Vanvn- Sau hai tập thơ đã xuất bản: “Đồng vọng” (2023). “Đợi tri âm” (2024); nhà thơ Võ Văn Hân ra mắt tập thơ “Nghiệm sinh” với 54 tác phẩm thơ và một ca khúc về phố thị hoa vàng nơi anh ở. Với 2 chủ đề: “Cảm quan sinh thái”; “Cảm thức nhân sinh”; ngoài 6 tác phẩm mở đầu bằng thể thơ 1-2-3; những bài thơ còn lại viết theo thể thơ tự do. Dẫu nhà thơ có bố cục thành hai phần với hai mảng đề tài “sinh thái” và “nhân sinh” thì cảm hứng sáng tạo vẫn là văn học sinh thái. Đại ngàn Tây Nguyên đã thấm vào thi tứ để mỗi bài thơ anh viết ra đều có cái nhìn về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và bày tỏ thái độ về nguy cơ sinh thái.
Thời gian cùng sự suy ngẫm kỹ lưỡng bằng kinh nghiệm và sự từng trải là dấu ấn trong thơ của nhà thơ Võ Văn Hân. Nghiệm sinh bằng thơ cũng là cách mà nhà thơ vượt qua hai lần trải nghiệm, nếu như lần thứ nhất bằng cái nhìn của con người bình thường, thì lần thứ hai “Phải phí tổn ngàn cân quặng chữ/ Mới thu về một chữ mà thôi/ Những chữ ấy làm cho rung động/ Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài” (Mai-a-côp-ski).

Bài thơ “Bản thảo” là chứng nhân cho thi nhân khi trở trăn cùng thi tứ, cái nhìn của thi nhân về nhân sinh trong trải nghiệm với không gian và thời gian vừa sâu sắc, vừa thấm đẫm tinh thần nhân văn: “ta ở đợ ăn mằn đại ngàn/ lủi thủi/ gặm nhấm quá khứ/ máu nhiễm vi rút “đám đông”/ bệnh “tập thể” hủy hoại riêng tư… ảo vọng thôi miên/ quên giọt Hương Giang trong veo ngày Chúa nhật/ lạc hương thanh trà tóc Vỹ Dạ thanh tân/ ngực trăng non Bến Ngự…/ núp bóng Tà Đùng ngớ ngẩn đẽo câu gọt chữ/ đem riêng tư quy đồng mẫu số chung/ ngã mạn cố cùng/ vuốt mắt cuộc tình yểu mệnh”. Câu chữ biểu đạt nỗi dằn vặt, trăn trở của thi nhân trước nhân tình thế thái. Mỗi địa danh, mỗi câu chuyện khơi gợi trí tưởng tượng và suy ngẫm của độc giả, nhờ thơ là thể loại có độ hàm súc cao, dồn nén cảm xúc đến cô đúc và bùng nổ cùng thi tứ. Truy tìm nguồn gốc sinh thái bị phá hủy, nhà thơ quyết liệt chỉ mặt đặt tên các hành vi phá hoại sinh thái: “rừng cổ mộc cháy hoàng hôn đỏ rực/ suối chết/ đau sinh tồn đá núi mồ côi/ kẻ đốt rừng không có trong bản thảo”. Điệp ngữ “tạ tội” trong khổ thơ cuối như là lời sám hối, dẫu muộn màng: “sám hối đất trời dòng kí ức xấu hổ/ tạ tôi mẹ/ tạ tội dòng sông/ tạ tội cánh rừng/ tạ tội tình yêu bạc mệnh”. Trân trọng và bảo vệ thiên nhiên là trách nhiệm của mỗi một con người. Câu kết của bài thơ như là “tuyên ngôn” của thi nhân: “ta hóa vàng bản thảo…không đặt tên”.
Nhà thơ Võ Văn Hân sinh sống ở Đắk Nông (Lâm Đồng) – vùng đất nằm trọn trên cao nguyên M’nông, nơi đây không chỉ sở hữu vẻ đẹp hoang sơ, ngoạn mục, đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên mà còn có vẻ đẹp thơ mộng, kì bí của riêng mình. Đắk Nông có hồ Tà Đùng được ví như một Hạ Long thứ hai của Việt Nam. Phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ nơi đây trở thành một phần không thể tách rời của cảm hứng sáng tác thơ. Cảm xúc thơ vì thế không chỉ đơn thuần là trạng thái tâm lý bên ngoài mà còn hòa quyện, lan tỏa trong từng câu chữ, hình ảnh, khiến mỗi bài thơ mang đậm dấu ấn cá nhân và thấm đẫm bầu không khí mà tác giả muốn thể hiện; mỗi bài thơ của anh vừa mang âm hưởng đại ngàn, vừa ca ngợi vẻ đẹp bạt ngàn của núi rừng, của đời sống dân bản địa “sắc màu thổ cẩm/ đất – nước – gió – lửa tương sinh/ tiếng chiêng gọi yàng thần thánh”. Những bài thơ: “Tháng Chạp, Mùa vàng, Âm điệu Bu noong, Với tượng La Hán, Phục diễn, Vú gỗ…” mang dấu ấn riêng của nhà thơ về núi rừng hoang sơ, khoáng đạt; về nét văn hóa riêng của người dân bản địa (người M’nông, Cơ Ho, Mạ…). Dường như mỗi ngọn núi, dòng sông, những mái nhà, những bậc thang… đều âm vang đồng vọng từ ký ức, chứa chan cảm xúc lãng mạn, đắm say bởi nơi đây anh đã gắn bó, cống hiến tuổi thanh xuân trên cao nguyên lộng gió.
“Em có nghe tiếng hát dòng sông
Chập chùng Trường Sơn tiên bồng
Chuyện tình hồng hoang Sêrêpốk huyền thoại
Giọt nắng bâng khuâng dã quỳ vàng mê mải
Đất – Nước – Gió – Lửa phi tuyến mênh mang mị thường
Bướm dập dìu trên bông cỏ dại, bão về biển Thái Bình Dương”
Bài thơ như một khúc tráng ca về sự hùng vĩ của núi rừng. Với giọng điệu sử thi cùng sự cô đúc của thể thơ 1-2-3 ( ) những thi ảnh hiện hình qua câu chữ, như gợi như tả; vừa có cái nhìn về thiên nhiên với núi non trùng điệp, vừa có cái nhìn mang chiều sâu của tâm tưởng. Giữa đại ngàn mênh mông, hoa quỳ vàng, cánh bướm dập dìu bên bông cỏ dại… vũ khúc đại ngàn rung lên giai điệu dìu dặt, luyến láy qua những từ láy: “chập chùng, bâng khuâng, mê mải, mênh mang, dập dìu”. Thi tứ bài thơ đã chuyển tải được không gian hoành tráng của đại ngàn cùng vẻ đẹp lãng mạn ở chốn “tiên bồng”.

Những bài thơ trong phần “Cảm quan sinh thái” từ góc nhìn giá trị sinh thái ngang hàng với các giá trị con người, nhà thơ đã thức tỉnh trong ta ý thức bảo vệ tự nhiên, ý thức bảo vệ rừng. Nếu không có cảm quan về du lịch sinh thái, không có lý tưởng sinh thái, một mai nơi đây sẽ hoang tàn, xơ xác. Từ cảm hứng sinh thái, những bài thơ về đề tài sinh thái của nhà thơ Võ Văn Hân là một phần đốn ngộ của con người về môi trường. Trong 21 bài thơ ở phần này thì 6 bài thơ mở đầu viết theo thể 1-2-3 khá thành công về thi tứ, cũng là điểm mới trong sáng tác của nhà thơ về mặt thể loại. Về với thiên nhiên, mang cái nhìn nhân văn sinh thái, không gian nghệ thuật trong thơ Võ Văn Hân vừa hùng vĩ vừa lãng mạn, vừa mời gọi, vừa nhắc nhở, tất cả như hòa quyện cùng âm thanh rừng núi. Mỗi bài thơ như một hồi chuông “sinh thái”, đây là điểm mới trong sáng tác của nhà thơ Võ Văn Hân khi đã khơi dậy năng lực sinh thái nhân văn trong cộng đồng.
“Đêm nghe rừng trằn trọc than thở
Du Sam ( ) – linh mộc núi – ngàn năm bị đốn hạ
Quặn thắt Trường Sơn
K’rông Nô trào dâng tủi hờn
Con nai buồn gọi bạn, khê khàn hớp giọt trăng xanh
Giải khăn sô cho rừng, đỉnh Nâm Nung chít ngang đầu mây trắng”
Tựa đề bài thơ “Đêm nghe rừng trằn trọc than thở” là một câu thơ trong chỉnh thể tác phẩm, diễn đạt bình thường, nhưng phép nhân hóa đã thành thơ – câu thơ lôi cuốn sự chú ý của người đọc. “Giải khăn sô cho rừng, đỉnh Nâm Nung chít ngang đầu mây trắng” – phép nhân hóa gợi biết bao buồn bã, đau đớn; hình tượng thơ “đỉnh Nâm Nung” gợi lên vẻ hùng vĩ của “nóc nhà” Đắc Nông được hình tượng hóa qua hình ảnh tang thương “chít ngang đầu mây trắng” – thi ảnh mang nét đối lập giữa vẻ hoành tráng của núi rừng và sự tang thương khi bị hủy hoại – câu thơ vì thế mà ám ảnh, độc đáo. Nhà thơ đã lựa chọn đối tượng thẩm mĩ đặc trưng để khơi dậy năng lực sinh thái nhân văn cộng đồng. Chọn thể thơ 1-2-3 là nhà thơ đã chọn cho mình lối diễn đạt súc tích mà dư ba, vì thế bài thơ đã truyền đến độc giả những lo âu khắc khoải về sự báo ứng thầm lặng mà dữ dằn khi thiên nhiên nổi giận.
Say đắm và ca ngợi vẻ đẹp đầy sức sống nơi núi rừng Tây Nguyên, nhà thơ cũng cảm thức được sự run sợ trước thiên nhiên khi các hiện tượng tự nhiên kinh hoàng xảy ra. Bài thơ “Vía đất” là bản cáo trạng đanh thép lên án những kẻ hủy hoại môi trường: “Rừng huơ hoác/ núi đồi dọc ngang lở loét oan khiên/ đất bạt vía/ chim non xa đàn lạc mẹ, con cheo con dúi mồ côi./ Thác khô/ đá thâm oán hờn/ con mang tác tiếng li hương…// Mẹ thiên nhiên nổi giận./ Mưa/ vũ thủy hợp lưu phẫn nộ/ cuốn trôi mưu kế vĩ cuồng./ Nắng/ tia cực tím thiêu đốt báo thù/ hóa vàng liên kết bầy đàn nhiễu nhương ích kỉ./ Gió/ quăng quật tan tác/ cuốn phăng toan tính phe nhóm kim tiền./ Học phí máu bài học… thuận thiên./ Ơn vía đất/ hạt cỏ hiện sinh siêu tưởng/ hoài thai trong thân xác mẹ hoang tàn/ vươn mầm sống … khâu vá nỗi đau của đất./ Khát vọng Bu noong/ huyền thoại sinh tồn”. Những tính từ, động từ “huơ hoác, lở loét, oán hờn, phẫn nộ, quăng quật, nhiễu nhương…” được sử dụng đắc địa trong mỗi câu thơ, khổ thơ để diễn tả sự tang thương của thiên nhiên đã khiến cho những con vật trong rừng hoảng loạn và sự nổi giận của mẹ thiên nhiên – cuồng phong và mưa lũ.
Cảm hứng sinh thái hòa quyện cùng cảm hứng nhân sinh đã tạo nên bản sắc riêng trong thơ Võ Văn Hân. Nhà thơ biểu hiện cảm thức nhân sinh mãnh liệt khi anh viết về vẻ đẹp và sự sáng tạo trong cuộc sống. “vai núi Tà Đùng treo vầng trăng quen/ treo vầng trăng lạ/ mẹ về khoác áo cỏ hoa/ dã quỳ ngậm nắng mật/ mớm môi em bà hát Ot N’rong ( ) (Lời ru của núi). “Gió đơn thân/ đưa nôi thảo nguyên/ ru dã quỳ…/ lịm vàng sơn cước” (Dã quỳ). “Thổ cẩm Bu noong/ thông điệp đất trời minh triết tổ tiên/ mĩ cảm tộc người/ chịu ơn/ Đất – Nước – Gió – Lửa/ tâm linh/ khung cửi – khung trời mẫu hệ/ truyền kỳ nguồn cội/ mẹ xứ sở trao truyền … vẹn nguyên” (Thổ cẩm… truyền kì). Những vần thơ thấm đẫm sắc màu Tây Nguyên, từ màu hoa dã quỳ nhuộm vàng đất đỏ bazan, đến sắc màu thổ cẩm, hay lời ru của núi… tất cả hiện hình sinh động qua thi ảnh thơ vừa có sắc màu vừa có âm thanh, âm thanh cồng chiêng là linh hồn của lễ hội và nhịp sống cộng đồng mang đặc trưng riêng ở núi rừng. Những trang thơ vừa như lạ như quen đã gợi bao cảm xúc trong lòng độc giả.
Bài thơ “Vú gỗ” quá độc đáo: “Đếm bảy bậc tình/ Đàn ông lên nhà từ cầu thang cái/ vịn bầu vú gỗ bóng tròn ánh trăng/ ngực Êđê/ trăng Ê đê// lửa mẫu hệ nhen giống Buôn Jun/ k’pan( ) – bóng dáng con thuyền tổ tiên vượt biển/ già làng kể Khan( )/ vú ấm phập phồng/ vú no trăng sữa/ vú bắt chồng giữ chân con trai ở lại/ vú để dành bắp lúa mùa sau/ Vú nuôi vía nhà dài/ nuôi bếp lửa làm chồng/ nuôi hồn chiêng/ nuôi rượu ché/ thượng quyền mẹ ngọn nguồn xứ sở/ vú gỗ thiêng/ ngàn lần lên non/ ngàn lần xuống thác/ vú ăn trăng mòn vạc bàn tay”

Tín ngưỡng phồn thực bằng thơ vừa gợi hình tượng về điêu khắc dân gian Tây Nguyên độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa của người Tây Nguyên; vừa thể hiện ước vọng về mùa màng bội thu, con đàn cháu đống của văn hóa Việt Nam. “Đếm bảy bậc tình/ Đàn ông lên nhà từ cầu thang cái/ vịn bầu vú gỗ bóng tròn ánh trăng… vú ấm phập phồng/ vú no trăng sữa/ vú bắt chồng giữ chân con trai ở lại/ vú để dành bắp lúa mùa sau”. Cảm thức nhân sinh mãnh liệt đã thổi hồn vào những câu thơ, hình tượng bài thơ như lay động cùng giai điệu Tây Nguyên. Điệp từ “vú” lặp đến 7 lần trong bài thơ (đặc biệt là khổ thơ thứ 4, từ “vú” điệp liên tiếp nhau), cùng những câu thơ ngắn theo thể thơ tự do đã làm nên nhịp điệu, đọc lên như nghe cả âm thanh của núi rừng, nghe cả nhịp điệu đời sống sinh hoạt của con người và tạo nên một âm hưởng đặc trưng của một vùng đất với thiên nhiên hùng vĩ và văn hóa bản địa độc đáo.
Cái nhìn của nhà thơ về sinh thái, nhân sinh qua trạng thái đối cực giữa núi rừng nguyên sơ đẹp từ thiên nhiên vạn vật đến văn hóa đặc trưng của con người bản địa; và núi rừng kêu khóc bởi sự tàn phá triệt hạ của con người. Mĩ học sinh thái trong thơ Võ Văn Hân là cách tìm kiếm con đường mới để con người và thế giới tự nhiên ngày càng bình đẳng, hài hòa, tốt đẹp hơn. Hãy đến nơi nhà thơ sinh sống và làm việc để hiểu thêm về “miền đất thơ” đã nuôi dưỡng nguồn cảm hứng bất tận trong thơ anh: “Vịn mây/ lên chót vót Tà Đùng cao1982m/ gần trăng/ đối tửu/ rượu men lá người Nùng/ ngà ngà trăng mười sáu/ gió ngất ngưỡng, rừng say thác nức nở lẫy hờn/ dốc ngược đêm Tà Đùng/ trăng cạn đáy núi/ nhìn nhau cười/ sương đọng trắng làn mi/ gà rừng gọi mặt trời mê ngủ/ giao bôi/ tri kỷ/ bóng tửu đồ khuyết lõm… hừng đông” (Uống rượu trên đỉnh Tà Đùng)
HOÀNG THỊ THU THỦY















