Vanvn- ’Đợi đến mùa khoe eo’’, tập thơ đã gợi mở một không gian văn hóa rất riêng của người Thái Tây Bắc. “Khoe eo” không đơn thuần là khoe vẻ đẹp hình thể mà là biểu tượng của mùa xuân, mùa hội, mùa yêu và mùa sống. Đó là lúc người con gái Thái mặc áo cóm ôm gọn vòng ngực, vòng eo mềm mại, váy xòe tung sắc giữa tiếng chiêng, tiếng khèn và vòng xòe bản mường.

Trong dòng chảy thơ ca đương đại Việt Nam, đặc biệt ở khu vực miền núi phía Bắc, không nhiều nhà thơ nữ tạo được một thế giới nghệ thuật riêng rõ nét như Lương Mỹ Hạnh. Thơ chị không ồn ào cách tân hình thức, không cực đoan trong diễn ngôn nữ quyền, cũng không sa vào lối mô tả phong tục như một thứ đặc sản vùng miền. Điều làm nên giá trị riêng của thơ Lương Mỹ Hạnh chính là khả năng biến văn hóa dân tộc thành máu thịt của cảm xúc, biến núi rừng Tây Bắc thành một miền tâm thức sống động, nơi con người, thiên nhiên và ký ức cộng đồng hòa vào nhau trong một tiếng nói tha thiết.
Từ Đá hát, Mùa lá thức, Hoa mắt gió đến Đợi đến mùa khoe eo, hành trình thơ của chị là hành trình đi sâu vào căn tính văn hóa Tây Bắc, đồng thời mở rộng chiều sâu nội tâm nữ giới trong đời sống hiện đại. Nếu Đá hát giống như tiếng vọng đầu tiên của đại ngàn, Mùa lá thức là cuộc đánh thức ký ức văn hóa, Hoa mắt gió mở rộng những suy tư nhân sinh thì Đợi đến mùa khoe eo (tập thơ – NXB Hội Nhà văn, 2026) chính là độ chín rõ nhất trong thế giới nghệ thuật của Lương Mỹ Hạnh, nơi bản sắc dân tộc, tính nữ và ý thức công dân hòa quyện thành một chỉnh thể giàu chiều sâu tư tưởng và cảm xúc.
1. Ngay từ nhan đề ‘’Đợi đến mùa khoe eo’’, tập thơ đã gợi mở một không gian văn hóa rất riêng của người Thái Tây Bắc. “Khoe eo” không đơn thuần là khoe vẻ đẹp hình thể mà là biểu tượng của mùa xuân, mùa hội, mùa yêu và mùa sống. Đó là lúc người con gái Thái mặc áo cóm ôm gọn vòng ngực, vòng eo mềm mại, váy xòe tung sắc giữa tiếng chiêng, tiếng khèn và vòng xòe bản mường. Nhưng trong cách đặt nhan đề của Lương Mỹ Hạnh, “Đợi đến mùa khoe eo” còn là một ẩn dụ nghệ thuật tinh tế – đợi mùa hồi sinh của văn hóa, mùa con người được sống đúng với vẻ đẹp bản nguyên của mình.
Điểm nổi bật nhất trong thơ Lương Mỹ Hạnh là khả năng kiến tạo một không gian văn hóa Tây Bắc vừa chân thực vừa giàu tính biểu tượng. Ở thơ chị, núi rừng không chỉ là phong cảnh mà là một sinh thể văn hóa. Từ những tập thơ trước, chị đã tạo nên một hệ thống hình ảnh đậm đặc chất Tây Bắc: “Mẹ gói xôi, gói vụng cả sương chiều/ Cha bẩy đá, mở đường lên dốc núi” (Anh chưa về chớ thương vội Sơn La – Mùa lá thức). Đến ‘’Đợi đến mùa khoe eo’’, thế giới ấy được mở rộng và đào sâu hơn. Những biểu tượng văn hóa dân tộc xuất hiện với mật độ dày đặc: tiếng chiêng, tiếng khèn, váy xòe, áo cóm, khăn piêu, thổ cẩm, vòng xòe, rượu cần, lời mo, câu khắp…
Mở đầu tập thơ là bài “Hồn chiêng”. Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của tập thơ bởi nó chạm tới chiều sâu linh thiêng của văn hóa cộng đồng miền núi. Ngay nhan đề “Hồn chiêng” đã cho thấy tiếng chiêng vừa là âm thanh vừa là linh hồn của bản mường: “Chiêng gọi hồn rừng chiêng neo hồn bản”. Từ “neo” là một phát hiện nghệ thuật đắt giá. Tiếng chiêng không chỉ vang lên mà còn giữ cho “hồn bản” khỏi trôi dạt trước thời gian và biến động cuộc sống. Chỉ một câu thơ nhưng đã gói trọn vai trò của văn hóa truyền thống đối với cộng đồng dân tộc miền núi.
Những câu thơ sau vừa giàu chất sử thi vừa giàu cảm xúc: “tộc mình bỏng tay giữ lửa qua mùa giặc giã thiên tai”. “Bỏng tay giữ lửa” là một hình ảnh cực kỳ ám ảnh. Văn hóa dân tộc được gìn giữ bằng mồ hôi, máu và cả đau đớn của bao thế hệ. Đặc biệt đẹp là câu: “em đừng bỏ đất theo ai” . Một câu thơ ngắn nhưng chứa nhiều tầng nghĩa: là lời níu giữ người yêu, lời gọi con người quay về cội nguồn, lời nhắc giữ bản sắc dân tộc. Cùng với tiếng chiêng là tiếng khèn Mông – biểu tượng của tình yêu, tự do và khát vọng sống: “tiếng khèn thắp hồng ngọn lửa”, “chim rừng hót giục tự do mọc cánh tiếng khèn rơi lõm đá” (Tiếng khèn); “Tiếng khèn Mông trầm bổng mãnh liệt/ thấm vào từng phiến đá vạn năm”,“tiếng khèn như bụm khói loang cùng mây trắng/ bền bỉ tựa sợi lanh/ neo những giấc mơ lưu lạc” (Nghi lễ của gió).
Tiếng khèn trong thơ Lương Mỹ Hạnh mang sức mạnh tinh thần, vừa gắn với phong tục vừa chuyên chở khát vọng sống của con người miền núi và nỗi niềm lịch sử của những cộng đồng từng trải qua thiên di, lưu lạc. Ở điểm này, có lẽ Lương Mỹ Hạnh gặp gỡ nhà văn Kiều Duy Khánh ở nhiều bài thơ: “Pli… plè…pe…plè…/ Lời khèn tìm em cạn bao đêm/ Lời khèn gọi em gầy bài “khắp báo xao”, đói bài “Tản ố tản mặc”(Lời của khèn bè). Bài thơ đã gửi gắm một bản tình ca da diết, nơi tiếng khèn là linh hồn, là ngôn ngữ của yêu thương, của khắc khoải và bản sắc dân tộc.
Không gian văn hóa Tây Bắc còn hiện lên qua những hình ảnh quen thuộc của đời sống bản mường: “Mường Do bốn mùa xanh gió năm mùa sương lợp mái nhà” (Lá mưa); “khăn piêu tươi màu nhớ, áo cóm canh ngực đồi” (Chưa tới mùa khoe eo); “trống chiêng kéo mặt trời xuống thấp”(Miền quê cổ tích)…Thiên nhiên, con người và văn hóa hòa quyện vào nhau tạo nên một thế giới nghệ thuật đậm đặc hơi thở miền núi. Đó là đặc điểm nổi bật trong thơ Lương Mỹ Hạnh. Văn hóa không nằm ngoài đời sống mà sống trong từng mái nhà sàn, từng câu hát, từng phiên chợ, từng chiếc khăn piêu, áo cóm của người phụ nữ dân tộc. Và thiên nhiên, không gian văn hóa còn mang màu sắc huyền thoại, cổ tích: “ngọn gió rừng già thổi vào miền cổ tích” (Dấu đá), “Em theo anh về miền quê cổ tích” (Miền quê cổ tích). Cách cảm nhận thiên nhiên của tác giả mang đậm tư duy của cư dân miền núi – con người hòa vào núi rừng chứ không tách khỏi thiên nhiên.
Tuy nhiên, điều đáng quý hơn cả là nhà thơ ca ngợi vẻ đẹp văn hóa truyền thống đồng thời cũng thể hiện ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc trong đời sống hiện đại. Nỗi lo mai một văn hóa xuất hiện nhiều lần trong tập thơ, đặc biệt ở bài Lạc nhịp chiêng. Đây là bài thơ giàu bản sắc, kết tinh hồn cốt của văn hoá Thái từ chiêng, trống, vòng xoè, má pém, khăn piêu, điệu then, nhà sàn, hoa ban đến cả tiếng mưa, mây trắng, đá tai mèo, sông Đà.
Qua hành trình rời bản và khát vọng trở về, bài thơ phản ánh nỗi đau mất gốc văn hoá, đồng thời tôn vinh sức sống bền bỉ của truyền thống Thái Tây Bắc, rằng có thể bị lãng quên, bị vùi giấu, nhưng chưa bao giờ biến mất: “Em bỏ Mường đi xa/ Em bỏ rừng cây theo rừng người/ Bỏ câu hát thơm mùi xôi nếp/ Bỏ chín điệu then…/ Bỏ nửa con trăng níu nghiêng dáng mẹ…Em chôn má pém cuối nương thay giọng thung, đổi giọng suối/ Em nhuộm mình màu đồng bằng” nhưng rồi đến một ngày: “…xuân mon men đậu lên mép nhà sàn/ Con chim xanh bay về núi/ Con chim én bay về rừng/ Hoa ban bay lên trời thắp bạc/ Vòng xòe trổ trăng khuyết đợi em lạc nhịp chiêng”.
Trong Mai con xuống phố, tiếng nói của người mẹ trở thành tiếng nói của cộng đồng gửi tới thế hệ trẻ: “Mai con đi học/ con nhớ mang mường, bản, suối, thung” rằng đi xa nhưng đừng quên cội nguồn, học tập để đổi thay cuộc đời nhưng phải giữ bản sắc dân tộc. Đặc biệt rất đẹp là hình ảnh: “mặc vào con nhớ đường về, như con nai nhớ núi”. Một sự so sánh tự nhiên mà giàu xúc cảm, “Con nai nhớ núi” là nỗi nhớ bản năng, sâu trong máu thịt. Đây không chỉ là lời dặn con đừng quên quê hương mà còn là khát vọng bảo vệ căn tính dân tộc trong hành trình hội nhập. Nhà thơ hiểu rằng cái mất đáng sợ nhất không phải nghèo đói mà là mất gốc văn hóa. Chính vì vậy, thơ chị luôn đau đáu nỗi lo thời đại. Đó là nỗi lo rừng bị tàn phá, bản làng bị biến dạng, con người bị cuốn vào nhịp sống thị trường mà đánh mất mình. Từ những tập thơ trước như Mùa lá thức, cảm thức ấy đã xuất hiện: “Đất phơi lưng trắng bạc màu/ Đồi nương trơ trọc núi nhàu cỏ lau” (Nhớ rừng). Đến Đợi đến mùa khoe eo, nỗi lo ấy trở nên sâu sắc hơn vì nó gắn trực tiếp với sự biến mất của văn hóa cộng đồng.
Song song với cảm hứng văn hóa là cảm hứng về con người miền núi. Lương Mỹ Hạnh đã khắc họa thành công vẻ đẹp khỏe khoắn, chân thật và giàu nghị lực của những con người Tây Bắc. Họ hiện lên trong lao động nhọc nhằn nhưng luôn mang sức sống mãnh liệt: “Trai núi/ như xương rồng trên sỏi/ lá cứ xanh, xanh lên thách nắng” (Trai núi). Hình ảnh “xương rồng trên sỏi” vừa diễn tả sự khắc nghiệt của môi trường sống vừa biểu tượng cho sức sống bền bỉ của con người miền núi. Nhà thơ không né tránh hiện thực nghèo khó: “cái đói như sương muối cấu vào da thịt” (Chiều Co Mạ); “nhà mình mái lợp mây vách thưng gió” (Mai con xuống phố); “bắp ngô còi treo trĩu mái gianh” (Dấu chân vượt thác)…Nhưng thơ chị không chìm trong bi lụy mà luôn hướng về niềm tin và khát vọng đổi thay: “đá ôm ghì những dấu chân vượt thác” (Dấu chân vượt thác); “đá cựa mình/ đất nồng nàn hơi thở/ hạt nảy mầm lách tách dưới bụi mưa” (Xuân biên cương). “Hạt nảy mầm” trở thành biểu tượng đẹp của sự hồi sinh, của niềm tin vào tương lai.

2. Một trong những phương diện đặc sắc nhất của tập thơ chính là tính nữ. Nếu bản sắc dân tộc là “phần hồn văn hóa” thì tính nữ là “phần hồn cảm xúc” trong thơ Lương Mỹ Hạnh.Tính nữ trong thơ chị không chỉ biểu hiện ở đề tài tình yêu mà còn hiện diện trong cách cảm, cách nghĩ, cách nâng niu sự sống. Ngay từ các tập thơ trước, giọng thơ ấy đã rất rõ: “Áo cóm thương ai cúc thiếu một chùm” (Đêm cong), “Ngàn lời muốn nói cùng anh chưa dám bùng/ Em vụng dại thắp lòng mình lên những nốt kim” (Lời piêu).
Đến Đợi đến mùa khoe eo, tính nữ trở nên sâu sắc và trưởng thành hơn. Người phụ nữ trong thơ không còn chỉ là đối tượng của tình yêu mà đã trở thành chủ thể cảm xúc, chủ thể văn hóa. Thiên nhiên trong thơ chị luôn được cảm nhận bằng cái nhìn nữ tính: “Bản như gấm thêu hoa choàng thung lũng” (Chạm màu thổ cẩm), “mây như áo lụa choàng nóc phố” (Tan vào Bắc Yên); “đồi bông lau cuốn theo chiều con gió” (Dịu dàng); “giọt ngâu xăm vào vai lạnh buốt” (Chớm thu), “Chiều lên màu Co Mạ trong veo như mắt bê” (Chiều Co Mạ), “đồi lau cằn mong chiếc đệm êm” (Lời suối trong)…Thiên nhiên không dữ dội mà mang sắc thái mềm, mỏng, giàu xúc giác và tâm trạng. Người phụ nữ trong thơ hiện lên duyên dáng, kín đáo mà đầy sức sống: “má hồng bưng kín” (Chưa tới mùa khoe eo); “em theo mẹ diện áo cóm” (Ngày em về). Đó là vẻ đẹp e ấp rất riêng của phụ nữ miền núi. Đặc biệt, tính nữ thể hiện qua đời sống nội tâm giàu cảm xúc. Người phụ nữ trong thơ có rất nhiều cung bậc cảm xúc: nhớ nhung, cô đơn, khát vọng yêu, chờ đợi, day dứt, dịu dàng.
Trong bài Im lặng: “Anh im lặng/ mặt hồ thu nổi sóng”. Sự im lặng của người đàn ông lại tạo nên sóng động trong tâm hồn người phụ nữ. Hay trong bài Quỳnh: “em, nữ hoàng cô đơn/ lấy ánh trăng làm vương miện”. Đó là vẻ đẹp cô đơn rất đàn bà kiêu hãnh nhưng nhiều khắc khoải. Nỗi nhớ trong thơ chị thường rất mềm: “em thả nỗi nhớ lang thang trong cỏ” (Tình em). Cách diễn đạt giàu nữ tính bởi nỗi nhớ không dữ dội mà âm thầm, lan tỏa. Một nét rất đẹp trong tập thơ là hình ảnh người mẹ miền núi tảo tần: “mẹ giấu đời mình vào ghềnh thác” (Sén Cù), “vai mẹ trĩu gánh nỗi buồn hút gió” (Nghe hồn gốm thở nơi xa), “mẹ thắp đêm khâu chiếc áo dân tộc mình” (Mai con xuống phố). Người phụ nữ hiện lên vừa lam lũ vừa bền bỉ như đất núi. Đặc biệt, họ là người giữ gìn văn hóa: dệt thổ cẩm, khâu áo dân tộc, giữ lời mo, giữ bếp lửa, giữ tiếng hát bản mường. Vì thế, trong thơ Lương Mỹ Hạnh, người phụ nữ chính là “người giữ hồn dân tộc”.
3. Không chỉ giàu bản sắc và tính nữ, thơ Lương Mỹ Hạnh còn có chiều sâu công dân đáng chú ý. Chị viết về giáo dục, nghèo đói, sự tụt hậu và cả những góc khuất xã hội miền núi bằng cái nhìn nhân văn. Trong Nỗi đau giấu mặt, chị viết: “bệnh thành tích và những gì quá đát/ vẫn đua nhau đục rỗng những ngôi trường”. Đây là tiếng nói phản biện xã hội mạnh mẽ. Hình ảnh “đục rỗng” khiến người đọc liên tưởng đến sự mục ruỗng từ bên trong của một một bộ phận giáo dục. Hay trong Chiều Co Mạ: “sương mù nơi đây cũng nhuốm máu anh túc”. Một câu thơ ngắn nhưng gợi cả bi kịch ma túy từng ám ảnh nhiều vùng cao Tây Bắc. Điều đáng nói là dù viết về hiện thực đau đớn, thơ chị không chìm trong bi lụy mà luôn hướng tới ánh sáng. Đó là niềm tin vào con người, vào sự hồi sinh và khả năng giữ lấy cội nguồn. Một mạch cảm xúc khác khá nổi bật là sự tri ân lịch sử, những con người đã hy sinh cho đất nước. Trong các bài thơ Những mùa hoa thắp lửa, Treo nửa vầng trăng, Thăm đồn Mộc Lỵ, Xuân biên cương hình tượng người chiến sĩ cộng sản, dân công hỏa tuyến, người lính biên cương được khắc họa đầy xúc động: “tiếng xiềng xích lặng dần vọng tiếng gà đổi canh” (Những mùa hoa thắp lửa), “xe thồ nặng ý chí” (Treo nửa vầng trăng), “cánh tay vươn ôm cột mốc quê nhà” (Xuân biên cương). Nhà thơ không nhìn lịch sử bằng giọng sử thi khô cứng mà bằng cảm xúc mềm mại, giàu nữ tính. Vì thế, lịch sử hiện lên gần gũi, giàu sức thuyết phục.
4. Về nghệ thuật, tập thơ gây ấn tượng bởi hệ thống hình ảnh giàu tính tạo hình và biểu tượng. Những câu thơ như: “Con đường dệt bằng mây” (Tan vào Bắc Yên); “bánh xe như nửa vầng trăng vừa nhú” (Treo nửa vầng trăng); “sàn nhà thêu hoa rung rinh cánh nắng” (Dấu chân vượt thác), “ức để trần đen bóng màu lim” (Trai núi)… đều cho thấy khả năng liên tưởng tinh tế và giàu chất hội họa của tác giả. Trong thơ còn có sự đan xen giữa đời sống thực và không gian huyền thoại tạo nên vẻ đẹp vừa thực vừa mơ: “mây như áo lụa choàng nóc phố” (Tan vào Bắc Yên), “ngọn gió rừng già thổi vào miền cổ tích” (Dấu đá). Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính, mang âm hưởng dân ca miền núi với nhiều điệp từ, điệp nhịp: “Lá mưa lá mưa” (Lá mưa); “Anh có về” (Tình em).
Nhịp thơ khi ngân nga như lời hát giao duyên, khi dồn dập như nhịp chiêng hội xuân. Ngôn ngữ và hình tượng mang màu sắc bản địa cũng góp phần thể hiện bản sắc văn hóa. Lương Mỹ Hạnh sử dụng rất nhiều từ ngữ dân tộc và địa danh Tây Bắc: Bắc Yên, Mường Do, Chiềng Ngần, Co Mạ, Mường Luông, Nặm La, Mường Chanh, Ngọc Chiến… Cùng với đó là hệ thống từ ngữ bản địa: áo cóm, khăn piêu, má pém, xà eo, lời mo, váy xòe, điệu then…Những từ ngữ ấy giúp thơ mang hơi thở riêng của miền núi, tạo nên tính địa phương đậm nét: “khăn piêu tươi màu nhớ, áo cóm canh ngực đồi” (Chưa tới mùa khoe eo), “Xuân mọc từ chiếc xà eo em lên đồi” (Chiềng Nơi)… Thơ chị giàu nhạc tính, nhiều động từ mạnh và có khả năng “hữu hình hóa” cảm xúc: “thời gian thở đá” (Tan vào Bắc Yên), “giọt suy tư thắp nến rạng chân tường” (Nỗi đau giấu mặt). Đó là dấu hiệu của một tư duy thơ giàu sức liên tưởng và có chiều sâu biểu tượng.
Có thể nói, thế giới thơ Lương Mỹ Hạnh vừa mang màu sắc dân gian vừa có hơi thở hiện đại, vừa gần gũi vừa giàu tính biểu tượng. Đặc biệt, việc sử dụng dày đặc chất liệu văn hóa dân tộc giúp thơ không chỉ đẹp về hình ảnh mà còn giàu chiều sâu văn hóa, khiến mỗi bài thơ như một lát cắt sống động của đời sống miền núi. Tuy nhiên, chính sự dày đặc hình ảnh và cảm xúc, nhiều liên tưởng chồng lớp ở một số đoạn thơ đôi khi cũng khiến cho người đọc khó tiếp nhận. Dẫu vậy, điều này không làm lu mờ giá trị chung của tập thơ mà ngược lại còn cho thấy một phong cách nghệ thuật giàu cảm xúc, giàu khát vọng biểu đạt.

Nhìn trong tổng thể thơ ca Sơn La đương đại, Lương Mỹ Hạnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ nữ viết về Tây Bắc hôm nay. Nếu trước đây thơ miền núi thường nghiêng về chất sử thi hoặc mô tả phong tục thì thơ chị đã đưa đời sống văn hóa dân tộc đi vào chiều sâu nội tâm và ý thức cá nhân hiện đại. Chị không chỉ viết về Tây Bắc mà viết từ bên trong tâm thức Tây Bắc. Trong nền thơ nữ Việt Nam đương đại, Lương Mỹ Hạnh cũng có vị trí riêng bởi chị tạo được sự hòa quyện hiếm có giữa bản sắc dân tộc và tiếng nói nữ tính hiện đại.
Có thể nói, Đợi đến mùa khoe eo là một tập thơ hay về Tây Bắc và là một bản hòa ca của ký ức văn hóa, tâm thức nữ và tình yêu cội nguồn. Ở đó có tiếng chiêng neo hồn bản, có tiếng khèn gọi bạn tình, có bàn tay mẹ khâu áo trong đêm, có những cô gái váy xòe chờ mùa hội, có nỗi lo mất gốc văn hóa và cũng có khát vọng gìn giữ những giá trị bền vững của con người. Giữa đời sống hiện đại đầy xô lệch và đứt gãy, thơ Lương Mỹ Hạnh giống như một dòng suối nguồn chảy lặng lẽ qua đại ngàn Tây Bắc mềm mại mà bền bỉ, nữ tính mà sâu sắc, mang theo tiếng nói của văn hóa dân tộc đi qua những mùa gió núi để ngân vang lâu dài trong tâm thức người đọc hôm nay.
HOÀNG KIM NGỌC
———————
Tài liệu tham khảo
1. Lương Mỹ Hạnh. Đá hát, thơ, NXB Hội Nhà văn, 2019/
2. Lương Mỹ Hạnh. Mùa lá thức, thơ, NXB Hội Nhà văn, 2022/
3. Lương Mỹ Hạnh. Hoa mắt gió, thơ, NXB Hội Nhà văn, 2024/
4. Lương Mỹ Hạnh. Đợi đến mùa khoe eo, thơ, NXB Hội Nhà văn, 2026















