Thủ lĩnh Rừng Già – Tiểu thuyết của Hà Lâm Kỳ – Kỳ 4

Vanvn- Vương Văn Doãn nhận được mẩu giấy của mật binh nằm vùng thành phủ Trấn Yên Đặng Lanh chuyển đến từ người nhà hào lý Trần Đình lên Đại Lịch “ăn giỗ”. Mẩu giấy viết: “Đoàn đi đón dâu có đến trăm người, đem theo nhiều gánh nặng, do ông quan lai Tây làm trưởng đoàn”. Cuối thư lại dặn: đốt thật nhiều pháo để cả làng ùa ra…

Nhà văn Hà Lâm Kỳ ở Yên Bái

 

 

>> Cảm hứng lịch sử trong “Thủ lĩnh Rừng Già”

>> Thủ lĩnh Rừng Già – Kỳ 1

>> Thủ lĩnh Rừng Già – Kỳ 2

>> Thủ lĩnh Rừng Già – Kỳ 3

 

 

Chương V. Mường Lò.

 

Được một tráng niên người Thổ ở địa phương tên là Hoàng Thương Thân dẫn đường, Hiệp thống và Bộ tướng từ Yên Lập lên Thu Cúc rồi dừng chân tại Ba Khe, còn gọi là làng Khe Dịa.

– Từ đây, có đường đi đến những đâu? Chánh Sơn phòng Vương Văn Doãn hỏi.

Thương Thân chậm rãi nói:

– Sau lưng, sẽ sang châu Phù Yên của đất Sơn La, tay trái thì vào Mường Lò, tay phải ra Đại Lịch, Vân Hội. Còn nếu đi thẳng thì đến Mường Hồng, rồi ra Bến Lâu thuộc phủ Trấn Yên.

Đề Kiều quay lại phó Đề đốc.

– Ta lập trại ở đây để Thủ lĩnh Tướng công phát triển lực lượng; với lại quân Pháp cũng chưa đủ sức đánh lên thành phủ Trấn Yên, mà dấu vết Yên Lập đã được Chánh quản cơ Hoàng Văn Hội lo liệu. Cần tranh thủ vùng dân tộc thiểu số này.

Vương Văn Doãn, Thủ túc Trần Ngọc Dư, võ tướng Nguyễn Quang Hoan đều đồng tình, cho là phải.

Trại binh Bộ tướng Cần Vương Tây Bắc của Hiệp thống Quân vụ được thực thi ngay trong đêm ngày rằm. Trăng như sáng cả cánh rừng Mường Mẻng.

– Ta đã rời chiến khu Tiên Sơn được bao lâu rồi nhỉ. Quan Hiệp thống Đại thần bất ngờ hỏi.

Thủ túc Trần Ngọc Dư đặt trên lòng bàn tay chiếc la bàn mà võ tướng Quang Hoan thu được của người Pháp trong trận Thao Đà.

– Thưa Thủ lĩnh Tướng công. Từ trước ngày rằm, đến hôm nay, ngày rằm, là một tháng ba ngày ạ.

– Một tháng, ba ngày; là ba mươi ba ngày. Con số lẻ này nghĩa là thế nào?

Thủ túc quan văn:

– Thưa ngài, con số ba, ứng với cả phương Đông và phương Tây. Tây, Đông đều ưa chuộng. Nay dầu có đối mặt, đối đầu thì rồi cũng sẽ đến lúc nắm tay cùng đi.

Hiệp thống:

– Ta là người Nam. Tổ tiên đánh giặc thế nào, hành xử thế nào, con cháu theo đấy mà hành đạo cho phải.

Bộ tướng nắm hai bàn tay.

– Tuân chỉ quan Đại thần.

Thủ lĩnh đặt tay lên vai Đề Kiều.

– Tướng quân Đề đốc. Miền Tây rộng lớn, đường đất xa xôi có lẽ chỉ cần Đề đốc và Thủ túc ở bên ta cũng là đủ.

Hoàng Văn Thúy chắp tay thưa.

– Tướng công quân vụ. Chiểu ý ngài. Hiệp đốc Bố chánh và Đề Cương cùng Thổ hào là Trần Đình Thành (tự là Trần Đình) vẫn chắn giữ cửa phủ Trấn Yên. Tổng Khảm, Tán Áo, Tán Dật vẫn đang kìm chân giặc ở Đầm Đen. Chánh quản Hoàng văn Hội và các tráng đinh Mường giữ vững cửa hậu Yên Lập. Nay sắc chỉ. Phó Đề đốc Vương Văn Doãn sẽ đảm trách trục Châu lộ Văn Chấn, Đề đốc tướng binh tôi xin lo thủ phủ Mường Lò. Hộ vệ Tướng công sẽ là Thủ khoa võ tướng và Thủ túc văn quan. Các tướng quân ở đâu, lo việc thu phục tù trưởng, hào lý, thổ hào nơi đó và đạo binh mình. Theo ý Đề đốc tôi, Thủ lĩnh sớm chọn Mường Lò làm đại bản doanh đạo binh Cần Vương ở Tây Bắc.

Nói dứt lời. Đề đốc Hoàng Văn Thúy cúi đầu chờ phán.

Nghe Hữu tướng quân Đề đốc bày giải có lý, Hiệp thống Thủ lĩnh đưa hai tay đỡ Đề Kiều, rồi quay sang Thủ túc.

– Ta vừa lòng với ý Tướng quân Đề đốc. Thủ túc ghi vào văn tự đạo binh.

Trầm ngầm giây lát, chợt Hiệp thống quân vụ Đại thần, ngước nhìn lên ngọn núi đá vôi Thẩm Thóng sau làng Khe Dịa. Núi đá vôi trắng bạc, uy nghi khiến Nguyễn Quang Bích Ngư Phong liên tưởng đến Triều đình chủ chiến và Đức Vua Hàm Nghi, cùng các tôn tử của đại thần Tôn Thất Thuyết đang lặn lội nơi sơn phòng Quảng Trị tránh sự truy bức của ông vua Đồng Khánh kẻ đã rắp tâm làm tôi tớ cho người Pháp. Quân vụ Hiệp thống nói trong bâng quơ nhưng cũng đủ lọt tai làm Bộ tướng nghe mà xúc động.

– Những lo đưa được Vua tôi phục quốc về đến Tiên Động, đã không thành, nay liệu còn cơ hội Mường Lò chăng?

Nói đoạn, Thủ lĩnh Tướng công lặng lẽ xuống bậc thềm về dinh Phủ Trại.

Phó Đề đốc Vương Văn Doãn được Tướng công giao trọng trách nắm bắt dân cư vùng Văn Chấn. Thủ lĩnh nói:

– Người Pháp mà chiếm phủ Trấn Yên, tất sẽ mở đường vào Mường Lò – Nghĩa Lộ, thì Văn Chấn là phên dậu rào gai. Ở đó lại là đất thổ dân, ngài đến đây coi như nhà mình vậy.

Vương Văn Doãn cúi đầu nói lời tạ ơn rồi cùng Hoàng Thương Thân rời Trại dinh Ba Khe, ra Đại Lịch, rồi ra tận Minh Phú, Vân Hội của Mường Mẻng để thám sát tình hình.

Đứng trên đất Minh Phú, nhìn sang bên kia sông Hồng nơi đặt thủ phủ Trấn Yên. Tướng quân Vương Văn Doãn nói với Thương Thân: – Hiệp đốc Bố chánh của ta cũng đang ở khu sông Hồng này mà chưa bắt được tin tức. Ta ra đến tận nơi đây, cũng là việc để dò tin tức đó.

Hoàng Thương Thân khẽ lắc đầu:

– Việc lớn ấy, tiểu binh không thể biết.

– Thôi, ta trở lại Vân Hội.

Đêm đó, làng Vần thuộc Vân Hội, thổ hào Trần Đình Thành (Trần Đình) tổ chức đêm xòe mừng lên nhà mới. Dân bản kéo đến dự vui và xem hát đối. Các đôi thanh nam thanh nữ, từng đôi, từng nhóm, hát thách và đối lời.

Vương Văn Doãn trong bộ quần áo chàm đen ghé tai Thương Thân:

– Người thanh niên kia là ai mà xem ra hoạt bát, sắc sảo?

Thương Thân đáp:

– Đấy là Hà Đình Đặng người Thổ ở Đại Lịch. Thuận miệng, Thương Thân nói luôn. Còn cô gái hát giao duyên với Đặng là Trần Thị Gấm, em gái ông Thổ hào Trần Đình Thành[1].

Đêm xòe càng về khuya, càng nhiều thanh nam thanh nữ hát đúm hát đối, đàn tính tẩu tưng tưng lựa theo nhịp điệu hát. Có cả khèn bè của người Thái Đại Lịch, chiêng đồng, não bạt của người Dao Đồng Phú đến góp vui. Dân bản thật hào hứng, yên lành.

Thương Thân đưa Phó Đề đốc tướng quân ngược đèo Giang, đèo Din về Bằng Là vào thắp hương đình làng.

– Đình thờ ai? Vương Văn Doãn hỏi Thương Thân.

– Thưa Tướng quân, nơi đây thờ Phạm Đình Yên, ông là thần hoàng có công khai phá đất làng.

– Con cháu ngài thế nào?

– Con cháu từng đánh giặc Cờ Vàng mười năm trước, nay làm ăn chăm chỉ.

– Nếu kêu gọi họ theo Tướng công giúp Vua đánh Pháp, liệu có được không? Đốc Doãn hỏi.

– Chắc là Thần hoàng sẽ phù trợ, con cháu sẽ dấn thân.

Vương Văn Doãn lấy ngay bút mực trong túi viết mấy dòng Hán nôm gửi dòng tộc Phạm Đình. Rồi vội vàng theo chân Thương Thân về Thượng Bằng La.

Ba ngày sau. Trận mưa rào trái mùa, trời lạnh tê người, Phó Đề đốc Vương Văn Doãn đang đàm đạo việc binh cùng võ tướng Nguyễn Quang Hoan thì hộ vệ báo có nhóm thanh niên đến gặp. Đốc Vương thân hành ra sân đón.

– Con… Thưa quan! Một thanh niên tầm tuổi ba mươi khoanh tay rụt rè nói. Con là Phạm Đình Khải – thường gọi là Phạm Đình Tế. Còn đây là Phạm Đình Thọ hay Phạm Đình Năm, anh trên em dưới với nhau. Chúng con nhận thư quan mà tìm đến ra mắt.

Phó Đề đốc đưa tay ra đón.

– Cứ gọi ta là tướng binh. Vào trại, mau vào trại dinh. Ta muốn biết thêm về người dân địa phương.

Phạm Đình Khải đã bình tĩnh hơn.

– Vâng, thưa quan tướng binh. Dân bản Đại Lịch chúng con, mấy năm trước ai nấy đều hò nhau đánh giặc Cờ Vàng. Bây giờ Cờ Vàng về nước, thì lại đến lượt người Tây…

– Người Tây đã đến đây rồi sao? Phó Đề đốc chợt hỏi.

– Dạ chưa ạ. Nhưng quan phủ Trấn Yên đã đốc thúc cụ Chánh tổng tổng Đại Lịch bắt phu khai thông lộ địa từ Thượng Bằng La đến Hạ Bằng La để người Pháp đi lại. Người Pháp lại đòi Chánh tổng phải đưa thóc gạo, lợn gà về đồn Tây ở ngoài phủ. Thế là Pháp đã về rồi chứ ạ. Thường dân chúng con muốn chống lại.

Vương Văn Doãn không ngờ những thổ dân không chức sắc chăm chỉ ruộng vườn quần quật, mà lại am hiểu và lo lắng đến vận mệnh làng quê đến như vậy. Suy rộng ra, họ đang lo cho đất nước mình bị xâm lăng. Đây là lúc cần nhanh chóng vận động dân bản hướng về chiếu Cần Vương mà bình Tây phục quốc.

Phó Đề đốc nắm hai tay Phạm Đình Khải (Phạm Đình Tế), rồi nắm tay Phạm Đình Thọ (Phạm Đình Năm). Chậm rãi nói.

– Tổng Đại Lịch đã từng đánh giặc Cờ Vàng đến xâm chiếm, thì bây giờ phải theo Hiệp thống Đại thần Nguyễn Quang Bích mà đánh bọn giặc Tây. Ta giao cho Phạm Đình Khải đứng ra chiêu mộ, lập nên một đồn binh, làm thủ phủ cho Văn Chấn.

Phạm Đình Khải, Phạm Đình Thọ[2] cúi đầu:

– Chúng con nghe lời tướng binh! Rồi lui ra cửa sân trại.

Phó Đề đốc Vương Văn Doãn trở lại, câu chuyện việc binh với võ tưỡng Nguyễn Quang Hoan có việc chưa kịp nói.

Lãnh Hoan:

– Ngài Phó Đề đốc này. Ở Khe Dịa đã dăm ngày, tôi chưa hiểu sao Đề đốc Tướng quân và Thủ túc lại cho Tướng công hạ trại nơi đây? Phó Đề đốc nghĩ sao?

Câu hỏi của Lãnh võ tướng làm cho Vương Văn Doãn, người từng nhiều năm giữ chân Chánh Sơn phòng bản doanh chột dạ.

– Đúng là hôm trước, anh em mình chưa hiểu hết địa bàn Ba Khe. Nơi đây rất hợp với khi bình yên, nay người Pháp đã ra lệnh cho Chánh tổng tổng Đại Lịch khai thông lộ địa trong vòng hai tháng. Ba Khe là điểm có bốn năm tuyến lộ châu về, nếu ở đây sẽ là bất lợi.

Võ tướng gật gật:

– Đúng thế, đúng thế. Ba Khe thuận đường tiến, khó đường lùi. Ngài nói lại với Đề đốc Kiều và Thủ túc, rồi xin lệnh Thủ lĩnh Tướng công, nên di rời bản doanh vào vùng trong.

Đề đốc Hoàng Văn Thúy không chần chừ. Khi nghe Vương Văn Doãn thông tin Pháp đang đốc thúc dân dịa phương khai thông tuyến đường. Chẳng những Đề Kiều chấp thuận việc rời Bản doanh mà còn tính ngay việc bày binh ở các điểm tuyến để chặn giặc.

Thủ lĩnh Tướng công nắm tay Đề Kiều, Vương Văn Doãn, chỉ để Võ tướng và Thủ túc tháp tùng. Hiệp thống Quân vụ lên ngựa có Hoàng Thương Thân dẫn đường. Đêm ấy dừng lại Thượng Bằng La, rồi qua Đồng Khê, Sơn Thịnh, vào thủ phủ châu Văn Chấn.

Hiệp đốc Bố chánh Nguyễn Văn Giáp cùng Đề đốc Hoàng Đình Cương, Tổng khảm Trịnh Bá Đanh vào đến làng Vần thì nghe người dân đi chợ Hội về nói có trận đánh nhau to ở đèo Gỗ. Đề Cương dò hỏi thì biết rõ vụ trận, liền gặp Hiệp đốc.

– Thưa Phó Tướng công. Quân Pháp mà chủ yếu là khố xanh bị quân binh Tán áo Hà Công Cấn và dân binh của Trần Đình Thành Thổ hào phục đánh chân đèo, chỉ huy khố xanh chết trận, Tán Áo bị thương đã cùng nhóm nghĩa binh rút về bờ Ngòi Lao Âu Cơ.

– Ý Tướng quân thế nào?

– Hiệp đốc. Thua nặng, chỉ huy bị giết, thế nào trại Tuần Quán cũng trả thù. Xin ngài và Tổng Khảm cùng quân binh đi ngược về phủ tổng (Tổng Đại Lịch) mà hợp binh. Để tôi cùng mươi nghĩa sỹ rút sau đề phòng quân Pháp truy kích.

Tổng Khảm khoanh hai nắm tay.

– Thưa Hiệp đốc và Đề đốc. Ý Tướng quân Đề Cương là đúng lắm. Nhưng làng vẫn là cửa ngõ miền Tây việc chặn quân Pháp, hãy để hạ tướng họ Trịnh này lo liệu.

Bố chánh cảm kích, tay ngài đặt vào đốc kiếm.

– Đường đất Mường Mẻng vừa tắt ngang, vừa kín đáo, người Pháp sẽ chọn để truy đuổi. Việc chặn giữ ở cửa ngõ này ta giao cho Đề đốc, thích hợp hơn.

Hoàng Đình Cương cúi đầu nhận lệnh. Trịnh Bá Đanh khẽ nói:

– Đề đốc ở lại, về sau. Trịnh tôi hộ vệ Hiệp đốc, mong sớm gặp lại ngài.

Nói rồi, Tổng Khảm giật dây cương. Ngựa đồng hý vang, rồi bước nhanh theo dấu ngựa chiến của Hiệp đốc.

Không để trống thời gian, Đề đốc Hoàng Đình Cương tìm đến gặp thổ hào Trần Đình.

– Hà hà. Mấy hôm trước làm lễ lên nhà mới, quan phủ đến hội thì vui quá. Thổ hào Đình hoan hỉ mời khách bước lên nhà sàn.

Thấy chủ nhà vui vẻ, thật thà. Là tướng binh nhiều kinh nghiệm vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Đề Cương vừa cười, vừa thăm dò.

– Cụ Thổ hào đã lo xong việc thông lộ chưa đấy?

– Ông chánh tổng tổng Đại Lịch cũng mới chỉ ban bố thế, các làng trong tổng đã nơi nào làm đâu. Người Pháp đốc thúc, kệ họ chứ. Ta uống rượu đã, uống rượu!

Đề Cương cười cười rồi nâng bát. Rượu gạo nếp thơm phức. Để giấu tung tích Đề Cương gợi.

– Người dân phủ thành, cả ông chánh phủ thành, đã theo Cần Vương đánh Pháp rồi. Ông Thổ hào có đi không?

– Đi tận đâu? Thổ hào Trần Đình như tỉnh lại.

Đề Cương.

– Không phải đi đâu xa, đánh Pháp khi chúng đến làng quê mình bắt phu, cướp của.

– Thế thì được chứ? Cả làng Vần này, làng Dọc này, đánh Tây như trận đèo Gỗ ấy.

– Vâng, vâng; đúng rồi. Bài Tây, phục quốc, ai chả mong muốn phải không ông Thổ hào.

– “Ừ”, đúng chứ! Ta theo cờ Cần Vương, làng ta sẽ theo cờ Cần Vương mà đánh Pháp. Nào, mời quan phủ.

Đề đốc Hoàng Đình Cương ngửa cổ uống ừng ực. Thoáng cái, bát rượu gạo nếp cạn trơ đáy bát.

Được dân binh làng Vần dẫn đường, Đề đốc và hộ vệ đi các làng bản, gặp già trẻ trai gái vận động đồng bào dân tộc nơi đây, ủng hộ đạo binh Cần Vương Tây Bắc đánh Pháp, ngày thứ ba, Đề đốc vừa đi Kháo về, vệ binh đã chờ báo.

– Đề đốc. Thám sát báo tin một trung đội khố đỏ khố xanh đang trên đường vào làng Vần.

– Chúng hành quân hay đi càn quét?

– Có thể chỉ hành quân, vì nhiều đồ khiêng vác kèm theo.

– Hay lắm. Báo ngay cho đội Duệ mật phục cửa Ngòi Vần, và nhờ ông thổ hào Trần Đình Thành cho dõng binh giúp sức.

Chỉ ba mươi phút sau, trận địa phục kích đã ém sát mặt cửa ngòi. Đội binh Trần Văn Duệ chỉ huy đánh vỗ mặt. Đội binh Lê Văn Nghìn chỉ huy đánh tập hậu. Đề Cương trực tiếp điều hành đội dõng binh của Thổ hào, bắn tên nỏ, lăn đá hộc, cây gỗ cứng xuống giữa đội hình địch.

Nhận thấy đèo dốc, đường đất hẹp, suối chảy xiết. Đề Cương cho để lộ đường xuôi, quân giặc tháo chạy sẽ xô nhau xuống đây, nghĩa binh giáp trận dễ dàng cướp vũ khí.

Trận địa mai phục của Phó Đề đốc im lìm. Người dân đi chợ Vân hội không hay biết ven bìa rừng có quân binh nghĩa sỹ Cần Vương đang chăm chú chờ quân giặc đến.

Đạo binh Pháp do đại tá Boxit thực hiện lệnh của tướng Gia mông, tiếp tục truy đuổi “quân phiến loạn”. Boritx hạ trại tại Vân Hội, giao cho đại úy Bec beng ghe chỉ huy, trung úy Phung đội trưởng do thám làm phó. Phung khôn ngoan chia thành hai tốp, cách xa nhau chừng mười lăm mét. Đội quân khố đỏ Becbengghe đã lọt vào giữa đội hình mai phục.

Rào rào rào… hàng chục cục đá và gỗ khúc từ ven rừng lăn xuống. Bọn giặc kinh hãi nhảy loạn xạ tránh né. Bỗng chốc một người mặc quần áo chàm đen, to cao, trông dữ tợn, từ trên ven rừng nhảy xuống mặt đường, giơ cao mã tấu hét.

– Quân giặc cướp kia, chúng mày sẽ chết; sẽ chết!

Một tiếng hét nữa to và đanh, vang lên.

– Giết!

Đội binh Trần Văn Duệ xô xuống vung kiếm chém túi bụi. Cả đội quân nghĩa binh từ các búi cây xổ ra. Trung úy Phung chỉ kịp bóp hai nấc cò súng đã bị đội binh Duệ chém xả vai. Phung – kẻ phản bội, tên giặc chỉ điểm giãy dụa. Nghe tiếng rào rào, hò hét inh ỏi, đại úy Bec beng ghe ra lệnh nổ súng về phía đang náo loạn rồi cùng mấy lê dương quay đầu chạy ngược đường. Đội binh Lê Văn Nghĩa phát hiện ra quân Pháp đi tốp sau, dương súng bắn. Khẩu hai nòng của đội binh nổ điểm xạ. Một tên lê dương da trắng loạng choạng ròi ngã vật xuống mặt đường, Bec beng ghe cùng lính hộ vệ chạy thoát.

Đề đốc Hoàng Đình Cương nhìn đám lính khố đỏ khố xanh bị bắt, có kẻ bị thương, bảo Trần Văn Duệ.

– Đội binh cho dõng làng băng bó cho chúng rồi thả về phủ. Bảo nó là nhớ đời đấy.

Đội Duệ nói.

– Quan phủ về tổng phủ đi. Tôi là người làng Vần, tôi ở lại, bổ xung thêm quân binh, cũng sẽ chặn đánh được quân giặc.

Đề Cương cầm tay.

– Đội binh Duệ chỉ huy giỏi, ở lại xây dựng đội quân Vân Hội cũng là phải. Đội binh Lê văn Nghĩa sẽ trở lại đây giúp đỡ. Đội binh nhớ dựa vào lý hào Trần Đình Thành và dân bản.

Nói rồi Đề đốc cùng Lê Văn Nghĩa lên ngựa vào Đại Lịch nơi đặt phủ tổng.

Nghe tin có “quan phủ” đi ngựa đến phủ tổng, lại có một đoàn quân binh tháp tùng. Chánh tổng Hoàng Hữu mặc đồng phục thân hành chống gậy ra tận đầu làng đón về nhà riêng.

Lê Văn Nghĩa là người Trấn Yên, đã được gặp chánh Hữu nên cùng Đề đốc vội vàng xuống ngựa giao cho quản mã rồi theo chân ông Chánh lên nhà sàn, tư dinh chánh tổng.

Hoàng Đình Cương đỡ chén nước chè nóng, mỉm cười nói với tổng Lâm:

– Tôi chỉ là đề binh ông ạ, không phải quan phủ lị. Giặc Pháp đã chiếm thành phủ Trấn Yên rồi, đang phong tỏa bốn bề. Tôi nhờ cậy ông Chánh lo liệu cho quân binh Cần Vương, giúp Đức Vua đánh Pháp.

Chánh tổng tổng Đại Lịch Hoàng Hữu ngẩng nhìn Đề Cương nhưng tỏ vẻ không ngạc nhiên.

– Thưa quan Đề binh. Hai hôm trước tôi cũng được gặp ông Đề đốc tên là Vương Văn Doãn. Ông ấy cũng nói như thế. Dân tổng Đại Lịch đã biết đến chiếu Cần Vương, ông Thương Thân bên Thượng Bằng La, ông Phạm Đình Khải, Phạm Đình Thọ ở Đại Lịch cũng đã theo cụ Nguyễn Quang Bích mà đánh Pháp, lập cứ gò Bằng Là. Tôi và các hào lý sẽ giúp các ông lập đồn binh.

Đề Cương chắp hai lòng bàn tay, ốp chặt, từ tốn nói.

– Cảm tạ ông Chánh tổng. Cảm tạ ông nhiều lắm.

Hoàng Đình Cương bước xuống cầu thang tư dinh chánh tổng, cố ý tìm gặp Vương Văn Doãn và dân binh Phạm Đình Khải, liền sai cận vệ đi dò hỏi.

Phạm Đình Khải và Phạm Đình Thọ đang bận rộn với việc xây dựng Đồn phủ tổng tại Lũng Gà thuộc làng Bằng là thì bất ngờ nhìn thấy Lê Văn Nghĩa. Sau Nghĩa là một người to cao vạm vỡ.

– Tướng quân Đề đốc Hoàng Đình Cương. Lê Văn Nghĩa giới thiệu.

Phạm Đình Khải nắm tay hai vị tướng:

– Thưa tướng quân. Hôm xưa, tôi được cùng Đề đốc Vương Văn Doãn tiếp kiến Bố chánh Nguyễn Văn Giáp ở làng Mỵ. Gặp rồi, Bố chánh và Đề đốc cùng nhóm quân binh theo đường Cát Thịnh vào Nghĩa Lộ ra mắt Thủ lĩnh Tướng công.

– Tình hình đội binh ra sao? Nếu quân Pháp đến đây có đánh chặn được không? Đề đốc hỏi.

– Đội binh Đại Lịch chia làm ba chi án ngữ theo thế chân kiềng. Giặc Pháp mà đến nhất định đánh chặn được. Đội binh Khải trả lời rành mạch, rắn rỏi.

Hoàng Đình Cương hào hứng khích lệ.

– Người miền núi, người dân tộc gan dạ lắm. Trận Phủ Bình trận Tuần Quán, rồi trận đèo Gỗ, ngòi Vần, bọn giặc Pháp thằng bỏ mạng, đứa tháo chạy. Đánh thế là giỏi lắm.

Đội binh Khải, đội binh Thọ chắp tay tỏ ý vừa cảm phục vừa hứa hẹn.

Đề đốc nóng lòng gặp Thủ lĩnh Tướng công nên bước ra cửa lên ngựa chiến cùng vệ sỹ nhằm đường vào Mường Lò.

Vượt qua bao nhiêu cửa ải, biết mấy gian nan, bộ tướng của Thủ lĩnh Tướng công cũng đã tụ họp gần như đủ mặt bên cạnh Đại thần Hiệp thống quân vụ Nguyễn Quang Bích: Đề Kiều Hoàng Văn Thúy, Hiệp đốc  Bố chánh Nguyễn Văn Giáp, phó Đề đốc Vương Văn Doãn, lãnh binh võ tướng Nguyễn Quang Hoan, thủ túc văn quan Trần Ngọc Dư, Đề đốc Hoàng Đình Cương, Tổng Khảm Trịnh Bá Đanh.

Đại bản doanh đạo binh Cần Vương miền Tây, Đề Kiều và thủ túc chọn đặt trên đồi Pu Chạng giữa lòng Mường Lò, sách Nghĩa Lộ. Gò đồi Pu Chạng chạy dài, tiếng địa phương đồng bào Thái có nghĩa là đồi Ông Voi. Bốn bề đồi Ông Voi là cánh đồng, hai mặt nhìn ra suối Thia và suối Nung. Đường lên đồi dốc đứng, rậm rạp, lắm cây cổ thụ, lại nhiều ngõ nhỏ vừa có lợi thế quan sát, vừa lợi thế bí mật. Quân binh đặt tại các trạm cửa ngõ của mấy chục địa lộ, nhằm bảo vệ bản doanh mà xuất binh cũng dễ bề. Tướng công chấp thuận việc chọn địa điểm bản doanh và cho xây dựng thành khu căn cứ kháng chiến Cần Vương của Đạo binh miền Tây.

Trở lại Mường Lò từ sau chuyến đi Vân Nam trở về ba tháng trước, Hiệp thống Tướng công có dịp tiếp cận gần hơn với địa hình, đường đất, con người vùng Văn Chấn trong đó có hạt Nghĩa Lộ. Bí mật kinh lý Mường Lò mấy ngày, về lại bản doanh, Quan Hiệp thống cho gọi Bộ tướng đến cùng bàn thảo. Nguyễn Quang Hoan, Vương Văn Doãn, Hoàng Đình Cương đều đồng thanh xin Hiệp thống Thủ lĩnh bổ tước cho một số hào lý, chủ trại, thổ hào, dân binh, đã tự tổ chức đội binh làng bản hướng theo chiếu Cần Vương mà phòng vệ, đánh Pháp. Ngay ngày hôm sau thủ túc văn quan Trần Ngọc Dư đệ trình soạn thảo, Đại thần quân vụ sắc ký chỉ sự. Bản lệnh được chuyển đến tay đương sự để chấp hành: Phủ tổng Đại Lịch địa hạt Văn Chấn, phong tước Lãnh binh cho Phạm Đình Khải, tục gọi Phạm Đình Tế, tham chức Tổng chỉ huy quân binh Đại Lịch. Phong tước Lãnh binh cho Phạm Đình Thọ, tục gọi Phạm Đình Năm, tham chức phó chỉ huy quân binh Đại Lịch. Phong tước Lãnh binh cho thổ hào Trần Đình Thành Tổng chỉ huy Thao – Đà thủy bộ, và Đốc binh cho các quân binh Hà Đình Đặng, Lý Hữu Kim, Đặng Phúc Thành, Hoàng Đình Sứ (tên tự: Hoàng Đình). Mỗi Đốc binh nắm giữ một đội quân binh nghĩa sỹ hạng làng, bản. Phong tước Đốc binh cho tùy phái Đào Chinh Lục tức Giảng Nủ Kư nâu bản Nậm Khắt địa hạt Văn Chấn. Phong Lãnh binh cho Hoàng Thương Thân bản địa Thượng Bằng La hạt Văn Chấn. Phong tước Lãnh binh cho Tri châu Sa Văn Nội, châu Mường Sang Sơn La. Phong tước Lãnh binh cho Lê Văn Nghìn bản phủ Trấn Yên. Phong tước Lãnh binh cho Tri châu Cầm Văn Thanh thuộc bản phủ Mai Sơn Sơn La. Phong tước Lãnh binh cho Nông Đình Tẩn bản phủ Đại Đồng phủ Yên Bình.

Bản lệnh được công bố, Bộ tướng vỗ tay rào rào biểu lộ sự đồng tình nhất mực với Thủ lĩnh Tướng công.

Hiệp thống Thủ lĩnh cũng ban lệnh đặc trách vùng đất cho các tướng quân. Đề đốc Hoàng Văn Thúy nội vùng Mường Lò tạm kiêm chức Chánh Sơn phòng, phó Đề đốc Vương Văn Doãn khu vực Tổng Đại Lịch và phủ Trấn Yên, Đề đốc Hoàng Đình Cương đảm trách miền Tây Văn Chấn. Lãnh tướng Nguyễn Quang Hoan và thủ túc Trần Ngọc Dư là tả hữu quan đại Tướng công Hiệp thống và Phó Tướng công Hiệp đốc. Vệ sỹ liên lạc là đội binh Đào Xuân Thái.

Chỉ lệnh ban rõ: Các Tướng quân phải gắn bó mình với các tù trưởng, tri châu, seo phải, tạo bản, lang đạo, thổ hào, chánh tổng, lý trưởng bản địa và dân bản Thổ, Mường, Mèo, Mán mà xây dựng đạo quân đánh Pháp. Bản lệnh còn nói: Thủ túc nắm chắc tin tức về các nghĩa sỹ văn thân xứ Bắc Kỳ, trung Kỳ để Hiệp thống quân vụ liên binh.

Tin lành đồn xa, cuối tháng chạp Bính Tuất, làng bản Tây Bắc rộn rực cho tết nguyên đán. Trời mùa đông giá lạnh, cây cối khẳng khiu mà dân chúng tam tổng Mường Lò vẫn cử hào lý đến Pu Chạng xin yết kiến Quan Đại thần. Võ tướng Lãnh Hoan lo ngại có kẻ lợi dụng dò xét tâu lên Công sứ, lên Thống quản, nên viện lý Thủ lĩnh đạo binh an tĩnh tại tư dinh bên ngoài Pu Chạng, có việc quân binh, vệ sỹ đưa đến Sơn phòng sẽ có người của Thủ lĩnh đón nhận. Hào lý các địa phương hỉ hả đem về gạo thịt nuôi quân, đem về quần áo chăn màn do người Thái, người Thổ tự dệt may. Lãnh binh Nông Đình Tẩn và đốc binh Nông Đình Tần tận phủ Bình cho người đưa đến hai thớt voi đã thuần hóa biếu Đạo tướng ra trận. Người Mèo ở Trạm Tấu, ở Mù Cang, người Dao ở Nậm Mười, Nậm Khắt gửi măng ớt, táo mèo chữa bệnh và gửi cả mật ong rừng, rượu củ sâm, gạo nếp Tú Lệ để các Tướng quân bồi bổ sức lực mà chỉ huy đánh giặc. Nghe những tin tức tức ấy Thủ lĩnh Tướng công cảm động lắm. Bất chợt ngài nghĩ tới cuộc hành binh. Những ngày ở Tiên Động tụ hội như Triều chiến. Về Yên Lập nương nhờ đồng bào Mường thân tình tựa anh em. Hạ trại Ba Khe mấy ngày cảm thấy đã thông thoáng mà khó ngờ bất lợi cho sự an toàn. Di binh đường rừng ngủ đêm bản nhỏ, rồi lại theo chân thổ dân Hoàng Thương Thân ăn cơm nắm muối vừng ở khe núi Tè đã càng phải nghĩ ngợi trăm điều. Hồi tưởng ngày qua, Nguyễn Quang Bích – Ngư phong Tướng công ngồi dậy, cầm bút. Ngọn bút lông rung rung những nét thi nôm.

Một căn nhà sàn ở ven rừng, cỏ cây rậm rạp

Quanh thềm, tiếng dế kêu hòa lẫn tiếng nước khe

Ngước mắt nhìn non sông, tất cả vẫn như ngày hôm qua

Mưa gió đau lòng, chỉ tự mình buồn lo.

Nâng chén, không thể ngồi tính lại những việc ngày trước

Đối người, luống thẹn thấy mình bạc đầu

Gần đây, hàng ngày chỉ ngồi ăn mà chẳng có chước gì lạ

Hướng về Phong Thành ngóng mãi kiếm khí xông lên sao Ngưu, sao Đẩu[3].

Đêm Mường Lò. Đã sắp giờ giao thừa Đinh Hợi (1887). Thủ lĩnh Nguyễn Quang Bích, vị Đại thần Hiệp thống miền Rừng Già Tây Bắc không ngủ. Ngài không ngủ được hay không muốn ngủ trong đêm xuân yên ả giữa miền sơn cước, giữa lòng dân với các hào lý, tù trưởng người dân tộc thiểu số? Ngọn đèn thắp bằng dầu thông trong căn phòng nhỏ tư dinh kia vẫn sáng, Ngài Hiệp thống quân vụ đang soạn thư binh, soạn lệnh binh, hay nhớ về quê nhà, hứng bút mà nên văn chương? Chắc không phải Tướng công làm thơ, có lần Thủ lĩnh Tướng công chẳng tâm sự đấy thôi: “Dư bất tri thi, hựu vô tác thi, thiên phận kỳ hà năng ngôn Độc ư binh biến lưu ly chi tế, hoặc xúc vật nhi hưng tư, hoặc nhân sự nhi ngẫu ký, diệu hoặc hành giao ngụ xá, thâm dạ tàn đăng, cùng muộn chi cực nhi bất năng dĩ giả, tùy cảm tùy tác, hậu hựu tùy bút tự vi điểm duyệt, Cái sở vi hậu trùng thần điểu, tự mình tự dĩ, liêu dĩ khiển hoài vân nhĩ, thi hồ tai”[4].

Một mình bước nhẹ bên thềm tư dinh, giành cho quan Hiệp thống Thủ lĩnh trong đêm giao thừa, vừa yên ắng, vừa xốn xang giữa giờ phút thiêng liêng khi đã làm xong tục lệ hương khói thần thổ. Thủ túc Trần Ngọc Dư mạnh bạo nhòm qua khe vách lán tre nứa. Người ngồi đó, quan Đại thần triều đình chủ chiến – Hiệp thống quân vụ Nguyễn Quang Bích trong bộ triều phục. Áo thâm đen, khăn chít chéo, đôi mắt quầng thâm mà sáng, chòm râu dài và thưa đã đóm bạc, bộ tóc mai vốn đã sâu xuống gò má, nay trùm bên chòm râu càng làm cho khuôn mặt Ngài trở nên quắc thước mà vẫn như tự tại, điềm tĩnh. Chỉ nhìn khuôn hình và dung nhan Tướng công cũng đã đủ thấy một vị quan Triều chính chủ chiến nhất mực vì nước Nam, nhất mực thủy chung với Đức Vua anh minh và hết lòng thân yêu nghĩa sỹ, thuận hòa đồng chí, đồng minh. Thoáng nhìn, thoáng nghĩ, thủ túc văn quan không muốn làm cho Tướng công phân tán tâm tư, liền nhẹ gót bước sang phòng võ tướng Nguyễn Quang Hoan.

– Tướng quân. Đêm giao thừa mà ở Mường Lò này, trời lại sáng như trăng mùa đông vậy.

Lãnh Hoan.

– Cũng là điều lạ. Nhưng có lẽ là điềm lành vì quan Đại thần về đây, nghĩa là Đức Vua đã khai tâm khai sáng, nên đất trời miền núi hiển linh.

Thủ túc gật đầu. Rồi lại nói

– Người Thái Mường Lò có tục cúng bản cúng mường và cúng rừng vào đầu xuân đấy, tôi có ý gặp Đề đốc Kiều xin ngài cho Sơn phòng ta góp lễ.

– Việc đó chưa cần phải hỏi Đề đốc, mà ngài Thủ túc cho người tìm đến già làng trưởng bản biết ngày lễ mường, rồi cùng Đề đốc tướng quân tới dâng lễ vật xin bậc linh thần mường bản là ổn.

Thủ túc cười.

– Không phải thổ dân mà sao tướng quân lại rõ được như vậy?

Võ tướng cũng cả cười nheo mắt:

– Chính là nhờ cụ Đề Kiều đấy. Ngày hộ giá Tướng công về đến Lai Châu, tri châu Cầm Văn Thanh, kể chuyện Lò Lạng Chượng và dặn, nếu đến Mường Lò vào ngày tết, phải nhập lễ cúng mường cho phải tâm. Tôi đem chuyện này ra đàm đạo, Đề đốc Kiều vỗ vai nói: Việc đấy ngày làm chánh tổng Cẩm Khê, thổ hào Thúy tôi đã thành quen gọi là “xên mương xên đông”, Mường Lò, Mường Thanh, Mường Than, Mường Tấc, người Thái Tây Bắc đều giữ gìn lễ tục này.

– Hà hà. Hẳn nào, hôm trước Đề đốc nói, rằm tháng giêng này ngài về khai xuân với bản làng Mường Lò.

– Đất có thổ công, các cụ dạy thế rồi. Đề đốc là người am hiểu văn hóa và tâm linh truyền thống, biết tự mình lo liệu, không để Thủ lĩnh phải bận tâm phiền lòng.

Cứ thế, Võ tướng và Văn quan trò chuyện, từ chuyện sơn phòng lan sang chuyện đất và người Tây Bắc, cho đến cả chuyện cổ, kim… Canh năm, gà bản te te gáy, thủ túc thay mặt Thủ lĩnh Tướng công bước ra am nhang đặt bên gốc cây long não cổ thụ, chỉnh trang lễ phục, thắp hương bái thiên lễ địa, chào đón ngày đầu tiên của một năm mới, năm Đinh hợi trên đất Mường Lò – chiến khu Cần Vương vùng Tấy Bắc. Khắp đồi Pu Chạng, một rừng hoa ban đang chớm nở.

Đề đốc Hoàng Đình Cương cùng Đặng Phúc Thành rời hành dinh đi xuôi ngòi Thia rồi ngược bản Tủ lên Nậm Khắt tìm Giàng Nủ Kư Nâu. Đề Cương biết Đặng Phúc Thành cũng là nhờ Phạm Đình Tế. Thành là người Dao quê gốc ở Nậm Lành, nhưng lấy vợ người Thổ ở Đại Lịch, vẫn thuộc châu Văn Chấn. Khi Thổ hào Phạm Đình Tế đứng lên lập đội quân binh bên cạnh đội dõng binh của Chánh tổng, tổng Đại Lịch, Đặng Phúc Thành rủ Lý Hữu Kim, hai tráng niên người dân tộc Dao ra nhập và được Phạm Đình Tế trọng dụng, cử làm trưởng tổ.  

Khó gặp Giàng Nủ Kư Nâu, Hoàng Đình Cương về Nậm Mười ăn tết với người Dao. Thấy có khách lạ, dáng phong độ, lại nói năng hiền lành, một thanh niên Dao đến chúc rượu.

– Bát này, “tao” mời khách quý đấy, “mày” uống hết đi!

Trước mặt đội binh Đặng Phúc Thành và các già bản, Đề đốc nhận rõ sự thật lòng của chàng trai, nên không chần chừ, nhận bát rượu uống một hơi, rồi “khà” một tiếng như thể hiện rượu ngon.

– Ồ, ồ! “Mày” uống giỏi, “tao” nhận làm anh cả thôi! Chàng trai nói.

Đề Cương, Đội Thành, già bản cùng đồng tình uống thêm một bát rượu chúc tụng.

Từ hôm đó, ngày mồng ba tết, chàng trai người Dao có tên là Bàn Hiệp, người bản Nậm Mười, theo chân Đề Cương và Đội Thành đến nhập đạo binh quân Cần Vương Tây Bắc.

Đề Cương bàn với Lãnh Hoan tả tướng quân của Thủ lĩnh, nên lập một đồn binh tại khu vực Nậm Lành để thu nạp các hào  lý, tù trưởng và quân binh người dân tộc, mở cửa lên Lai Châu, Điện Biên. Thủ lĩnh Tướng công và Bố chánh Hiệp đốc nghe xong, chấp thuận ngay. Đồn trại quân binh được đặt ở Nậm Mười do đội binh Đặng Phúc Thành chỉ huy. Đội binh Lỹ Hữu Kim ở Đại Lịch được Đề Cương đưa về làm Phó trại. Trại binh có hai đội quân do Kư Nâu Đào Chinh Lục và Bàn Hiệp làm các đội trưởng. Giàng Nủ Kư Nâu nói: “Tao” sẽ đi bảo người Mèo ở Mù Cang Chải, ở Nậm Khắt, ở Púng Luông, cũng theo vào đội binh của ông Đề Cương để đánh thằng giặc Pháp!([5])

Vùng ngoài tổng Đại Lịch (từ Thượng Bằng La đến Hạ Bằng La) phó Đề đốc Vương Văn Doãn cùng các đốc binh Trịnh Bá Đanh, Lê Văn Nghìn, Phạm Đình tế, Hoàng Thương Thân đến chung vui chén rượu tất niên, dự các đêm hát, đêm xòe với người Thổ người Nùng.

Đội binh Thương Thân:

– Ở Thượng, đã lập được đội binh. Đội này cùng với dõng binh của lý trưởng có thể đánh chặn quân Tây khi chúng ngược Thu Cúc hoặc đèo Đao (Đèo Lũng Lô)

Đề đốc Doãn:

– Thượng Bằng La quan trọng lắm đấy, nhiều trục lộ xuôi ngược liên hoàn với cả vùng, Đội binh cho quân luyện tập ngày đêm để khéo giáp trận.

Thương Thân cảm kích đáp lễ. Dân bản người Thổ kéo đến biếu quan Đề đốc và quân binh những túi bánh trưng tròn, bánh dậm quai, cả bánh chuối, bánh nẳng cho ngày rằm tháng giêng.

Ra phủ tổng, tổng Đại Lịch, chánh tổng Hoàng Hữu, lãnh Tế Phạm Đình Khải, lãnh Năm Phạm Đình Thọ, các đội binh Hà Đình Đặng, Lý Hữu Kim, Hoàng Đình Sứ và các già làng trưởng bản đón “quan” Đề đốc như người thân. Ai ai cũng cố nèo kéo mời mọc “quan” đến với nhà mình như thể đi trả ơn ân huệ cao dày của Đức Vua đối với dân bản.

Phó Đề đốc Vương Văn Doãn đứng lên mô đất nói thật to.

– Giã ơn bản dân Đại Lịch tốt bụng, tôi vị lệnh Thủ lĩnh Tướng công về làng bản chúc tết mọi người dân già trẻ gái trai, chúc tết các bậc cao niên, hào lý, chức dịch. Gặp nhau ở đây là mừng lắm, Thủ lĩnh và Bộ tướng xin có lời tạ lỗi việc thăm nhà, xin dân bản bằng lòng với Đề đốc tôi.

Tiếng vỗ tay ran lên. Vương Văn Doãn giơ hai bàn tay lên cao như thay vì lời chúc lời chào tốt lành ngày đầu năm mới.

Phó Đề đốc bước xuống, hộ vệ đưa nhanh theo chân lãnh Tế, lãnh Năm về Bằng Là. Tướng quân đi kiểm tra việc xây đồn trại ở gò Lũng Gà.

Chỉ trong nửa tháng trời, Chánh tổng Hoàng Hữu và các vị thổ hào địa phương đã vận động các gia đình trong tổng gửi biếu đội binh năm mươi khẩu kíp, súng hai nòng, hỏa mai, và có tới mấy trăm gươm, giáo, mã tấu. Nhìn kho khí giới và lương thảo trong đồn, Vương Văn Doãn mừng lắm viết thư cho hộ vệ về bản doanh Mường Lò báo tin đội binh Đại Lịch sắm được nhiều vũ khí tự tạo, lương thảo chất đầy bãi, đâu đâu quân sỹ cũng mải miết luyện tập. Các đội binh, đốc binh, lãnh binh nhất loạt hướng về Cần Vương Tây Bắc mà tu rèn…

Bước xuống chân đồi Lũng gà, phó Đề đốc vỗ vai lãnh binh, Phạm Đình Tế.

– Hiệp thống Thủ lĩnh Tướng công sẽ hài lòng với cánh binh Đại Lịch. Cửa tổng Đại Lịch giữ được thì Mường Lò Nghĩa Lộ sẽ vững chân.

Lãnh Tế, lãnh Năm, đội Đặng, đội Lý, đội Hoàng, đều khoanh hai nắm tay ra trước mặt cảm tạ.

Phó Đề đốc Vương Văn Doãn quay sang lãnh Năm phó đội:

– Cửa Vần Dọc đã có đội binh Lê Văn Nghìn và Tổng Khảm Trịnh Bá Đanh chắn chặn, mà quân Pháp cũng chưa thấy động tĩnh gì hơn. Lãnh binh cắt cử một phần quân số về các làng bản giúp dân gặt lúa chiêm xuân, đóng bịch lương thực phòng thủ lâu dài.

Lãnh Năm, lãnh Tế vâng lệnh.

Vương Văn Doãn lên ngựa ra kiểm tra cửa trận Vần, Dọc. Lãnh Tế cử đội binh Hà Đình Đặng tháp tùng Phó Đề đốc. Dọc đường tướng binh thân tình hỏi:

– Ta nghe Đề đốc Hoàng Đình Cương nói, đã gặp Đội binh trong đêm hát giao duyên hôm thổ hào làng Vần Trần Đình lên nhà mới, có phải chăng?

– Dạ, Đội binh có mặt hôm đấy và giao duyên với một cô gái làng Vần, nhưng, không hay biết Tướng quân cũng có ở đó ạ.

– Câu chuyện giao duyên thế nào đội binh có thể nhắc lại cho vui đường đất?

Bị Đề Doãn yêu cầu bất ngờ, Hà Đình Đặng lúng túng.

– Dạ! Chuyện là… [6]

Nghe xong, Tướng quân cả cười rồi vỗ nhẹ vào vai đội Đặng

– Cuộc sống nó đẹp như vậy đấy, mà người Pháp không để yên. Ta lo đánh giặc, giữ được làng quê này thì chẳng những đời ta mà đời đời con cháu mới có được hạnh phúc.

Tổng Khảm Trịnh Bá Đanh và lãnh binh Lê Văn Nghìn đang cho quân sỹ phối hợp với dân binh của thổ hào Trần Đình Thành tập luyện ở cánh đồng bậc thang làng Vần, được báo, cả hai vội vã chạy lên chân dốc đón Tướng quân Phó đề đốc.

Chứng kiến cảnh nghĩa binh và dân binh tập trận say sưa giữa mưa dầm tháng hai, Phó Đề đốc Vương Văn Doãn bằng lòng, ngài bước đến mô đất cao nhất, giang hai cánh tay khoát lại. Binh quân có tới trăm người quây quanh các tướng binh.

– Nghĩa sỹ Mường Mẻng (tên cũ của Tổng Đại Lịch), Phó Đề đốc nói: Giặc Pháp chiếm đất ta, cướp của cải gia đình họ mạc ta, trai tráng Mường Mẻng ta nhất thiết không cam chịu, mà đồng lòng theo cụ Hiệp thống, Thủ lĩnh đạo binh Cần Vương Tây Bắc đánh lại quân giặc. Nghĩa binh nào đồng lòng thì giơ tay thật cao?

Một “rừng” tay giơ lên, rồi súng, rồi gươm giáo, cũng giơ cao. Vương Văn Doãn đưa hai nắm tay lên ngang mặt, nắm chặt lại, khẽ cúi mình tỏ ý cám ơn các nghĩa binh. Mấy tướng đội binh, Trịnh Bá Đanh, Lê Văn Nghìn, Hà Đình Đặng làm theo.

Dảo bước trên cánh đồng ruộng bậc thang đang trổ bông xanh, Vương Văn Doãn ngước nhìn lên ngọn núi rồi quay sang Hà Đình Đặng, chợt hỏi:

– Ngọn núi kia có tên là gì, bốn mặt nhìn về đâu Đội binh?

– Thưa Tướng quân, Đặng đáp. Đó là núi Nả, phía bắc nhìn ngược sông Hồng, phía đông nhìn xuống đất Phong Châu sông Thao, hướng nam là về Thanh Sơn, Yên Lập, phía tây chân liền dãy núi Báng của phủ tổng Đại Lịch.

– Tổng phủ Đại Lịch có trại binh Lũng Gà của Lãnh tế đấy sao?

– Vâng thưa Tướng quân. Núi Nả là tên của nàng Na, con quan phủ Phong châu thời Tiền Lê, câu chuyện nàng Na hay còn gọi  là Bà Chúa Nả gắn liền với Thần hoàng đình Bằng Là Phạm Đình Yên mà Đề đốc đã nghe kể. Thần hoàng cũng chính là cụ Thủy tổ của Lãnh Tế Phạm Đình Khải và Lãnh Năm Phạm Thọ.

Đề đốc Vương Văn Doãn chắp hai tay, hướng lên ngọn núi Nả mà nói như lời niệm.

– Nam mô A dì đà Phật. Cầu xin nhân thần chúa Nả hiển linh phù hộ cho Đạo binh Cần Vương Tây Bắc chúng con do Hiệp thống quân vụ Tướng công Nguyễn Quang Bích làm Thủ lĩnh, nguyện đánh thắng quân Pháp, cứu nước Nam ta thoát khỏi vòng kiềm chế ô nhục.

Tướng quân dứt lời, ngài phục xuống mặt đất, hướng về núi Nả, lạy ba lạy.

Từ ngày quan Bố chánh, Đề đốc Cương, Lãnh binh Tổng Khảm rút vào miền Tây. Đội trưởng dõng binh Nam Cường Lê Văn Nghìn đi đâu mắt tăm. Lãnh Hặc, Lãnh Đa, Tán Áo rút lui về Hiền Quan, Động Lâm. Hiệp Triệu tuy chưa giải ngũ nhưng nhóm quân nhỏ, lại rời rạc, Quản Hiệp đang tổ chức lại đội binh. Trong khi đó người Pháp đã công khai thúc ép Chánh thành phủ Trấn Yên Đặng Liễu ký giấy khoanh đất để Pháp xây nhà công sứ lập đồn, và cấm địa. Tri phủ Liễu bất lực từ chức, người Pháp điều khiển Tuần phủ Hưng Hóa sa thải Chánh Liễu. Toàn bộ thành phủ Trấn Yên từ làng Hào Gia, Tuần Quán, kéo dài tới làng Bái Yên, làng Nam Cường bị người Pháp quản chế, họ đặt văn phòng đại diện tại Bách Lẫm, người có chức danh điều hành là quan Đốc sứ. Quan đốc sứ là một người Việt từ Hà Nội lên, thạo tiếng Tây hơn tiếng mẹ đẻ.

Nằm vắt tay lên trán, Đặng Lanh nhớ lời dặn thân tình của Đình Cương lúc chia tay: “- Chú ở lại thành phủ, nắm chắc tin tức, sẽ có người tìm đến. Đề anh sẽ luôn bên chú”. Ba đồng bạc trắng Đề đốc đặt vào tay vẫn còn đây, mà sao kẻ tìm đến vẫn chưa thấy? Đặng Lanh bần thần cả người, ngày tết cũng chẳng có gì làm vui. Các tướng binh và nghĩa sỹ theo cùng, đang ở chỗ nào nơi rừng núi miền Tây mênh mông, xa lắc? Ba tháng? Đã ba tháng trời! Đặng Lanh thiếp đi…

Rằm tháng giêng. Đang vui chén rượu xuân với bạn dõng binh giải nghề thì con gái đến gọi, nói rằng, về nhà có khách.

– Ô, Lê Văn Nghìn. Bạn đâu biệt tích…

Người khách ra hiệu:

– Nói nhỏ, nói nhỏ thôi. Mình về gặp Lanh, đưa thư, rồi đi ngay.

Như sợ có ai theo dõi, Lê Văn Nghìn nắm chặt bàn tay người bạn có thời cùng là dõng binh canh điếm thành phủ

– Chuyện dài lắm, sẽ kể sau. Còn đây là thư của Đề đốc, để khỏi bị lộ, nên thư chỉ như thế, còn nội dung mình sẽ truyền đạt yêu cầu của Đề đốc.

“- Chú Lanh vẫn khỏe chứ? Anh Hoàng đặt mùng, chú tìm được, gửi cho anh ngay nhé!”

“Ôi. Tướng quân xưng là anh. Thân mật đến thế”. Đặng Lanh chợt nghĩ.

Lê Văn Nghìn:

– Đặng Lanh tìm mọi cách nắm được ý đồ tiến quân của người Pháp ở Thành phủ, nhờ người tin cậy báo tin cho Văn, con trai thổ hào Trần Đình ở làng Vần. Tin tức sẽ đến với Đề đốc và quan Bố chánh. Đề đốc và Bố chánh luôn nhắc đến Lanh đấy. Thôi, đi nhé.

Lê Văn Nghìn quay người định bước ra cửa, nghĩ thế nào lại ngoảnh cổ.

– À, mà mấy tháng mới gặp. Ngày rằm, làm chén rượu chứ?!

Đặng lanh chỉ kịp rót đầy, chưa có lời chúc tụng đầu xuân Lê Văn Nghìn đã nâng cốc. Cười:

– Nào. Nhớ “mua hàng” cho Đề đốc!

Hai chén rượu cạn. Hai bàn tay bạn hữu nắm chặt rồi rời nhau. Đội binh Lê Văn Nghìn ra cổng. Hai hộ vệ đang đứng chờ mà Đặng Lanh không hay biết.

Thực ra Đề Cương dặn Lê Văn Nghìn từ trước khi ngài nhận lệnh Tướng công đi đặc trách cửa Tây Mường Lò, nhưng đến bây giờ Nghìn mới thực hiện được. Mấy ngày ở Vần, Đề Cương đã quen với Trần Văn Văn con trai thổ hào, Văn tỏ ra quý trọng nghĩa khí của Đề đốc bậc cha chú mà vui thích khi nhận việc Đề đốc giao. Văn cũng đã thân với Hà Đình Đặng chàng trai Đại Lịch hay về Vần hát giao duyên cùng cô ruột là Trần Thị Gấm mỗi khi có hội. Đường dây truyền tin từ thành phủ được thiết lập như vậy. Tin tức Đặng Lanh nắm được sẽ đến Văn, đến Đặng, rồi đến Vương Văn Doãn hoặc Bố chánh Nguyễn Văn Giáp.

Tháng năm. Lúa chiêm đang chín rộ. Quân binh các cánh đang về làng bản gặt lúa thì phó Đề đốc Vương Văn Doãn nhận được tin quân Pháp sẽ tiến đánh thọc sâu vào Đại Lịch, đồng thời cùng lúc, sẽ đổ bộ bằng tầu thủy lên bến Mậu A.

Nghe cấp báo Thủ lĩnh Tướng công cắt cử Hiệp đốc Bố chánh Nguyễn Văn Giáp đem quân đi tắt Ngòi Thia ra Mậu A phối hợp với dõng binh địa phương mai phục. Nhưng quân Pháp thay đổi địa điểm, mà tầu thủy ngược sông Hồng tiến thẳng, Bố chánh phán đoán rồi quyết định huy động ngựa của dân bản cho hai mươi chiến binh phi mã lên Trái Hút mật phục. Trận đánh quyết liệt diễn ra ngay bờ ven sông Hồng khi quân Pháp do thiếu tá Bôxe chỉ huy vừa bước lên bến Trái Hút. Đám quân khố đỏ khố xanh bị đòn phủ đầu, nháo nhào bên bờ sông. Bô xe lệnh rút nhanh lên tàu thủy bỏ lại mấy chục xác lính ngay bãi sông.

Trên tuyến vào tổng phủ tổng Đại Lịch. Vương Văn Doãn giao cho Lê Văn Nghìn dẫn một đội binh phục ở đèo Mát, đội thứ hai phục chân đèo Din do Trịnh Bá Đanh, Hà Đình Đặng chỉ huy. Đích thân Đề Doãn, cùng Lãnh Tế, Lãnh Năm dàn trận bao vây quân giặc nếu chúng lọt qua hai phòng tuyến phục kích.

Đại tá Bôrítx đặt sở chỉ huy dã chiến ở Vân Hội lệnh cho đại úy Ben dẫn một trung đội hành quân trong đêm trăng sáng, lặng lẽ ém quân dọc đường chờ canh năm bất ngờ đánh quấy phá tổng phủ rồi rút nhanh có đội quân thứ hai tiếp sức. Đại úy Ben không có thổ dân đưa đường nên ngay trong đêm trăng, cả trung đội khố xanh khố đỏ lọt vào ổ mai phục của Đội binh Lê Văn Nghìn. Lê Văn Nghìn, Hà Đình Đặng ra lệnh ném bùi nhùi sáng. Cả đoạn đèo rối loạn. Quân binh Lê Văn Nghìn, Hà Đình Đặng cứ nhằm kẻ mũ nón dấu áo đai mà đâm mà chém. Đám lính khố xanh người Việt chạy tán loạn lên rừng. Đại úy Ben trúng đạn vào cánh tay phải rơi cả súng lục, Ben hét quân thúc ngựa chạy một mạch về Vân Hội.

Cuộc hành quân quấy phá thủ phủ tổng Đại Lịch của quân Pháp thất bại, Bo rítx tức tối cho người mời Phòng do thám đến tham vấn.

Trương Đen – đại úy trưởng phòng, ngạo mạn lên giọng:

– Chỉ tôi mới có cách chọc thủng các tấm chắn, vào đến giữa phủ tổng, thưa ngài đại tá.

Bôrítx

– Ngài nói đi, ngài Đen. Nước Pháp sẽ luôn nhớ đến ngài!

Trương Đen đi đi lại lại, bỗng y búng ngón tay cái hất hất về phía sau gáy.

Bô rítx khẽ lắc đầu không hiểu.

Trương Đen cười nửa miệng rồi nói bằng tiếng Pháp

– Do thám của tôi nói, ở Đại Lịch có một tướng chỉ huy quân phiến loạn tên là Trịnh Bá Đanh, quê hắn ở Cẩm Khê. Ngài đại tá cho lính về làng bắt cóc người anh trai, đưa đi đầu đại binh kêu gọi Đanh ra hàng. Thừa lúc tướng quân phiến loạn đắn đo, ta thúc quân đánh tràn vào, tất sẽ bắt được các tướng phiến loạn, dẹp được đồn phủ.

Đại tá Bôrítx cười to:

– Hay lắm, hay lắm. Cảm ơn đại úy. Một sáng kiến tuyệt vời.

Mưu kế của Trương Đen được tướng Giamông tổng chỉ huy Mặt trận sông Thao, sông Chảy, và tướng Bricdlin thống quản miền Tây, biết đến; nhưng lại giao cho Bo rítx một việc khó dễ, là lừa được người anh, nhận lời đi tìm gọi em về chứ không phải do người Pháp bắt cóc dân chúng. Người luôn đi bên Trịnh Bá Hoàn, anh họ Tổng Khảm, là trung úy Quỵch, sỹ quan phòng do thám của Trương Đen.

Sau trận đánh chặn ở làng Dọc và ở Trái Hút thắng lợi. Hiệp thống Quân vụ Tướng công đích thân thị sát cửa Đại Lịch và Cửa Mỵ. Bố chánh Nguyễn Văn Giáp, phó Đề đốc Vương Văn Doãn và thủ túc Trần Ngọc Dư cùng lên ngựa hộ tống Thủ lĩnh.

Lãnh Tế Phạm Đình Khải và chánh tổng Hoàng Hữu cả các dân binh quân binh đón quan Đại thần, ai nấy thật háo hức. Nguyễn Quang Bích Tướng công đứng trên đỉnh đèo Bẳn ngắm nhìn thế núi, Ngài nói với Phạm Đình Khải:

– Đây là một đỉnh điểm chặn lợi thế!

Bố chánh, Phó đề đốc, Thủ túc đều gật đầu. Trần Ngọc Dư cảm xúc gợi mở:

– Ngư Phong Tướng công, Đại Lịch là một sách([7]) hội đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

Nguyễn Quang Bích nhìn toàn cảnh thung lũng lòng chảo, nói thêm:

– Đọc sách của Lê Quý Đôn, ta đã hay về Đại Lịch. Núi Din, núi Đáy, núi Ngủ, núi Báng, và đồng Lớn, nơi có ngòi Thé chảy qua ra ngòi Nặm. Thật là tiên cảnh thủy mặc.

Phó Tướng công Nguyễn Văn Giáp góp lời đàm đạo:

– Thiên cảnh đẹp mắt, người người làm ăn, giặc Tầu giặc Tây vào đây đều phải tháo chạy.

Bộ tướng cười ồ. Hào hứng kháng chiến, lao động và đánh giặc như đang tràn ngập trong lòng mọi người.

Lãnh Năm Phạm Đình Thọ dẫn đường đưa quan Hiệp thống và Bộ tướng về thắp hương nơi đình Bằng Là. Dân bản đứng kín dưới tán cây đa xanh bên bờ suối. Quan Đại thần cúi mình chào dân làng người Thổ, người Nùng, người Dao rồi giơ hai nắm tay chắp lại, tỏ lòng cảm ơn và hứa hẹn. Ngài theo chân Lãnh binh lên kiểm tra việc lập đồn phủ Tổng Đại Lịch ở gò Lũng Gà. Trở về nhà sàn Phạm Đình Khải, Tướng quân cho mời chánh tổng Hoàng Hữu, một số hào lý, già làng, trưởng bản và các đội binh đến gặp gỡ. Thủ túc Trần Ngọc Dư thừa hành công bố phong tước Đốc binh cho Lê Văn Nghìn và Hà Đình Đặng, hai đội binh có công trong trận Nước Mát làng Dọc phủ Trấn Yên. Ban thưởng cho đội binh Lý Hữu Kim trước khi điều Kim về Nậm Mười, cùng Đặng Phúc Thành và Bàn Hiệp xây dựng đồn trại cửa tây. Ba đội binh được phong thưởng khoanh vòng tay cảm tạ. Một cơn mưa rào giữa trời nắng. Mưa như trút nước, kéo dài đến nửa tiếng. Chỉ hai mươi phút, nước ngập tràn khối đá làng khe Văng. Ngòi Thé lênh láng nước. Đá đen, đá trắng lổng chổng là thế, giờ chẳng còn thấy đâu. Một mặt phẳng đồng ruộng, là nước và nước.

Đã từng ở rừng Tiên Sơn, đã chứng kiến nhiều trận mưa lũ, sông suối ngập tràn; nhưng đây là lần đầu tiên Tướng công Thủ lĩnh chứng kiến cảnh mưa xối xả lũ quét lũ ống khủng khiếp, khiến người người không thể sang suối, qua lại như tháng trời mưa dầm. Ngồi trên nhà sàn lợp cọ thật vững chãi, Ngư phong Tướng công sai thủ túc lấy giấy bút tức cảnh. Chỉ trong mươi phút dâng tràn cảm xúc, Ngư Phong đưa Trần Ngọc Dư. Dư đưa lại, đích thân Ngài đọc cùng Bộ tướng chiêm hưởng.

Đại Lịch đạo trung ngộ vũ

Tuấn tĩnh thiên trùng lập/ Nhiễu khê như thành hào/ Loạn thạch tích khê tâm/ Nhất vũ thành ba đào/ Quan giả câu hãi ngạc/ Bôn đằng cơ thiên thao/ Tài gian tễ sắc khai/ Thủy lạc sơn chính cao([8])

Bố Chánh, Phó Đề đốc, các lãnh binh, đốc binh tỏ vẻ thán phục. Ngư phong Tướng công cười độ lượng:

– Ta chỉ tức cảnh mà ghi lại thôi, chứ có làm thơ đâu!

Chánh tổng tổng Đại Lịch bước lại:

– Thưa quan. Ngài cho xin một chữ để tổng con còn lưu danh, thỉnh kính tiền nhân ạ.

Đại thần Hiệp thống.

– Được thôi, nhưng mà tích chữ “Nghĩa sỹ Đại Lịch phụng chiếu Cần Vương. Hàm Nghi năm thứ hai”

Chánh tổng Hoàng Hữu cúi mình nhận bút tích Hán tự cả mừng lui ra. Đoạn gọi người hầu đưa đến một chiếc tráp bọc giấy bạc. Chưa ai  hiểu ông Chánh có ý gì?

– Thưa quan Hiệp thống và các hạ đại quan. Dân bản Tổng Đại Lịch xin dâng quan Hiệp thống Thủ lĩnh ba trăm lạng bạc trắng và hai mươi thắng ngựa thồ, để đại quan dùng vào việc luyện tập đạo quân.

Chánh tổng Hoàng Hữu nói, rồi trao tận tay phó Tướng công Bố chánh tráp bạc và bộ hàm thiếc ngựa đã được thuần hóa đường trường.

Hiệp thống đã lên yên ngựa tía, vội nhảy xuống mặt đường.

– Giúp Vua là giúp Nước. Ta cảm kích lòng người thiểu số tam tổng Mường Lò. Đức Vua Hàm Nghi chủ chiến nơi Sơn phòng Quảng Trị sẽ biết đến dân bản Đại Lịch, biết đến Văn Chấn Mường Lò, cùng đồng cam cộng khổ với Ngài mà bình Tây phục quốc.

Nói rồi Ngài chắp hai bàn tay, hộ vệ nâng lên yên. Ngựa Thủ lĩnh Tướng công và đoàn tủy tùng kinh lý, ngược đường rừng đèo Bẳn. Sau trận mưa rào, trời dần tối.

Đêm hôm đó, Thủ lĩnh Tướng Công ngủ lại Trại binh đèo Khau É của Đề Kiều.

Đèo Khau É (đèo Ách) dài tới bốn năm cây số, Thủ lĩnh dặn Đề Kiều, đây là cánh cổng Mường Lò, phải được chốt chặt. Dựa theo ý chủ tướng, Đề đốc Hoàng Văn Thúy cho lập Trại lưng chừng Khau É nơi có khúc cua, tường đồi dựng đứng, khe nước róc rách ngày đêm.

Nắng sớm. Nguyễn Quang Bích nhìn bốn phía, rồi chợt hỏi:

– Tướng quân  lập trại đèo này là có ý thế nào?

– Thưa Tướng công. Mươi năm trước anh em Cầm Hánh, Cầm Tám cũng hạ trại nơi này, cầm cự được nửa tháng với giặc Cờ Vàng. Đề Kiều nói.

– Thế rồi sao nữa?

Đề đốc Kiều thở dài.

– Thế giặc mạnh như bão. Cầm Tám phải lui về Suối Thia cố thủ, bảo vệ vành đai thành Viềng Công.

Thủ lĩnh Hiệp thống trầm ngâm, rồi ngẩng mặt nhìn lên dãy núi Liên Sơn.

– Cầm Hánh và anh em của ông đánh lại giặc Tầu bảo vệ đất này. Họ là những nghĩa sỹ anh hùng.

Nói đoạn Thủ lĩnh nói như giao lệnh.

– Đề đốc. Ngài cho quân binh “giồng” tre hóa dọc hai bờ suối Thia làm tường thành. Ấy là ta học cụ Cầm Hánh vậy.

Bố chánh Nguyễn Văn Giáp từ sáng nghĩ ngợi, chưa lên tiếng, dường như bây giờ mới là đúng lúc nói ra ý mình.

– Thưa Hiệp thống Thủ lĩnh. Bản doanh Pú Chạng là phải lắm; nhưng e rằng không thể bền lâu. Xin Tướng công sớm lo thêm cơ sở dự phòng.

Vương Văn Doãn đua theo:

– Thủ lĩnh. Đó cũng là điều mà hạ tướng và Võ tướng Lãnh Hoan đã nghĩ tới, và thỉnh ý Bố chánh từ mấy ngày trước.

– Các tướng! Thủ lĩnh nhẹ nhàng, quyết đoán. Ý nghĩ các tướng, ta nghe theo. Việc này, về bản doanh ta sẽ giao cho lãnh Hoan và Thủ túc.

Nguyễn Văn Giáp, Đề Kiều, Vương Văn Doãn chắp tay.

– Vâng ạ. Vâng ạ. Biết ơn Thủ lĩnh!

Đội binh Lý Hữu Kim về Nậm Mười, vợ con vẫn ở lại làng Đồng Mè, Đại Lịch xã, thuộc Tổng Đại Lịch. Tổng Khảm Trịnh Bá Đanh, lãnh Năm Phạm Đình Thọ, đốc binh Hà Đình Đặng có mặt trong buổi tạm xa ấy. Vợ chồng cha con người Mán ít khi xa nhau, bây giờ nhiệm lệnh mà đi, vợ con cha mẹ đã có đội binh đồng lòng chăm lo, Hà Đình Đặng khéo động viên làm vợ chồng Kim vui hẳn lên.

Lý Hữu Kim được đốc binh Đặng Phúc Thành cử làm Phó đội binh, và là phụ lý của Đề đốc Hoàng Đình Cương – Tướng quân đặc trách Cửa Tây. Chỉ một tháng, trại binh Nậm Mười đã có đến năm mươi tay súng tay nỏ, cả người Mán, người Mèo, người Thái Tú Lệ cùng tập luyện. Giàng Nủ Kư Nâu hứa với Đề đốc Cương, sẽ lấy thêm trai tráng ở Khua Phạ, ở Púng Luông, cả ở La Pắn Tẩn đưa về trại binh luyện tập. Phó đội binh Bàn Hiệp đề nghị lập thêm một trại ở Tú Lệ hoặc Cao Phạ thì mới hỗ trợ nhau đánh chặn được quân khố xanh khi chúng ở Than Uyên Lai Châu tràn xuống.

Các ý kiến bàn bạc thật sôi nổi, Đề đốc Hoàng Đình Cương đồng tình tất cả. Riêng việc lập thêm Trại binh ở Tú Lệ – nên là Tú Lệ – thấy thật cần thiết, nhưng việc này phải được Bộ tướng bàn thảo, Thủ lĩnh Tướng công quyết dáp. Hai mươi ngày sau Thủ lĩnh cử Bố chánh Nguyễn Văn Giáp lên thị sát Gia Hội, Nậm Khắt, Tú Lệ, Cao Phạ, và cùng Đề đốc Đặng Phúc Thành chỉ định lập Trại binh Tú Lệ, giao cho Giàng Nủ Kư Nâu (Đào Chính Lục) làm đội trưởng, kiêm giữ trại trưởng nghĩa binh, tước Đốc binh.

Trong khi Đề Cương đặc trách cửa Tây lo việc cùng cố, lập mới hai trại binh Nậm Mười và Tú Lệ, thì lãnh binh võ tướng Nguyễn Quang Hoan đóng giả làm người đi buôn trâu, sục vào các làng bản chân núi lòng chảo Mường Lò để tìm địa hình xây dựng cơ sở Bản doanh dự phòng cho đạo binh.

– Ông mua đi, con trâu này nó khỏe mà! Một chàng trai người Thái ở Hạnh Sơn nài nỉ.

Biết trai bản là người Viềng Công. Lãnh Hoan hỏi

– Thế chú có biết ông Cầm Hánh đánh giặc Cờ Vàng không?

– Có chứ, là bác nhà mình mà.

– Thế à. Tớ sẽ đến bản chọn vài con, được không?

– Được chứ! Đi luôn thôi.

– Ừ. Đi nào!

Lãnh Hoan và hộ vệ theo chân chàng trai về bản Viềng Công xã Hạnh Sơn của tổng Phù Nham.

– Mình tên là Cầm Văn Dón. Mình sẽ đưa ông đi xem thành Viềng của bác Hánh bác Hiệp([9])

Thành Viềng Công bao quanh bản Viềng Công và nằm dọc bờ suối Thia. Tường đất cao và dầy, có ba cửa nhắm ra ba hướng. Cửa tây thông ra suối Nung Nghĩa Lộ, đi Tú Lệ, Lai Châu; cửa nam tiếp giáp suối Thia, đi đèo Ách; cửa tây bắc, ra núi Voi đi lên làng bản Khơ mú và vùng Mèo Trạm Táu. Quan sát bốn phía thành hào võ tướng Nguyễn Quang Hoan nhận ra rằng bản doanh của Cầm Hánh nằm giữa cánh đồng, từ lòng thành ra đường rồi đi đến rừng già khá xa, nếu quân Pháp chiếm được cánh đồng thì nội thành sẽ bị bao vây nhanh chóng.

– Chú Dón à. Tôi sẽ mua trâu nhà Dón, bây giờ muốn Dón đưa đi xem Núi Voi kia đã.

– Ừ được, được! Cầm Văn Dón nhanh nhẹn hào hứng.

Ba “lái trâu” ra cửa tây bắc làng Viềng, vượt suối Nậm Tăng vào chân núi. Cầm Văn Dón đưa tay chỉ chỉ.

– Đây này. Cứ ngược suối là lên Nghĩa Sơn của người Khơ Mú, rẽ tay trái theo lối mòn là lên Phúc Sơn lên Trạm Táu, nơi bản người Mèo. Còn quanh quanh chân núi có thung lũng bằng mà rộng, là bản người Thái mình.

– Thế, Trạm Táu đi được đến đâu?

– Đến châu Phù Yên của Sơn La, mà vượt đèo Dè về Thượng Bằng La rồi đi Yên Lập đấy.

Cầm Văn Dón vừa nói vừa đưa ngón tay vẽ vẽ trước mặt tỏ ra thông thạo đèo núi vùng này.

– Ta thử lên vùng người Khơ Mú xem họ có trâu bán không nào?

– Ừ, đi! Mà mình cứ đến nhà trưởng bản Lả Xanh khắc biết.

– Hay quá, hay quá, đi thôi!

Hôm đó, có khách đường xa, lại được người quen là Cầm Văn Dón đưa tới tận nhà, Trưởng bản Khơ mú Lả Xanh mổ con dê tiếp đón. Lãnh Hoan thấy quý mến cả Cầm Văn Dón lẫn Lả Xanh nên hẹn sẽ quay trở lại thăm bản Khơ Mú. Nhưng lãnh Hoan chưa thăm Nghĩa Sơn mà cho hộ vệ cùng đi lần trước đến đón Cầm Văn Dón và Lả Xanh về Trại quân binh gặp tướng quân Đề Kiều. Mười ngày sau đó, thung lũng Nậm Tộc, Noong Khoang của Nghĩa Sơn và thung lũng Núi Voi của Nghĩa An được đệ trình Thủ lĩnh Tướng Công xem xét xây dựng Bản doanh dự phòng của đạo quân binh Cần Vương Tây Bắc. Lả Xanh trở thành Đội binh chỉ huy đội bảo vệ căn cứ quân binh Nậm Tộc, Núi Voi([10]).

Từ ngày có tin “quan lớn” về ở “đồi Ông Voi” (Pu Chạng). Lại thấy quân binh hạ hai ba trại quanh đồi. Ngày rằm có hạ quan đến thắp hương tế trời trong lễ xên mường. Đồi “Ông Voi” không cắm cờ nhưng có chòi gác và nhà buộc ngựa. Thỉnh thoảng dân bản quanh chân đồi thấy các “quan” đi ngựa ra vào, lại thấy chánh tổng các tổng Sơn A, Phù Nham, Đại Lịch khăn xếp áo the, có người dắt ngựa qua vọng gác vào nhà dinh. Cuối đồi có hai con voi to khỏe, quản tượng chăm sóc rất cẩn thận.

Hôm nay đồi “Ông Voi” nhiều người đến, hầu hết mặc áo the, khăn xếp, ngựa đẹp. Quanh chòi gác, có thêm binh quân đeo súng kíp đi đi lại lại trông vừa oai nghiêm, vừa để mắt vào người qua lại. Nghiêm Thái Báo được theo hầu chánh tổng tổng Phù Nham lên đồi “Ông Voi”. Lẽ ra Báo không được vào trong vọng gác mà phải ngồi chờ bên ngoài, nhưng chánh tổng bảo lãnh, thế là quân binh đồng ý. Thái Báo vui lắm, theo sát chánh tổng vào sân bản doanh rồi tự tìm chỗ ngồi, chờ ông dự họp.

Thái Báo có họ là Nguyễn, quê dưới xuôi, đời ông nội không rõ có cơ sự thế nào nên bị làng phỉ nhổ, chạy lên Văn Chấn, đổi Nguyễn thành Nghiêm. Thái Báo mang họ Nghiêm từ cuối đời ông sang đời bố.

Nghiêm Thái Báo sinh đẻ ở đất Đòng Khê. Học hết ê lê măng te (lớp ba), Báo học thêm mấy tháng tiếng Tây, có chứng thực. Một người giới thiệu, rằng, Nghiêm Thái Báo học giỏi, thông minh, tinh xảo, nhanh nhẹn, chánh tổng tổng Phù Nham thích lắm. Thái Báo về làm phụ việc cho nhà chánh tổng từ đấy. Duyên may, chánh tổng cần người soạn bài viết; cần người đỡ đón lúc quan trên truy hỏi; cần người đi bên mình để tác động các quan bạn các hào lý vùng dân tộc thiểu số. Và cũng cần biết dùng khẩu súng ngắn “pạc hoạc” mà quân Cờ Vàng bỏ lại lúc tháo chạy. Bắn thì chưa nhất thiết, nhưng oai hơn các hào lý Văn Chấn là chắc chắn.Nghiêm Thái Báo trở thành thư ký, thành vệ sỹ, thành người xử lý mọi tình huống phải thành trái, trái thành phải của chánh tổng Đào Ngô Dụng. Thực lòng, dùng người giỏi hơn mình, Chánh Dụng không thích nhưng được việc. Biết thế nên Tổng Dụng luôn thủ sẵn món bài “cười nhạt” với Báo khi cần thiết.

Ba mươi phút ngồi chờ ông Chánh vào họp Thái Báo có đủ thời gian nhìn ngắm, dò chuyện dõng binh, và lập luận những điều tai nghe mắt thấy ở quanh khu vực Pu Chạng Mường Lò.

– Cụ Chánh ơi, họp gì mà lắm hào lý các tổng đến đây thế ạ? Thái Báo tò mò, vừa như công việc được cần biết, vừa tỏ lòng thân mật với ông chủ.

– À…! Vận động dân góp súng đạn, góp tiền nong, gạo thịt nuôi quân binh kháng chiến mà.

– Tổng ta có phải góp nhiều không cụ?

– Tùy tâm ấy mà, càng được nhiều thì càng tốt. Với lại lập các đội dân binh ở làng bản, nếu giặc Pháp vào thì đánh!

– Thế ý cụ, tổng Phù Nham ta làm thế nào?

– Ờ! Về bàn với Hội đồng hào lý cái đã. Chú xem đôn đốc giúp tôi.

– Vâng, vâng. Việc này dễ. Cụ cứ giao việc cho các lý trưởng, tạo bản đi. Cháu sẽ đốc đạo, Tổng ta phải nộp song trước Đại Lịch, Sơn A.

– Được thế thì hay. Tôi đang lo.

– Hì hì. Đã bảo cụ cứ để cháu lo giúp. Đấy. Mỗi lần lên Châu phủ cho cháu đi cùng, giúp cụ được bao nhiêu việc.

– Ừ! Từ nay tôi đi đâu, làm gì, chú sẽ được theo, để về còn giúp tôi thực hiện.

– Con cám ơn cụ Chánh tổng.

Chánh tổng Đào Ngô Dụng và trợ lý riêng Nghiêm Thái Báo vừa đi vừa trò chuyện. Thoáng cái đã qua suối Thia, về đến phủ Tổng.

Quả nhiên, mới chỉ một tuần, Sơn phòng Bản doanh Đạo binh đặt tại Tông Co đã nhận những xe ngựa hàng hóa đầu tiên của tổng Phù Nham. Ngoài thóc gạo, trâu bò, còn có năm khẩu súng săn. Đại diện Phù Nham là trợ việc chánh tổng Nghiêm Thái Báo được đích thân Đề đốc Hoàng Văn Thúy vỗ vai:

– Dân bản Phù Nham tốt quá. Chánh tổng tổng Phù Nham giỏi quá.

Đề đốc vừa dứt lời, Thái Báo ngần ngừ, rồi rắn rỏi đáp.

– Thưa quan, việc ấy cụ Chánh giao cho con lo đấy ạ!

– Thế à?

Đề đốc Kiều cười. Lại vỗ vai khen Thái Báo.

Thấy địa thế Đèo Ách chỉ hợp với phục kích đánh chặn, không thuận cho Trại doanh. Đề đốc Hoàng Văn Thúy cho rời trại binh vào trong đèo, nơi ấy là thung lũng của ba con núi: Khau É (Đèo Ách), Huổi Bu (Suối Bu) và Khau Phắt của Đồng Khê. Trại dã chiến Đồng Khê vừa có thể phản công, đẩy giặc ra khỏi Khau É, vừa chi viện Mường Lò nhanh nhất nếu quân Pháp từ Lai Châu đánh xuống. Khi cần, vượt núi Tè sang Thượng Bằng La đi Yên Lập hoặc ngược rừng Suối Bu lên vùng chè của người Mèo trên núi Suối Giàng. Thủ lĩnh Tướng công đồng ý, và nói thêm:

– Nhiều tù trưởng người dân tộc đã theo ta, mà ta thì chưa đáp lễ đồng bào làng bản, áy náy trong lòng.

– Hiệp thống. Điều đó cũng là đúng thôi. Làm sao cho dân bản và các tù trưởng hiểu việc giúp vua cứu nguy đất nước mà tự lập các đội dân binh khắp các địa bàn Tây Bắc, Pháp đến, tự đánh Pháp. Âu cũng là báo đáp đồng bào rồi.

Nghe Đề đốc Hoàng Văn Thúy phân giải. Hiệp thống Quân vụ trầm ngâm:

– Thẻ tất, ta nhắc thủ túc soạn một bức thư tỏ lời cảm tạ, được chăng?

– Vâng. Ý Hiệp thống thế là hay. Nhưng nên lựa chọn ngày đề tựa.

– Nghĩa là…

– Vâng. Đại thần Hiệp thống. Nên nhằm ngày Đức Vua ban chiếu Cần Vương, tựa như lời Triều đình chủ chiến ủy thác Đại thần thúc giục toàn dân vậy.

Dừng lại giây lát như để giúp Thủ lĩnh giải thoát mối băn khoăn e lẽ phạm thượng. Đề đốc nói tiếp.

– Và ngài gửi gắm lòng mình vào cuối lời thư đó.

Nguyễn Quang Bích hiểu ngay ý của Đề đốc, vừa tránh lẽ chạm phạm đến Đức Vua, vừa bộc lộ thông tâm của mình trước đồng bào, mà tế nhị hơn cả, là mượn “thi cảm Ngư Phong” để bộc bạch.

Thủ túc Trần Ngọc Dư soạn một bức thư ngắn, lời lẽ nhân nhớ hai năm ngày Đức Vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương (tháng 8 Ất Dậu – Đinh Hợi). Cuối thư là lời cảm tác của Hiệp thống Nguyễn Quang Bích Ngư Phong. Thi cảm, tưởng như không liên quan gì đến kháng chiến. Văn dẫn như sau:

Được dân Mèo tiếp đón, về nhà cảm tác.

Trên núi cao muôn trượng có một ngôi nhà rộng

Mọi người vui vẻ tụ họp, sinh sống yên ổn

Hai con suối uốn khúc chảy ngay lối cửa vào

Rặng núi lô nhô dòm ra trước mặt

Không chuộng hoa văn, còn giữ lề thói chất phác xưa

Làm hay nghỉ không cần biết, coi thường đói rét

Nghe nói có ông quan đến, họ (dân Mèo) trực sẵn để đón tiếp

Đến đây, ông quan muốn trào nước mắt!([11])

Lời ngỏ của Hiệp thống Thủ lĩnh đã được gửi đi. Đề Kiều lại cùng thủ túc Dư mở một cuộc họp nhỏ tại sân bản doanh Pu Chạng. Các bản Thái gần đó cử dân chúng đến giao tiếp. Đây là lần đầu tiên Đại thần Quân vụ gặp gỡ trực tiếp với các lớp tuổi bản mường Nghĩa Lộ. Mà cũng là lần đầu tiên người già, trẻ nhỏ, và thanh niên trai tráng địa phương được nhìn tận mắt vị quan Đại thần Triều đình chủ chiến với dung nhan Ngài vừa quắc thước, vừa hiền hậu, vừa như kiên định ý chí, lại như hào hiệp, khoan thai. Tạo bản Tông Co đưa đến một đội gái xòe, trung niên có, thanh nữ có; ai ai cũng xinh tươi, váy áo dịu dàng uyển chuyển. Tiếng nhạc rung rung, tiếng khèn bè khàn khàn dìu dập. Bỗng chốc, bốn năm cô gái Thái áo cỏn trắng bước đến trao vào tay Hiệp thống Thủ lĩnh và các tướng quân tấm khăn piêu năm cút. Ngư Phong Tướng công nhận khăn mà lòng tự bạch: “Nước Nam ta có nền văn hóa, Tổ tiên giữ được, con cháu nỡ để người Tây giật cướp đi sao?”

Đêm ấy. Đêm xòe Mường Lò, vui tưởng như trời chóng sáng.

Tướng Muniezơ công sứ Bắc Kỳ bí mật đi tầu thủy ngược sông Hồng rồi đột ngột xuất hiện ở thành phủ Trấn Yên. Chỉ có các quan tướng Pháp có mặt: Tướng Bricdlin thống quản miền tây, tướng Giamông tổng chỉ huy mặt trận sông Thao, đại tá Jemmolanh tham mưu trưởng đạo quân miền Tây và đại tá Borítx, đại tá Mốtxiông. Duy nhất một người Việt được phép đi bên công sứ, đó là đại úy do thám Trương Đen.

– Ngài Brícdlin, ngài Giamông. Tôi có lời ca ngợi các ngài về việc đánh bật được quân phiến loạn bản sứ khỏi tất cả Cẩm Khê, Hạ Hòa, và đã bình định xong phủ Trấn Yên. Thời gian nữa thôi, Công sứ Bắc Kỳ sẽ cho lập thành sứ Bái Dương thuộc phủ Trấn Yên, tiến đến việc lập Toà công sứ miền Tây và hệ thống đồn bốt tại làng An Bái phủ Trấn Yên này. Các ngài vừa lo việc lớn, vừa phải lo quét sạch quân giặc cỏ phiến loạn. Người Pháp sẽ thống lĩnh toàn bộ vùng đất Tây Bắc trong vòng hai ba năm tới. Hy vọng các ngài không làm cho nhà nước Đại Pháp phải hổ danh ở Đông Dương.

Nói một mạch, công sứ Muniezơ vung tay chào kiểu nhà binh rồi bắt tay các tướng tá trước khi bước xuống tầu thủy rời khỏi Bến Lâu.

Tướng Giamông đến thị sát làng An Bái ngay bên miếu Ngọc Am, vừa đi vừa hỏi Bo rítx.

– Đại tá. Bao giờ ngài kiểm soát Tổng Đại Lịch và mở được cửa vào Mường Lò?

– Thưa ngài trong vòng hai tháng. Borítx đáp.

Giamông quay sang Trương Đen

– Đại úy, ngài đã sẵn sàng thông tin cho đại tá Borítx rồi chứ?

– Dạ. Tôi đã sẵn sàng.

– Tốt. Vậy thì tôi ra hạn cho các ngài không quá hai tháng phải có mặt tại Nghĩa Lộ, thủ phủ của Mường Lò!

Giamông nói như ra lệnh rồi giơ tay ra chào. Đội vệ sỹ đỡ viên chỉ huy mặt trận sông Hồng lên ngựa về dinh tư lệnh đặt trong trại binh Tuần Quán.

Lời tướng Brícdlin và tướng Giamông như đinh đóng vào tâm trí chiến trận của Giamông. Không đắn đo nhiều, đại tá Giamông quyết định thực hiện chiến dịch đánh sâu vào Văn Chấn. Việc đầu tiên là ra lệnh cho lính về bắt cóc người nhà của Tổng khảm Trịnh Bá Đanh dựa theo mưu kế của trưởng phòng do thám Trương Đen. Hai ngày sau, Trịnh Bá Hoàn, anh cùng cha khác mẹ của Trịnh Bá Đanh đã ở tuổi lên lão sức yếu, bị quân Pháp bắt đưa về đội Tuần Quán.

Nhóm thám báo “Chuột rừng” được đổi tên thành Nhóm T90. Nghĩa là nhiệm vụ của nhóm phải hoàn thành trước 1890, năm mà tướng Muniezơ Công sứ Bắc Kỳ ấn định khai trương nhà Công sứ Pháp tại làng An Bái, cũng có nghĩa toàn bộ phủ Trấn Yên và Châu Văn Chấn đã nằm trong sự kiểm soát của Công sứ Pháp.

Bây giờ thì nhóm T90 đang chụm đầu vạch kế hoạch tiến công quân binh của Nguyễn Quang Bích. Đại úy Trương Đen đến dự.

– Các ngài có biết không? Trương Đen hùng hồn. Tướng Pháp Brích đlin nói rằng. Quân phiến loạn kia không phải là giặc cỏ như ta nghĩ nữa; mà là một đạo quân thiện chiến theo kiểu đánh du kích của Triều đình chủ chiến. Họ đang dương cờ Cần Vương bài Tây. Ngừng một lát Trương Đen lại hùng hồn. Mà Nguyễn Quang Bích cũng không còn là Tuần phủ dân sự, ông ta là quan Đại thần quân vụ Bắc Kỳ chỉ đứng sau Tôn Thất Thuyết. Phòng Do thám của ta phải nhận diện cho đúng đối phương mà kiến xuất với người Pháp.

Đám đánh thuê dưới quyền ngồi im phắc. Quỵch, Quý đất, Bình Trâu, Phạm Duy nhìn nhau, miệng há hốc.

– Bây giờ Nguyễn Quang Bích và bộ sậu của ông ta đang ở đâu? Ai, ai trả lời cho Trương Đen này biết?

Quỵch, Bình trâu, Quý đất… đều im bặt.

Trương Đen lại nhắc.

– Hả? Có ai biết không. Tôi nói đây này, kẻ cầm đầu đạo quân phiến loạn Triều đình là Nguyễn Quang Bích, đang ở Mường Lò. Địa bàn hoạt động của ông ta mang mật danh Rừng Già đã trải rộng khắp Tây Bắc mà T90 của Phòng Nhì (phòng do thám) chỉ loanh quanh trên đất thành phủ chực ăn sẵn. Các ngài có thấy xấu hổ không?

Đại úy Đen như trút cơn bực tức cuống đầu thuộc hạ.

Bình trâu rụt rè.

– Thưa đại úy. Nhưng quân số của đội mỏng quá không kham nổi.

Trương Đen trợn mắt.

– Nổi. Ngay ngày mai T90 của các ông chia làm hai tốp, xâm vào tổng Đại Lịch, vào tận Mường Lò, nắm chắc tin tức báo về. Còn khu vực phủ thành Trấn Yên, để đấy, sẽ có người lo.

– Vâng ạ, vâng ạ. Cám ơn ngài Cai Đen.

Trương Đen nói và buộc đám quân do thám lao ngay vào cuộc. Khác những lần trước, lần này gọi là chia nhóm, nhưng mỗi nhóm chỉ có một người. Lê Bình với biệt danh là Bình trâu điên, theo đường chính vào Đại Lịch. Còn Nguyễn Quý, gọi là Quý đất sang đò bến Lâu, giả danh người mua thuốc nam, đi thẳng vào Mường Hồng nơi đặt phủ tổng, tổng Lương Ca. Với cách giả danh đơn độc như thế, ít ai nghĩ những người đi tìm người nhà, đi tìm thuốc lá rừng, có lúc vào chợ mua hàng, hay xem hội vãn cảnh… lại là những tên thám báo của Phòng nhì thuộc Ban tham mưu miền Tây quân đội Pháp ở Bác Kỳ. Phòng nhì được phát triển từ phòng do thám. Ngoài nhiệm vụ chính là do thám, thu thập tin tức, phòng nhì còn được phép bắt cóc, tra tấn, thủ tiêu đối tượng, tung tin giả, cần thiết thì vu khống, miễn sao nắm được tin tức đúng nhất nhanh nhất và bí mật nhất. Phòng nhì do đại úy Trương Đen phụ trách, trên Đen, vẫn là Jemmolanh tham mưu trưởng miền Tây sỹ quan tinh nhuệ, luôn coi thường Borítx, viên đại tá trận chiến có tiếng.

Borítx trình lên Ban tham mưu miền Tây kế hoạch đổ quân bộ với số lượng lớn, quét sạch quân nghĩa binh Cần Vương ở tổng phủ Đại Lịch, rồi tiến thằng vào Nghĩa Lộ.

Jemmolanh:

– Ngài Borítx thân mến. Ngài vẫn còn nhớ bài học Ngòi Vần và bài học Nước mát đấy chứ?

– Tôi nghĩ đó chỉ là đốm lửa nhỏ chưa kịp dội nước đấy thôi.

– Đúng. Nhưng khi đốm lửa ấy đã bùng lên thành một mảng nương, rồi một đồi rừng. Ngài sẽ dập bằng cách nào?

Borítx im lặng. Miệng cắn móng tay, không nói. Jemmolanh được đà:

– Ngài hãy dùng chiến thuật, tinh nhuệ và khôn ngoan. Ngài Borítx. Chúc ngài đại tá thắng lợi.

Đại tá Jemmolanh nói rồi, vẫy tay viên sỹ quan cận vệ. Cả hai bước ra cửa trại binh Tuần Quán.

Không muốn nghe theo lời khuyên của tham mưu trưởng Jemmolanh, nhưng cũng không thể làm khác. Borítx lên kế hoạch tiến đánh Đại Lịch theo kế bày đặt của Trưởng phòng nhì – đại úy Trương Đen. Đồng thời chuẩn bị lực lượng dự trữ nếu thời cơ đến, Jem sẽ đích thân chỉ huy đại binh đánh cấp tập vào hai điểm mấu chốt nhất đó là Đại Lịch và Đèo Ách.

Đốc binh Lê Văn Nghìn chắn giữ cửa ải Vần Dọc thấy quân thám sát về báo tin Pháp đang tập trung quân lính rất đông ở cả hai khu Bến Lâu và đầm Vân Hội. Lần này có cả Âu Phi và súng máy. Lê Văn Nghìn cho liên lạc vào Mường Lò thỉnh thị Vương Văn Doãn. Doãn đang cùng Thủ lĩnh bàn thảo. Tướng công bất ngờ hỏi.

– Lê Văn Nghìn là tướng giỏi, nhưng quân Pháp đông và có súng lớn, liệu đốc binh có nao núng không?

Vương Văn Doãn tự tin đáp.

– Liên lạc nói, Tướng quân bình thản lắm. Nhưng Đốc binh xin được điều binh hỗ trợ.

Trầm ngâm một lát. Thủ lĩnh sai hộ vệ lấy một tên nỏ, bẻ gập đôi rồi giao cho Vương Văn Doãn

– Tướng quân gửi mũi tên này cho Đốc binh, nói rằng Hiệp thống nhờ cậy.

Vương Văn Doãn cho gọi Trịnh Bá Đanh đến:

– Thám sát của ta cho biết, quân Pháp đang tập trung quân ở cả hai cánh của Vần Dọc, súng đạn lớn, lại do viên tướng Borítx chỉ huy. Hẳn sẽ là chúng có mưu đồ thôn tính gọn tổng phủ Đại Lịch rồi lập doanh trại ở đấy. Tướng quân cùng với Đốc binh chặn giặc. Nhược bằng không thành thì cho quân tản lên rừng, còn các tướng vờ rút chạy về đầm Rôm Đại Lịch, tướng Pháp tất đuổi theo, mai phục ta đánh gập lại. Đây cũng là tương kế tựu kế của Tướng công quân vụ.

Lê Văn Nghìn, Trịnh Bá Đanh bước ra. Hai tướng bàn định rồi cho tốp quân bố phục tại đèo Din, tốp khác tại đèo Cuồng. Đèo Cuồng đã sát với Gò Lim thành phủ tổng Đại Lịch. Nếu quân Pháp lọt được vào đây bằng mọi cách phải “điệu hổ ly sơn”, kéo chúng lạc hướng về chằm đầm Rôm để bao vây quây đánh. Việc đánh giặc trên vùng đầm lầy thì Tổng Khảm đã nhiều kinh nghiệm của ngày lưu trụ đồn Đầm Mực Cẩm Khê, nên rất tự tin. Theo đề nghị của Tổng Khảm, phó Đề đốc Vương Văn Doãn cho Lãnh Năm chặn đường đèo Bẳn, Lãnh Tế chặn đường Ngòi Thé, bảo vệ trại doanh Gò Lim và đồn Lũng Gà, đốc binh Hà Đình Đặng và Hoàng Đình khép kín  khóa đuôi quân giặc để Tổng Khảm và Lê Văn Nghìn đánh gập lại.

Phó Đề đốc Vương Văn Doãn và lãnh binh Phạm Đình Khải chuẩn bị phương án “đánh gập” mà Thủ lĩnh Tướng công đã mật chỉ.

Vương Văn Doãn nhận được mẩu giấy của mật binh nằm vùng thành phủ Trấn Yên Đặng Lanh chuyển đến từ người nhà hào lý Trần Đình lên Đại Lịch “ăn giỗ”. Mẩu giấy viết: “Đoàn đi đón dâu có đến trăm người, đem theo nhiều gánh nặng, do ông quan lai Tây làm trưởng đoàn”. Cuối thư lại dặn: đốt thật nhiều pháo để cả làng ùa ra…

Hoàng Đình, đội binh Thanh Bồng mật dịch, mặt bỗng tái nhợt quay sang Vương Văn Doãn.

– Quân Pháp đông lắm có tới trăm tên, nhiều súng lớn, do tướng Tây chỉ huy. Cần phải đánh giáp lá cà.

Vương Văn Doãn bình thản.

– Đó cũng là kế ta. Lõng gà đã được quăng dò![12]

Nói rồi, Vương Văn Doãn Đề đốc vỗ vai các nghĩa binh, cười cười, nói như cổ vũ:

– Nào, các tướng quân, nghĩa sỹ ta sẽ đánh thắng trận càn này, người Pháp phải thua, tiếng vang còn mãi đến đời sau được chứ?

Các tướng binh đứng quanh hô vang.

– Vâng lệnh Phó Đề đốc. Vâng lệnh Tướng quân!

Cùng một lúc Hiệp thống Thủ lĩnh nhận được hai tin vui do Thủ túc đưa đến.

– Thưa Đại thần Hiệp thống. Phan Đình Phùng tiên sinh vừa dấy binh ở Hương Khê Hà Tĩnh, nghĩa sỹ nườm nượp kéo cờ về hưởng ứng, Đại thần Tôn Thất thuyết từ Côn Minh viết thư ca ngợi. Tướng quân nhắn tin, nếu có vũ khí thì gửi vào hỗ trợ Hương Khê chiến đấu lâu dài.

Nguyễn Quang Bích vuốt vuốt chòm râu thưa.

– Vậy là sau Tống Duy Tân, Hà Văn Mao, Ba Vành, dấy binh Ba Đình ở xứ Thanh, Nguyễn Cao ở Bình Định, giờ đến Nghệ Tĩnh. Sớm muộn sẽ là cả miền Trung nổi lên đánh Pháp. Ta có ý đón Phan tiên sinh ra Nghĩa Lộ để bàn định việc ủy thác.

Trần Ngọc Dư thưa.

– Đại thần Hiệp thống cứ gửi vũ khí kèm theo thư mời đến Phan Đình Phùng. Trộm nghĩ Tiên sinh Phan tiến sỹ sẽ nhận lời mà sắp xếp thì giờ ra Mường Lò.

Thủ túc lại chuyển tin quân Lê Văn Nghìn đánh chặn bọn giặc Pháp ở Tuy Lộc khiến chúng phải rút lui bằng đường thủy.

– Lê Văn Nghìn và ai chỉ huy mà thắng trận Tuy Lộc?

– Dạ. Đốc binh Nghìn cho dựng đồn giả, quân thủy tưởng có đại binh nên đánh úp giữa đêm khuya, bị đội dân binh Nguyễn Quang phóng hỏa đốt cháy trại, bọn giặc chết bỏng năm sáu chục thằng. Thừa cơ quân và dân của Quang rút vào làng Bái Dương.

– Thật hay. Quân binh biết dựa vào dân binh mà đánh giặc. Ấy mới cao kiến. Thủ túc, ta muốn nhân dịp này mục sở thị phủ thành Trấn Yên và úy đạo quân binh dân binh Bái Dương.

– Thủ lĩnh. Thế giặc đang mạnh, mưu đồ theo sát, bao vây, cất vó Đạo binh ta vẫn đang tiếp diễn. Ngài nên ẩn túc nơi bản doanh mà điều hành từ xa, cũng đã là phải lẽ.

Không kinh lý phủ Trấn Yên, Thủ lĩnh Tướng công đưa theo võ tướng Quang Hoan, thủ túc Trần Ngọc Dư, đóng giả dân bản vào sâu thung lũng Nậm Tộc xem xét địa hình nơi sẽ đặt bản doanh dự phòng.

Borítx giao cho thiếu tá Pát xăng chỉ huy mũi thọc sâu vào Đại Lịch với ý đồ chọc thủng mọi phòng tuyến, ém quân, làm nội ứng cho đại binh tiến vào.

– Cho phép ngài chọn những lính chiến tinh nhuệ nhất. Borítx cười nói thêm – những lính chiến không biết đến sát thương trên đường đi.

Pátxăng:

– Thưa đại tá. Đội binh Pátxăng này sẽ đi từ hồng tâm mà thúc ra, sẽ đón ngài đại tá giữa phủ tổng Đại Lịch đúng ngày hẹn.

– Tốt, tốt!

Borítx lại gọi Gobe

– Ngài Đại úy, giao cho ngài đội quân đánh chiếm Hưng Thịnh. Nếu có cơ hội, vượt đèo… tiếp ứng thiếu tá Pátxăng. Được chứ?

Gobe:

– Thưa đại tá. Việc đó dễ dàng. Tôi và ngài Pát sẽ mở rượu sâm panh đón đại tá ngay tại Tổng phủ. Gobe huyênh hoang nói.

Borítx vỗ vai.

– Hay lắm. Borítx này có tả có hữu. Còn ta ư? Trầm ngâm giây lát. Bo gật gật. Ta và trung tá Ben sẽ thúc đại quân tổng hợp, đạp tung cánh cổng Đại Lịch mà ung dung phi ngựa chiến vào Mường Lò. Ha ha!

Viên sỹ quan Pháp được mệnh danh là “Tổng chỉ huy chiến dịch truy quét quân phiến loạn Tây Bắc” Borítx, nói, và làm ngay.

Rạng sáng một ngày tháng 10 năm Đinh Hợi đại tá Borítx ra lệnh tấn công lần thứ ba đánh chiếm Tổng phủ Đại Lịch, mở cửa vào Nghĩa Lộ.

Gobe cao ngạo phốc lên ngựa đen, dẫn theo năm chục lính khố xanh, thẳng đường Bến Lâu tiến vào Hưng Thịnh. Đội quân nón dấu, quần cộc túi bốn phía, kẹp súng bờ ra nô, súng hỏa mai ém vào làng Kháo chờ lệnh. Trời tang tảng sáng.

HÀ LÂM KỲ

(Còn tiếp)

____________________

[1] Trần Đình Thành Thổ hào người làng Vần, Lãnh binh Cần Vương, từng được vua Hàm Nghi thụ phong “thống lĩnh Thao Hà thủy bộ tướng quân” dưới quyền Hiệp thống Nguyễn Quang Bích. Giai thoại kể: Ông được Vương Văn Doãn tôn làm “Huynh thứ” (anh thứ) trong lần giao kết anh em. Trần Đình Thành có em gái là Trần Thị Gấm kết quyên với Đốc binh Hà Văn Đặng (Đại Lịch). Cháu đích tôn của cụ Trần Đình Thành là Trần Đình Khánh – Cựu Chánh tổng Lương Ca. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông Khánh là đại biểu Quốc hội khóa I, Chủ tịch Ủy ban hành chính Kháng chiến tỉnh Yên Bái (theo Nguyễn Liễn. Bảo tàng Yên Bái).

[2] Phạm Đình Khải (tức Lãnh Tế), Phạm Đình Thọ (Lãnh Năm) đều là người Tày xã Đại Lịch, Văn Chấn. Hậu duệ hai ông nay ở Đại Lịch, nhiều người là sỹ quan cấp tá trong ngành công an.

[3] “Dời chỗ ở, đến Thượng Bằng La” (Thơ Nguyễn Quang Bích)

[4] Sách: Đình Nguyên Hoàng Giáp Ngư Phong Nguyễn Quang Bích. NXB Văn học 2013. Tr119.

[5] Kư Nâu, có tên tuổi trong lịch sử chống Pháp TK XIX của tỉnh Yên Bái, tác giả chưa có điều kiện tìm gặp con cháu, nhưng chắc chắn hậu duệ có ở các xã Nậm Khắt, Nậm Lành, Nậm Mười thuộc huyện Văn Chấn ngày nay.

[6] Giai thoại Ngành 4 họ Hà Đình xã Đại Lịch do nghệ nhân Phạm thị Thức 84 tuổi (1980) kể: Hà Văn Đặng người Tày làng Khe Liền, đã quen biết cô gái làng Vần tên là Trần Thị Gấm. Trong một lần đi hội, gặp bạn gái, Hà Văn Đặng ra lời hát đối: Binh đao, giặc giã. Chẳng hay/Đường xa, ngựa lạc. Lối này ai đi? (Có ý hỏi, đã có ai đến với nàng?). Trần Thị Gấm trả lời vừa khéo léo vừa tránh trực tiếp: Áo anh rụng đỏ hoa gì/ Binh đao giặc giã, mà đi mấy người? (Có cần thêm người giúp sức không?). Phong trào Cần Vương Tây Bắc tan rã, đốc binh Hà Văn Đặng (nhân vật Hà Đình Đặng) về làng, bà Trần Thị Gấm trở thành vợ ông, đốc binh Hà Văn Đặng chính là Cụ nội của tác giả – Nhà văn Hà lâm Kỳ.

[7] Đầu TK XIX. Pháp đặt Châu Văn Chấn thuộc phủ Quy Hóa. Châu Văn Chấn có 10 sách: Đại Lịch, Thượng Bằng La, Nghĩa Lộ, Phù Nham, Tú Lệ, Sơn A, Thạch Lương…

[8] Trà Hải dịch: Ngàn trùng núi ngất cao/ Suối chảy lượn vòng bao/ Chật lòng khe đá dựng/ Mưa xuống nước dâng trào/ Ai trông đều kinh hãi/ Ngất trời thác như lao/ Chốc lát mưa chợt tạnh/ Nước rút, núi dềnh cao.

[9] Cầm Hánh, tạo bản Viềng Công xã Hạnh Sơn văn Chấn – Thủ lĩnh cuộc chiến chống giặc Cờ Vàng ở Văn Chấn Nghĩa Lộ (với sự tham gia của các em: Cầm Hiệp, Cầm Tán) những năm giữa TK XIX. Nay có đền thờ tại thị xã Nghĩa Lộ.

[10] Theo lời Nghệ nhân ưu tú Lò Văn Biến thị xã Nghĩa Lộ (2015)

[11] Sách: Ngư phong Nguyễn Quang Bích. Chủ biên GS Đinh Xuân Lâm. NXB Văn học. 2013.  Trang 197. Nguyên chú của tác giả Nguyễn Quang Bích: Núi này rất cao ở Châu Phù Yên. Viên tổng quan ở đây họ Mã, nghe tin tôi tới, ông đem dân chúng ra đón tận ngoài trăm dặm, đưa về tới nhà, tình cảm rất ân cần. (Sách trên. Trang 197).

[12] Người Tày có nghệ thuật bắt gà rừng bằng cách đan hàng chục tay dò bằng dây dù rồi cắm quanh lối gà hay đi; gà thấy thóc rơi, chui đầu sang ăn, bị vòng dò thắt lại.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *