhóm anh sẽ bơi thuyền sang sông, vừa để thoát, vừa đánh lạc hướng bọn lính.

– Liệu có an toàn cho anh không.

– Em đừng lo, bọn anh đã quen với sông nước rồi.

– Vâng. Em về đây. Em sẽ đón anh ở Tiên Động anh Tiến nhé.

Nàng Mỹ Cẩm đặt hai bàn tay con gái vào giữa lòng tay chai sạn của người lính thú.

– Anh mong khởi sự thành công. Thôi, em về đi. Mỹ Cẩm: “- Vâng”, rồi rời nhanh khỏi khu trại.

Theo kế hoạch, tốp binh sỹ nghĩa quân do Nguyễn Quang Hoan chỉ huy sẽ phải mật phục trên gò rừng lúc mặt trời lặn để có thể nhìn rõ lối vào. Phó tướng Bố Giáp chỉ cho đánh vào trại lính, nhằm gây tiếng vang, chưa đủ sức tập kích đồn cửa sông. Lãnh Hoan thấy có cơ hội nên chia làm hai nhóm, cai Bộc đốt trại lính, lãnh Hoan ném bùi nhùi lửa vào vọng gác cổng đồn chính, hoặc nhà cảng ven sông. Đặng Huy Tá can ngăn, Lãnh Hoan mới bỏ ý định gây náo loạn đồn Cửa.

Bây giờ thì lãnh Hoan, cai Bộc và binh Luật đã nằm sát khu lán trại. Ba dãy nhà dài chủ yếu là tre gỗ, lợp cọ nằm nối nhau, xung quanh rào nứa xen. Gọi là cổng gác nhưng chỉ có hai tên lính ngồi co ro đánh bài, chiếc đèn bão to tướng treo ngoài vọng gác chỉ đủ hắt sáng lờ mờ xuống cổng trại.

Nửa đêm. Tĩnh mịch. Trăng cuối tuần nhàn nhạt. Cai Bộc sốt sắng không rõ Bùi Quang Tiến đang ở đâu, ngoài anh ta còn có ai đảo ngũ. Nếu khởi sự bằng cách đốt trại, liệu nhóm Tiến có xuống sông kịp không? Còn nếu nhóm Tiến đốt trại theo kế hoạch gây hỏa hoạn rồi la hét báo động thì anh ta an toàn hơn nhưng lại không phải do nghĩa binh tập kích, không gây được thanh thế.

Lãnh Hoan vỗ vai cai Bộc:

– Thế này, tôi và Luật sẽ khống chế hai lính gác, cướp súng, bắn thẳng nhà trại; còn Tá, Tá xông vào đốt trại, cướp súng bắn lại, rồi rút nhanh lên đồi Cây De, không để lính nhà đồn kịp báo động.

– Lính Tiến thì sao? Cai Bộc hỏi.

– Hiệu lệnh nổ ra, Tiến sẽ tự biết giải quyết tình huống theo cách của anh ta.

– Đồng ý! Tá, Luật cùng lên tiếng.

– Bắt đầu!

Phạm văn Luật mới hai mươi tuổi, to khỏe, trèo cây giỏi. Luật cầm con dao nhọn dài mấy gang tay leo thoăn thoắt lên chòi gác. Lãnh Hoan bám theo.

– Hai thằng mày, cúi mặt xuống, đưa tay ra sau lưng!

Luật quát. Hai tên gác dựng súng đánh bài, giật nảy mình nằm vật xuống. Lãnh Hoan, binh Luật thu hết súng đạn, bắt hai tên cởi hết quần áo quăng xuống đất. Lãnh Hoan dằn giọng:

– Chúng tao không phải là kẻ cướp ngày đâu, mà là nghĩa binh Tiên Động, Bình Tây phục quốc. Cho chúng mày về quê mà làm ăn, đừng bao giờ đi lính cho giặc Pháp nữa. Nhớ lấy!

Hai tên lính gác vâng dạ rối rít.

Dưới nhà trại, một đốm lửa xuất hiện. Rồi cả tảng lửa bùng lên mái nhà. Đám lính choàng tỉnh chạy túa ra sân. Một tiếng nổ vang ở dãy nhà cuối. Chắc không phải cai Bộc, có thể Tiến đã giật mìn. Lãnh Hoan thoáng nghĩ rồi ra lệnh rút lui, súng giặc đã nổ loạn xạ. Đạn bay chiu chiu, bông lửa đỏ lòe. Nhóm lãnh Hoan đã gặp nhau ven đồi Cây De, thu được bốn khẩu hỏa mai, mút ca tông, và mấy túi đạn. Nhà trại đồn Cửa sông bốc cháy ngùn ngụt. Nhà đồn chỉ huy ra lệnh hú còi phong tỏa.

Ngày hôm sau Tướng Beri e len chỉ huy thủ phủ Hưng Hóa nhận được bản báo của viên trưởng đồn cửa sông: “Đêm qua, khoảng canh hai, mấy nghĩa binh Triều đình ở Tiên Sơn đột kích đốt cháy cả dãy nhà trại, lấy đi bốn khẩu súng, dăm túi đạn. Hai lính thú gác chòi bị bắt trói, ba lính thú nhà trại đốt thuốc nổ làm sập mái kho lương khảo rồi bỏ trốn bằng thuyền theo đường sông Thao. An ninh Hưng Hóa đã bắt đầu tệ hại!”.

HÀ LÂM KỲ

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *