Sóng, gió và miền yêu dấu thả qua một dòng sông

Vanvn- Người ta bảo “văn chương phải có người truyền lửa” quả không sai – Trương Minh Hiếu được truyền lửa đam mê sau thời gian dài say sưa công việc. Bắt đầu từ chuyến về thăm người thầy của Nhóm Búp Trên Cành ngày xưa: nhà thơ Kim Chuông, khi nghỉ hưu cũng về Hải Phòng sống và viết, cùng ở trung tâm thành phố với Hiếu.

Nhà thơ Trương Minh Hiếu

1. Hiếu và Thơ

Các bạn trong nhóm Búp Trên Cành (nhóm Những học sinh đội tuyển quốc gia môn văn được tuyển chọn về Lớp bồi dưỡng dành cho thiếu nhi có năng khiếu sáng tác văn học nghệ thuật mở đầu tiên trên cả nước từ năm 1976-1998 của Hội Văn học Nghệ thuật Thái Bình) thường nói rằng “Trương Minh Hiếu có cái tên đúng như người vậy! Bởi, bạn này nổi tiếng là hiếu thảo”. Tình yêu thương cha mẹ ở Hiếu không chỉ là lòng biết ơn, mà còn luôn là sự quan tâm, chăm sóc ân cần. Có đêm mùa đông lạnh buốt, Hiếu chạy xe gần trăm cây số để kịp về chăm mẹ khi mẹ bị ốm, hoặc về để ăn với mẹ bữa cơm quê, rồi đợi mẹ ngủ ngon mới trở về Hải Phòng cho kịp giờ làm sáng hôm sau… Hiếu chăm lo cho mẹ chu đáo những mong tuổi già của mẹ luôn đủ đầy và ấm áp.

Hiếu sống ân tình với thầy xưa bằng sự chu toàn và niềm kính trọng. Nhà thơ Kim Chuông – người thầy của nhóm Búp Trên Cành chúng tôi luôn nói về Trương Minh Hiếu với tất cả niềm tự hào, yêu mến. Tôi nhớ mãi câu chuyện của nhà thơ Kim Chuông kể, ngày nhà văn Nguyễn Hoa (nhà văn Nguyễn Hoa cũng là một trong số các thầy dạy nhóm Búp Trên Cành) bị bệnh, đó là thời kỳ kinh tế còn nhiều thiếu thốn, khó khăn. Khi đã là cán bộ của Công ty Bảo Việt Nhân thọ Hải Phòng, trong chuyến công tác tại Thái Bình, biết tin thầy Nguyễn Hoa bị bệnh (thời gian ấy, thầy Nguyễn Hoa đã nghỉ hưu), Hiếu mua quà vào thăm thầy. Đến nhà thầy đã gần khuya, Hiếu gọi cửa mãi mà không được, mặc dù trong nhà vẫn lờ mờ sáng điện và loáng thoáng bóng người. Tủi thân, Hiếu treo túi quà lên móc cổng rồi lủi thủi vừa khóc, vừa lững thững dắt xe quay trở ra. Sau này tìm hiểu lại mới biết, hôm đó nhà văn Nguyễn Hoa rất yếu, lại khó ngủ nên “cụ bà” không muốn có tiếng động làm người bệnh trở giấc.

Ngày 20.11 năm 2023, tôi đang dự lễ ngày Nhà giáo Việt Nam ở trường thì có hai nhân viên Bảo Việt Nhân thọ Bình Phước tìm gặp. Họ mang theo quà của Hiếu gửi từ Hải Phòng vào. Hoa và trái thắm tươi cùng lời nhắn: “Em chúc chị 20.11 vui vẻ!”. Nhiều đồng nghiệp của tôi trầm trồ vì hoa đẹp và hơn cả là tình cảm quý mến của hai chị em tôi ở cách xa nhau cả ngàn cây số. Biết tôi cùng các đồng nghiệp và các văn nghệ sĩ phía Nam xây dựng nhóm Búp Trên Cành Đồng Nai (dành cho những học sinh từ tiểu học đến THPT có năng khiếu sáng tác văn học nghệ thuật), Hiếu luôn động viên tôi và nói: “Chị làm việc này giá trị và ý nghĩa quá! Em mong sao sau này, nếu có điều kiện, em sẽ cố gắng tổ chức lớp như chị, tại Hải Phòng!”. Việc in sách tập hợp sáng tác của các em học sinh cần khá nhiều kinh phí, tôi đang loay hoay thì nhà ngoại giao, nhà thơ Trần Huyền Tâm (Tổng Biên tập trang Văn học nghệ thuật Nhà Búp) điện vào, thông báo “Kinh phí in sách cho các cháu, em và Trương Minh Hiếu sẽ hỗ trợ chị nhé!”. Tôi vui và cảm kích thật nhiều!

Ngày nghỉ, Hiếu hay gọi điện kể cho tôi nghe hành trình phấn đấu trở lại với văn chương của Hiếu. So với các thành viên khác của Nhà Búp, Hiếu trở lại muộn hơn nhưng thuộc tốp đặc biệt và thần tốc.

Dù chúng tôi học sáng tác văn học nghệ thuật từ thuở 9, 10 tuổi, (bạn lớn nhất lớp 14 tuổi), thầy dạy là những nhà văn, nhà thơ và họa sĩ hàng đầu của cả nước, nhưng khi lớn lên, mỗi đứa lại chọn con đường nghề nghiệp riêng: xuất sắc như Trần Huyền Tâm thì học Ngoại giao, Nguyễn Nga và Trương Minh Hiếu thì Bách khoa Hà Nội, Vũ Huy Thông thì Kinh tế quốc dân, Bùi Thanh Huyền thì học Luật tại Liên – xô (cũ). Vài ba bạn thì chọn ngành Báo chí, còn đa số chúng tôi chọn học nghề Sư phạm. Ở lĩnh vực nào, các thành viên Nhà búp cũng đều gặt hái những thành công nhất định.

Lại trở về chuyện của Hiếu, con đường học hành, nghề nghiệp của cậu chàng này thật lắm bất ngờ. Này nhé: năm 1976 học lớp 4 trường làng đạt học sinh giỏi văn của tỉnh, được chọn dự thi toàn miền Bắc, lớp 7 thi học sinh giỏi văn quốc gia. Vinh dự là thế nhưng cậu bé 15, 16 tuổi ấy lại bị “lung lay” trên hành trình theo nghiệp văn chương vì “lời xì xèo” của mấy “người bạn ở quê”, rằng “con trai học giỏi văn là …hâm!?”. Sợ bị “hâm” thật, vào cấp 3, Hiếu quyết tâm chuyển sang học toán, lý, hóa. Vất vả, khó khăn nhưng kiên trì, Hiếu đã thi đỗ vào Trường đại học Bách khoa Hà Nội, khoa Chế tạo máy, chuyên ngành Hàn và Công nghệ kim loại. Dù suốt ngày lên giảng đường với các con số nhưng “máu thơ văn” trong người thì vẫn dâng cao. Hiếu tham gia Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ thơ Lời Hẹn của trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Học căng thẳng nhưng không bỏ buổi sinh hoạt thơ nào. Hiếu sáng tác thơ, gửi tặng các bạn sinh viên, giao lưu với các bạn thơ ở Sư phạm I, Tổng hợp Văn và CLB thơ Cung Văn hóa hữu nghị Việt – Xô. Hạnh phúc nhất là khi thơ được in trong Tạp chí sinh viên. Một lần đến thăm bạn bên Đại học Kinh tế quốc dân, tình cờ thấy thơ mình được đăng trên tạp chí, cậu chàng sướng quá! Mượn, bạn không cho. Thế là Hiếu ký tên vào trang tạp chí để … báo cáo “ông bạn” rồi xé trộm phần có in bài thơ của mình, đem về cất giữ như báu vật.

Ngày tổng kết cuộc thi thơ sinh viên năm 1987, bài thơ Bài học giờ giải lao của Hiếu được vào chung kết, vui sướng vô bờ nhưng chẳng biết chia sẻ cùng ai.

Những năm tháng ấy, người ta coi thơ là thiêng liêng cao quý lắm. Người người mê thơ, say mê làm thơ. Nhưng ngặt một nỗi, ở Đại học Bách khoa Hà Nội từng có vài người vì mê thơ, mải mê với thơ mà sao nhãng học hành và không thể tốt nghiệp ra trường.

Tạm biệt Bách khoa – ngôi trường đại học danh tiếng và là niềm mơ ước của bao người, nơi gắn bó suốt 5 năm với bao vui buồn, sướng, khổ, Trương Minh Hiếu về Hải Phòng, công tác tại Nhà máy Sửa chữa tầu biển Nam Triệu năm 1990. Chàng trai 26 tuổi rời quê lúa về với thành phố hoa phượng đỏ nhận chức danh đốc công tại phân xưởng Vỏ tàu. Hiếu bảo:

– Em tuy là kỹ sư hàn nhưng thời sinh viên chỉ giỏi lý thuyết chứ thực hành thì dở ẹc. Mấy cô công nhân ở xưởng Hàn trong trường cũng chẳng muốn cho sinh viên năm 2 như bọn em tập hàn vì … tốn que hàn! Ngồi rảnh rỗi, nhàn tênh.

Mơ mộng nghĩ vẩn vơ. Và thế là lại làm thơ! Bài thơ Cây trinh nữ được rất nhiều sinh viên thời đó biết đến đã ra đời trong những ngày “kỹ sư hàn không được hàn” như thế!

Khi đã đi làm, nhưng có khá nhiều thời gian rảnh nên Hiếu lại học. Hiếu đăng ký học văn bằng hai, ngành Quản trị doanh nghiệp. Vừa tốt nghiệp xong, tháng 1.1998, phép màu đến do sự tình cờ, ông Chánh án TAND Thành phố Hải Phòng xin cho Hiếu sang công tác tại Bảo Việt Hải Phòng để “phù hợp với điều kiện đi lại”. Rồi đến năm 2002, Hiếu chuyển sang Bảo Việt Nhân thọ Hải Phòng và giờ thì đã là Giám đốc Bảo Việt Nhân thọ Hải Phòng sau thời gian dài gắn bó. Sự nghiệp thành công của Hiếu có bước chân đồng hành và tấm lòng sẻ chia của người vợ giỏi giang vốn là Chánh tòa Hình sự, TAND Thành phố Hải Phòng và hai cô con gái chăm ngoan, biết thương yêu cha mẹ.

2. Trở lại với văn chương

Người ta bảo “văn chương phải có người truyền lửa” quả không sai – Trương Minh Hiếu được truyền lửa đam mê sau thời gian dài say sưa công việc. Bắt đầu từ chuyến về thăm người thầy của Nhóm Búp Trên Cành ngày xưa: nhà thơ Kim Chuông, khi nghỉ hưu cũng về Hải Phòng sống và viết, cùng ở trung tâm thành phố với Hiếu. Nhà thơ Kim Chuông tuy đã gần 80 tuổi nhưng ở ông vẫn toát lên vẻ hào hoa của thi nhân từng nổi danh với thơ hay và lãng tử. Giọng đọc thơ vẫn đầy lửa và cảm xúc. Buổi gặp lại thầy sau hơn bốn mươi năm xa cách đã lại khơi lên trong trò thơ nhiều cảm hứng thi ca.

Còn nữa, một lần lên Hà Nội, Hiếu đến thăm nhà thơ Trần Huyền Tâm (học trò lớp Búp năm xưa) khi chị đang mải miết biên tập tuyển tập Duyên 2 cho các thành viên Nhà Búp. Đọc thơ, văn của các bạn, chuyện trò cùng Trần Huyền Tâm, Hiếu được sống lại với bao kỷ niệm yêu thương và niềm say thơ thuở Búp Trên Cành. Hiếu nhận ra, Trần Huyền Tâm là lãnh đạo ở Bộ Ngoại giao, việc trong nước, việc quốc tế và việc gia đình bận rộn là thế nhưng chị vẫn làm thơ, viết văn, viết lý luận phê bình và là tổng chủ biên vài chục đầu sách cho các bạn trong nhóm Búp bên cạnh 15 cuốn văn, thơ của riêng mình. Trần Huyền Tâm như người truyền lửa cho Trương Minh Hiếu, động viên Hiếu “quay lại và viết, trước mắt là viết với những gì mình đã có”. Hiếu trăn trở trước quyết định của mình trong sự nuối tiếc khoảng thời gian dài xa Nhà Búp và khao khát viết được như mọi người. “Chị Tâm và các Búp ai cũng bận nhưng đều đã sáng tác được, lẽ nào mình lại không!”. Và, Hiếu đã quyết tâm!

Thầy Kim Chuông là người dạy lại cho Hiếu về sáng tác thơ. Sau hơn nửa đời người, giám đốc Bảo Việt Nhân thọ Hải Phòng lại làm “trò nhỏ” chăm chỉ học hành như thuở ấu thơ, chỉ khác là ngày xưa lớp đông đến hàng chục người, giờ chỉ một thầy một trò, khi thì ở nhà thầy, khi thì ở cơ quan Hiếu, có khi lại ở quán cà phê hoặc qua điện thoại. Hai thầy trò, cứ gặp nhau là trò chuyện về thơ, nhất là những sáng tác mới của Hiếu.

Bao cảm xúc, bao hiện thực và những trải nghiệm cuộc đời tích lũy mấy chục năm được khơi lên và tuôn chảy thành thơ. Hiếu say viết quên thời gian, viết khi trên máy bay đi công tác, viết sau giờ làm việc ở một cơ quan kinh doanh đầy áp lực, viết trong những ngày lễ tết… “Có ngày em viết 7 bài, gửi thầy xem. May mà được thầy khen ngợi, động viên”. “Cứ viết khi trong lòng trào dâng cảm xúc, bởi có lúc tâm hồn khô cạn, bới không ra chữ nào” – Hiếu kể và nhắc lại lời chia sẻ, khích lệ của thầy.

Tập thơ đầu tay “Cội” đong đầy tình yêu gia đình, tình yêu quê hương và tình yêu tuổi trẻ của Minh Hiếu được đón nhận nồng nhiệt đã trờ thành nguồn cổ vũ lớn lao để Hiếu tự tin viết tiếp. “Đi Qua Mỗi Ngày Tôi”“Ru Mình”, rồi “Thả Gió Qua Sông” liên tiếp ra đời trong ba năm 2024 – 2026. Tập thơ nào cũng đầy đặn và giầu sức hút. Thơ Hiếu đã được lan tỏa mạnh mẽ trên hầu hết các mặt báo và tạp chí uy tín của cả nước, như báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, trang điện tử Vanvn.vn, Vanhocsaigon.com, Tạp chí Văn nghệ Quân quan ngôn luận của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Diễn đàn Văn học Việt Nam, Văn học Sài Gòn, Tạp chí Cửa Biển, Văn nghệ Thái Bình, Văn nghệ Phố Hiến…

Tôi thường bảo Hiếu: “Em thật thần tốc!”. Tập thơ Đi qua mỗi ngày tôi của Hiếu đã vào vòng chung kết cuộc thi thơ năm 2025 của Hội Nhà văn Việt Nam.

Và ngày 30.12.2025, Trương Minh Hiếu đã chính thức trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam sau tròn một năm là Hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, 30.12.2024. Cùng với các thành viên khác của Nhà Búp, như: Trần Huyền Tâm, Bùi Thị Biên Linh, Bùi Thanh Huyền, Thúy Hằng, Bùi Lan Anh, Nguyễn Thị Toán, Trần Thu Huê, Phạm Lan Anh, Phạm Hồng Oanh, Nguyễn Diệu Liên, Chu Xuân Giao, Vũ Huy Thông, Nguyễn Quốc Huy…, Trương Minh Hiếu đang say viết và gửi tặng cho bạn bè, cho người thân, cho cuộc đời những vần thơ đẹp.

Hè này, theo dự kiến, chị em tôi sẽ gặp nhau ở Đồng Nai để cùng tiếp sức cho các Búp Trên Cành Đồng Nai. Hiếu vừa nhắn cho tôi, rằng: “Em đã hoàn thành bản thảo tập lục bát “Thả gió qua sông”. Tập ký chân dung văn học về 30 tư vấn viên xuất sắc trong hệ thống Bảo Việt Nhân thọ “Những ngôi sao Việt” cũng đang lên trang với vai trò Chủ biên và đồng tác giả, rất giầu chất văn chương, dễ đọc và dễ cảm. Tập sách “Những lời chưa nói” bao gồm các bài báo của hai vợ chồng Hiếu cùng viết cách đây hàng chục năm đang biên tập và tổng hợp lại để ra mắt nhân dịp kỷ niệm 50 năm Búp Trên Cành”.

3. Thả gió qua sông – hành trình của lục bát và những miền cảm xúc

Có người nói thơ là nơi “Ngôn ngữ tìm thấy linh hồn của mình”. Với thơ lục bát đã thấm sâu vào mạch nguồn văn hóa dân tộc, điều ấy càng trở nên sâu sắc. Lục bát không chỉ là ký ức mà còn làm tái sinh hơi thở, hình ảnh và những âm thanh của cuộc sống con người, là sợi dây diệu kỳ kết nối giữa hiện tại và ký ức, giữa truyền thống và hiện đại. “Thả gió qua sông” tập thơ lục bát gồm 50 bài của Trương Minh Hiếu đã thực sự là một hành trình của lục bát và những miền cảm xúc. Phó Giáo sư, Tiến sĩ, NGƯT Nguyễn Đức Hạnh cho rằng: “…Thể thơ lục bát dễ viết khó hay. Nếu không có những điểm nhấn nào thì những cặp sáu tám ấy dễ trôi và dễ nhạt”. Và thật vui khi nhà thơ Trương Minh Hiếu có một điểm nhấn đáng chú ý, đó là “tính triết luận giầu trí tuệ kết tinh trong những thi ảnh mới và đẹp có khả năng gợi liên tưởng mạnh mẽ cho người đọc…”.

Bằng giọng điệu riêng tha thiết, bâng khuâng giầu tính triết luận, Thả gió qua sông không đơn thuần chỉ là một tập thơ, nó là hành trình đối thoại với chính mình, với cảnh vật, với những di sản văn hóa – nhà thơ Kim Chuông gọi đó là hành trình “Thả cái tôi trữ tình vào dòng chảy của những miền cảm xúc”.

Tôi thích nhan đề đầy sức gợi của tập thơ “Thả gió qua sông”. Ở đây, gió không chỉ là gió, sông không chỉ là sông mà là những ẩn dụ mềm mại của tâm hồn, lay động và khẽ khàng chạm vào những miền cảm xúc sâu thẳm nhất. Gió không chỉ là chuyển động của tự nhiên mà nó còn là sự vô định của lòng người! Sông không chỉ là sông mà còn là dòng trôi của ký ức! Nhan đề tập thơ là bản tóm lược thẩm mĩ toàn bộ giá trị nội dung, giá trị tư tưởng, vẻ đẹp của cuốn sách, thể hiện cách nhìn và phong cách nghệ thuật của tác giả. Nhan đề “Thả gió qua sông” mang một ý nghĩa, một vẻ đẹp của cánh cửa dẫn vào tập thơ, không ồn ào mà chậm rãi nhẹ nhàng, vừa thiết tha, vừa buông bỏ, vừa hòa quyện để tan ra, mất đi để tồn tại và lưu giữ vẻ đẹp mãi mãi. Đó là quy luật! Nhan đề tập thơ như một lời mời người đọc “thả lòng mình” vào miền cảm xúc của nhà thơ trong hành trình của những vần lục bát để cùng cảm nhận những rung động rất người, rất thơ, gợi ra từ tác phẩm. Nếu “Cội” (NXB Hội Nhà văn, năm 2024) là những khúc tâm tình sâu nặng về quê hương, gia đình, nguồn cội; “Đi qua mỗi ngày tôi” (NXB Hội Nhà văn, năm 2025) đa dạng các thể thơ, được coi là “Thơ có những nén ép chặt từ diện kiến đối thoại để có được hiệu ứng một tầng chìm sâu của năng lực tư duy phát hiện qua chiêm nghiệm triết thuyết” – Kim Chuông, thì “Thả gió qua sông” sau lục bát “Ru mình” (NXB Văn học, năm 2025), lại là tập thơ cũng dành riêng cho lục bát. Nhưng lục bát “Thả gió qua sông” của Hiếu luôn được làm mới bằng những trải nghiệm rất đời, rất hôm nay. Ngôn ngữ trong thơ anh giầu hình ảnh, giầu sức gợi. Thơ thường xoay quanh những mạch cảm xúc quen thuộc bền bỉ. Đó là tình yêu lứa đôi với sắc thái thiết tha, day dứt nhuốm màu hoài niệm. Đó là những suy tư, bâng khuâng về đời sống, về thời gian trong cõi nhân sinh, hoặc những cảm thức về sự được còn, mất mát và buông bỏ… trong hành trình sống. Những câu thơ da diết lòng người:

Mơ hồ tỉnh giữa cơn say

Cạn ly để biết đêm nay ta còn…

(Ta lại cạn ly)

Hay:

Ta mang tiếc nuối đi tìm

Bơ vơ ngọn gió lặng im theo về

(Tìm lại lời yêu)

Cái bâng khuâng da diết trong thơ Trương Minh Hiếu không chỉ ở giọng điệu mà còn ở lời thơ, ở ngôn từ, và cách bố cục của bài.

Người ta bảo “thơ hay là ở phần kết vừa lắng đọng, vừa gợi mở, hàm chứa lời nhắn nhủ sâu xa…”. Năm mươi bài trong “Thả gió qua sông” của Hiếu hầu hết đã có những cái kết tạo điểm nhấn. Lý luận văn học gọi đó là Điểm Rơi của cảm xúc. Lắng lại và tạo nên sự đồng cảm, đồng điệu nơi người đọc:

Lời yêu lạc ở nơi nao

Ta xin trả lại khuyết hao ngày tìm

(Tìm lại lời yêu)

Ở đây, hình ảnh “Lời yêu” không còn là một phát ngôn cụ thể mà được vật thể hóa như một thực thể, từ “lạc” gợi ra rằng, tình yêu không mất đi nhưng nó không còn thuộc về “Ta” nữa. Nó đang ở đâu? Ngoài tầm với của ký ức và hiện tại. Nó khiến cho cảm xúc thơ trở nên day dứt. Sự “khuyết hao” âm thầm như vết mòn của thời gian lên trái tim yêu, khiến ta “buông bỏ” “xin trả lại”. Cấu trúc câu thơ như một nghịch lý nghệ thuật đầy ám ảnh.

Nếu đọc kỹ các sáng tác của Minh Hiếu, đặc biệt là dừng lại ở cái kết bài, trong Thả Gió Qua Sông, ta sẽ thấy thơ Hiếu như đang kể – kể với người khác mà cũng là kể với chính mình. Nó chân thành, bình dị mà đủ sức lay động. Đó là một kỹ thuật viết có được từ chính trải nghiệm cuộc đời. Anh không tìm đến những đề tài lớn lao mà đi vào những rung động đời thường nên thơ dễ tìm được sự đồng cảm, đồng điệu của người đọc. Nhà văn Trần Thu Huê cho rằng: “Thơ Hiếu như một khoảng lặng giữa nhịp sống gấp gáp nơi con người được lắng lại và nghe rõ hơn tiếng lòng của mình”. Hãy điểm qua bài: “Biển vắng” là nỗi cô đơn của con người trước vũ trụ bao la, nỗi cô đơn mang hình hài vũ trụ:

Này con sóng dưới lòng sâu

Lên đây với gió hát câu âm ầm ào…

Sóng từ “lòng sâu” trồi lên như một ẩn dụ cho cảm xúc bị dồn nén. Ở đây, thiên nhiên không còn là ngoại cảnh mà trở thành tâm cảnh. Con sóng chính là cái “Tôi” trữ tình. Đặc biệt, câu cao trào của bài: “Chỉ một ta với một bờ mênh mang”, cấu trúc “một… một…” đặt cái ta bé nhỏ đối diện với cái mênh mang vô hạn của vũ trụ. Biển không còn là biển, nó là khoảng trống của đời sống, là nơi con người ý thức sâu sắc sự cô độc của mình. Nếu “Biển vắng” là nỗi cô đơn tuyệt đối thì bài “Thả gió qua sông” lại diễn tả nỗi cô đơn trong mối quan hệ người với người – nỗi buồn có đối tượng, có nguồn cơn. Không gian thơ là sông Hồng – vừa cụ thể, vừa là biểu tượng của văn hóa. Dòng sông chia đôi, đôi bờ cũng như chia đôi những số phận:

Bên sông vẫn cách dòng sâu

Mượn cơn gió cả thả câu gọi người

Hình ảnh thả gió là một sáng tạo tinh tế của tác giả. Gió vô hình, gió không biên giới, gió vô tận mênh mang đã trở thành phương tiện giao cảm của người đôi bờ. Đẹp và thơ lắm nhưng cũng cho ta cảm nhận được cái “bất khả của sự gặp gỡ”. Và câu:

Bởi hoa chẳng hẹn chẳng chờ

Nên bươm bướm cứ lập lờ qua sông

Lời thơ mang màu sắc triết lý dân gian. Không có lời hẹn, chỉ có nỗi nhớ, niềm mong và nỗi cô đơn của người “thả gió”. Tập thơ có nhiều bài ấn tượng: Mơ gặp hoa hồng, Nửa đêm trăng ngà, Ta lại cạn ly, Cà phê một mình, Bao giờ trả hết cho nhau, Cho nhau cầm lấy thật thà, Muộn màng 8.3… Ngôn ngữ thơ mộc mạc, chân thành nhưng hết sức lay động. Bài nào cũng thể hiện nét riêng mà Minh Hiếu tự cho là nó “vừa chân quê, vừa phố thị”. Đó là những vần thơ từ cuộc sống, là nơi tình yêu tan vào thiên nhiên và hóa thành nỗi da diết bâng khuâng, thành hoài niệm buồn mà đẹp đến nao lòng!

Đọc “Cà phê một mình” để cảm nhận khoảnh khắc nhà thơ độc thoại nội tâm nhưng sự độc thoại ấy mang vẻ đẹp của sự dang dở. Ở bài này, không gian thu hẹp trong một quán cà phê. Sự thu hẹp ấy làm nổi bật chiều sâu nội tâm:

Một mình với một cà phê

Một đi giọt giọt, một về dửng dưng

Nhịp thơ ngắt đôi đối xứng “một đi … một về” tạo nên cảm giác phân thân. Cái tôi vừa hiện diện, vừa lặng lẽ rời khỏi chính mình. Chỉ còn “ta với ta” trong nỗi cô đơn, để đọng lại trong câu thơ đặc sắc của bài:

Lời nào vừa giữ nửa chừng lại buông

Pau Valiry cho rằng: “Thơ không bao giờ hoàn tất, chỉ bị bỏ dở”. Cái đắng của cà phê không chỉ là vị giác, nó là ẩn dụ cho trải nghiệm với tình cảm, nỗi buồn khi chiêm nghiệm, khi nhớ về những hồi ức đẹp đẽ: “Cà phê đắng lại tan thêm ngọt ngào”.

Dù mộc mạc trong ngôn từ, thơ Hiếu vẫn giầu sức gợi và độ lắng. Chất trí tuệ, những suy tư sâu sắc thấm lẽ đời tạo nên độ sâu của thơ anh:

Cuộc đời đi xa càng xa

Thôi, dừng chân để nghĩa là có nhau

Nếu mà chọn được kiếp sau

Ta làm ngọn gió đêm sâu lạc về

(Nghĩ cho hôm nay)

Nhiều câu thơ như những mảnh vỡ của trữ tình, đó là nỗi chậm trễ của tình yêu và ý thức về thời gian như một dòng sông vừa dịu dàng, vừa tàn nhẫn. Lặng lẽ cùng những rung động thành thực của tâm hồn:

Câu thương nhận lấy cho đành

Muộn màng lời chúc để dành làm vui

(Muộn màng 8/3)

Tình cảm không còn là sự tự nguyện mà nhuốm màu cam chịu nên nó trở thành gánh nặng tinh thần. Người ta tự an ủi bằng “lời chúc để dành”.

Có những khoảnh khắc “tay vấp phải tay” gây nên cái “giật mình” bởi sự va chạm tình cảm “Giật mình tay vấp phải tay/Một dòng đỏ thắm vết gai hoa hồng”. Hình ảnh ẩn dụ quen mà không cũ. “Gai hoa hồng” và “dòng đỏ thắm” – Rê Lanbatheor từng nhận xét “Tình yêu luôn mang trong nó khả năng gây tổn thương…”

Thơ Trương Minh Hiếu không bị lụy, không khoa trương, nó nhẹ nhàng lặng lẽ như một dòng chảy ngầm, bình dị để người đọc ngỡ gặp mình trong đó.

Và đây:

Sen tàn chớ vội buồn mau

Hương trong bùn đất mùa sau đang về

(Sen tàn chớ vội buồn mau)

Thơ đậm quan niệm triết lý phương đông về sự tái sinh, phảng phất ý thơ của người xưa: “Thấy trái rụng xin đừng vội khóc/ Một trái rụng cho trăm ngàn hạt mọc” hay “Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ đêm qua sân trước nở nhành mai”. Thơ Trương Minh Hiếu có những câu lấp lánh tin yêu, lạc quan rất đời. Mạch cảm xúc này cùng với mạch cảm xúc về sự lẻ loi đơn độc không mâu thuẫn mà nó “hợp sức cùng nhau” làm nên một chân dung thi nhân gần gũi, đời hơn và cũng vẹn toàn hơn:

Trót đa mang chút xanh rì

Kiệt cùng màu mỡ đất vì lá thôi

Chạm vào chiếc lá em ơi

Nghĩa là tôi chạm vào tôi phút này

(Chạm vào chiếc lá)

Nhà văn Bùi Thị Biên Linh (Tác giả bài viết)

Một chữ “trót” đã gói trọn ý niệm về những gì đã qua không thể trở về. Đó là sự “đã rồi”. Trót đa mang – đó là nghiệp cảm, là gánh nặng tinh thần mà chủ thể trữ tình vừa ý thức được nhưng vẫn vừa cam chịu. Làm thơ là nghiệp – là món nợ tinh thần mà người nghệ sĩ “đa mang”. Âu cũng là “Kiệt cùng màu mỡ, đất vì lá thôi”? Hai trạng thái kiệt cùng và màu mỡ đặt cạnh nhau như hai cực đối lập, như một nghịch lý giầu tính triết luận. Đất vốn là nguồn sinh dưỡng nhưng lại trở nên cạn kiệt “vì lá”. Lá là biểu tượng của sự sống xanh tươi. Để có vẻ đẹp ấy, đất phải hao kiệt chính mình. Đó là biểu tượng cho tình yêu, cho sự dâng hiến “Mọi vẻ đẹp đều có cái giá của nó, và thường cái giá ấy được trả trong im lặng”.

Câu cuối khổ thơ: “Chạm vào chiếc lá em ơi/ Nghĩa là tôi chạm vào tôi phút này”, là bước chuyển tinh tế từ ngoại giới vào nội giới. Từ cảnh vật vào tâm hồn. Hành động “chạm vào chiếc lá” mở ra một tầng ý nghĩa sâu xa. Đó là hành trình trở về với chính bản thân mình để thấy rõ, “Nghĩa là tôi chạm vào tôi phút này”. Câu thơ thể hiện tư duy mang màu sắc hiện sinh. Con người chỉ thực sự hiểu mình khi soi vào thực tại, giao cảm với thực tại và vạn vật. Quả đúng như câu “Thơ không chỉ là tiếng nói của cảm xúc mà còn là hành trình nhận thức chính mình qua cảm xúc ấy”. Đoạn thơ giầu chất suy tưởng: Người nghệ sĩ như đất, thơ là lá là hoa, nhà thơ vắt kiệt cùng tâm tư, trí tuệ và cảm xúc để dâng tặng cuộc đời vẻ đẹp của những vần thơ. Có lẽ, đó cũng là tiếng lòng của những người nghệ sĩ nói chung và Trương Minh Hiếu nói riêng.

Đọc lục bát “Thả gió qua sông” của Trương Minh Hiếu, người đọc đang được cùng nhà thơ đến với một miền cảm xúc bình dị ngọt ngào, sâu lắng và chứng kiến một hành trình lục bát của riêng anh: Đó là hành trình của một dòng sông ký ức chảy qua bao trải nghiệm từ cay đắng đến ngọt ngào, từ da diết bâng khuâng đến tin yêu mong đợi…

Sức sống của lục bát nói chung, Thả gió qua sông của Trương Minh Hiếu nói riêng nằm ở chỗ nó dịu mà sâu, nó không bao giờ cũ, nó là lá, là hoa, là cảm xúc mới mẻ của mỗi ngày ta đang sống. Giữa bao biến động của thời đại, bao cách tân của thơ ca, lục bát vẫn giữ nguyên vị thế đặc biệt và vẻ đẹp, sự thiêng liêng của nó – đó là thể thơ truyền thống của dân tộc Việt, là sự giàu có âm thanh và hình ảnh của Tiếng Việt, là nhịp rung của con tim chậm rãi mà bền bỉ, nhắc con người nhớ về nguồn cội trong từng nét thơ giản dị mà sâu xa. Trương Minh Hiếu đã chọn cho mình con đường thơ không mới nhưng bền như cách anh chọn ở lại trong lòng người người đọc qua “Thả gió qua sông”.

BÙI THỊ BIÊN LINH

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *