Thơ Nông Quang Khiêm, “mảnh hồn” riêng độc đáo Tây Bắc

Vanvn- Thơ ca là lĩnh vực của cái độc đáo, nó đòi hỏi mỗi người khi bước vào thế giới nghệ thuật phải có vẻ riêng, không thể lẫn. Khi đã tạo dựng được một thế giới nghệ thuât độc đáo thể hiện qua giọng điệu riêng thì khi đó nhà thơ đã tạo dựng được phong cách nghệ thuật. Qua những bài thơ của Nông Quang Khiêm, bản sắc văn hóa dân tộc Tày được thể hiện bằng một giọng điệu thơ riêng, độc đáo không thể lẫn.

Nhà thơ Nông Quang Khiêm (Yên Bái – Lào Cai)

Mảnh hồn dân tộc Tày qua giọng thơ đằm thắm dung dị

Trong văn chương, giọng điệu là yếu tố hình thức cực kỳ quan trọng để chuyển tải tư tưởng, tình cảm, quan niệm về con người và đời sống của người nghệ sĩ. “Nếu một tác giả không có lối đi riêng thì không bao giờ trở thành nhà văn, và nếu nhà văn ấy không có giọng điệu riêng thì anh ta không bao giờ trở thành nhà văn thực thụ” (A. P. Chekhov). Trong thơ ca, giọng điệu riêng càng phải như vậy. Bởi vì giọng điệu thể hiện rất rõ phong cách riêng của người nghệ sĩ và là xung lực tạo nên sự đồng điệu của tâm hồn, qua những rung cảm thẩm mỹ của người đọc. Qua giọng điệu, ta thấy được nội dung tình cảm, thái độ ứng xử của tác giả trước các hiện tượng đời sống, cũng như các vấn đề mà tác giả đặt ra trong tác phẩm văn học.

Các nhà nghiên cứu và các nhà văn lớn đều thống nhất cho rằng giọng điệu là hình thức thể hiện của thế giới nghệ thuật. Thế giới nghệ thuật của thơ thường được thể hiện một cách rõ nhất qua giọng điệu của nhà thơ ấy. Một nhà thơ có thể có nhiều giọng điệu qua từng nguồn cảm hứng, qua từng tác phẩm. Nhưng điểm hội tụ của các giọng điệu trong một tác giả chính là nó góp phần làm nên cấu trúc thẩm mĩ hình tượng. Giọng điệu là một kênh, một lối dẫn đi vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học nói chung, thơ ca nói riêng. Qua giọng điệu nghệ thuật, nó góp phần giúp độc giả hiểu đúng bản chất thẩm mĩ của hình tượng, đặc biệt là hình tượng tác giả.

Thơ Nông Quang Khiêm có giọng điệu riêng, đó là giọng điệu trữ tình đằm thắm. Ngôn ngữ thơ Nông Quang Khiêm là ngôn ngữ đời thường. Những lời nói thật thà của khẩu ngữ hàng ngày được anh sử dụng để cấu tứ, xây dựng hình ảnh. Nhưng những từ ngữ bình thường ấy tự nó có sức sống mạnh mẽ, bởi nó chính là cuộc đời. Những từ ngữ thật bình dị, thầm lặng mà vô cùng sinh động, say đắm, thiết tha. Các hình ảnh, âm thanh trong thơ Nông Quang Khiêm đều trong trẻo: tiếng mõ trâu, cánh đồng chiều, tiếng hát sli, hát cọi, tiếng suối, bản quê nghèo khó, ruộng bậc thang… Những âm thanh hình ảnh dung dị chắt ra từ cuộc sống lam lũ thường nhật đi vào thơ Khiêm rất đỗi tự nhiên. Bài thơ Mùa khói rơm là bài thơ với những hình ảnh quen thuộc nhưng lại lăng líu hồn người đọc trong nỗi nhớ quê bằng những hình ảnh bình thường thậm chí tầm thường nhất:

Bầy trâu thung thăng

Nhai gốc rạ

Mõ khua nhạc chiều.

Trẻ con

Hun chuột

Đốt rơm

Khói nhòe cay mắt

Vẫn cười hồn nhiên.

Cảnh vật bình thường quen thuộc của buổi chiều làng quê miền núi: đàn trâu nhai rơm, đám trẻ đốt khói hun chuột, vậy mà đi vào thơ Nông Quang Khiêm tự nhiên. Những câu thơ không chỉ có hình ảnh, mà gói cả âm thanh của buổi chiều làng quê qua tiếng đàn trâu “khua mõ nhạc chiều” bình yên nằm nhai rơm. Những câu thơ tả cái bình yên thường nhật nhưng lại đằm sâu trong nỗi nhớ của người đi xa.:

Bao người lớn lên

Có người tha hương

Bảo nhớ khói rơm

Cũng nhòe cay mắt.

Cái nhớ quê của người đi xa là cái nhớ khói rơm chiều muộn. Những câu thơ giàu sức gợi, ít lời mà nhiều ý nhưng lắng đọng trong tâm trạng bồi hồi thương nhớ gốc tử phần xa vời vợi. Nông Quang Khiêm thường hay nói về quê hương với nỗi buồn hoang hoải. Trong thơ Khiêm, những mái nhà sàn, những đêm đánh rọ, những đêm hội xòe, ngày tết dân tộc… hiện lên với tình yêu tha thiết mãnh liệt được bộc lộ qua giọng thơ đằm thắm, giàu sức lan tỏa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Giọng điệu không đơn thuần là vấn đề ngữ điệu, âm sắc mà là một phạm trù thẩm mỹ phức hợp, hình thành từ sự hòa quyện giữa cảm xúc, tư tưởng, thái độ, lựa chọn ngôn ngữ và điểm nhìn trần thuật của người sáng tạo”. Thế giới nghệ thuật trong thơ Nông Quang Khiêm chủ yếu là thế giới của hồn quê làng bản nghèo khó vất vả với những ngôi nhà sàn thấp thoáng trong rừng cọ ở miền núi trung du Bắc bộ, là gia đình với cha, mẹ, ông, bà cô giáo, tuổi thơ…

Một số tác phẩm của Nông Quang Khiêm

Cái nhìn của Nông Quang Khiêm khi viết về quê hương là cái nhìn qua một tâm hồn dịu dàng, nhân hậu thể hiện qua một giọng thơ đằm thắm. Quê hương trong thơ Khiêm không phải là quê hương của những chi tiết, mà cả “mảnh hồn quê” của dân tộc Tày. Bản sắc văn hóa dân tộc Tày được thể hiện trong thơ Nông Quang Khiêm hết sức đậm đăc, từ cách nói, cách tư duy qua điểm nhìn nghệ thuật về thế giới, đến những chi tiết: Nhà sàn, nương ngô, nương lúa, đá tai mèo, chiều hun chuột… tạo nên cái đặc sắc trong thơ anh. Không chỉ có thế, thơ Khiêm đi sâu thể hiện đời sống tâm linh của người Tày qua âm thanh của tiếng hát cọi, hát sli, hát lượn, câu khắp, và cả tiếng chim Pò ơi khắc khoải, qua những hồn, vía, tạo nên chiều sâu văn hóa dân gian của dân tộc Tày. Có được điều ấy, do nhà thơ gắn bó với cội nguồn văn hóa tộc người của mình. Ngay trong cách tư duy thơ cũng đậm sắc màu của “mảnh hồn” Tày vùng hồ Thác Bà mềm mại bằng một giọng thơ dịu dàng trong trẻo: “Đời như cây cỏ/ Rễ người vươn xa…/ Tôi như nhánh rễ/ Về nơi không nhà…/ Muôn nẻo đường qua/ Trở về một lối”. Đọc thơ Nông Quang Khiêm ta thấy “mảnh hồn” Tày đang thao thiết gọi.

Hôm nay ngày cuối năm

Người Tày phơi lá cuổi vài làm bánh tải

Đốt cây mạy mạ làm bánh lăng kho

Nhà nhà mổ lợn tạ lễ Pú Chỏ

Người người tắm lá xính xảo

Rũ đi vận hạn, âu lo…

(Tết Tày)

Một trong những bài thơ hay nhất của Nông Quan Khiêm là Lời Khảm hải

“À lới!…

Đét nàng ơi…”

Lời hát thẳm sâu vời vợi

Cha hóa thân thành Sa Dạ Sa Dồng

Vượt bể khổ trầm luân…

…“À lới!…

Đét nàng ơi…”

Lời hát ru con trên nương

Lời hát đưa con vào giấc ngủ

Lời hát như ánh lửa

Dắt lối con đi

Dắt lối con về…”

Những câu thơ ru hồn mụ mị. Nhưng câu thơ chập chờn mê tỉnh. Cái mụ mị chìm trong cõi vô thức của văn hóa tộc người. Nếu phân tích bài thơ qua những câu chữ để tìm ý nghĩa của văn bản, thì mới chỉ thấy cái vỏ của thơ. Thơ mà phân tích được ý nghĩa từng câu chữ chỉ là thơ bình thường. Thơ chỉ có thể cảm nhận bằng hồn mình là thơ hay. Ẩn thật sâu trong trong những câu chữ của bài thơ là bản sắc văn hóa Tày trong mênh mang lời Khảm hải, làm sao có thể phân tách rạch ròi chẻ chữ nghĩa làm hai như thông thường được. Cái hồn Tày chơi vơi qua câu chữ, trong những con sóng cuồn cuộn đỏ ngầu. Bao thân phận Sa Dạ, Sa Dồng đang nhấp nhô trên sóng máu của biển cả cõi âm hãi hùng. Một màu đỏ của máu qua bao đời người Tày cứ chập chờn mê tỉnh trong những đêm Khảm hải… Hồn người con neo đậu lại trong những lời Khảm hải, trong lời ru của mẹ Tày hiền hậu. Những câu thơ như thế này là những câu thơ thật hay, ám ảnh người đọc.

Trong thơ Khiêm, có một không gian đặc biệt: Không gian của ngôi nhà sàn. Những ngôi nhà sàn của người Tày như trầm tích văn hóa bao đời người dù lam lũ, khó nhọc hay giàu sang… Chiếc cầu thang đầu sàn nơi bao cô gái ngồi hát cọi, bao chàng trai gửi vía mình lại nơi ấy, cái cầu thang nơi con ngồi đợi cha mẹ đi làm nương về trong hoàng hôn sẫm bóng, đầu cầu thang bóng em ngồi thêu áo để anh ngóng trông, nơi mẹ tiễn cha đi chiến trường ước hẹn ngày trở lại, nơi bà dắt cháu lẫm chẫm bước đầu tiên… Trong ngôi nhà là lời nói, tiếng điếu cày của cha, lời ru của mẹ, là nơi những câu truyện cổ tích của bà với những giát tre đen bóng. Ngôi nhà là nơi bao thế hệ lớn lên bước chân ra đường mang rễ người đi xa. Không gian ấy, tạo thành thế giới nghệ thuật của Nông Quang Khiêm. Theo chiều ngược lại, thế giới nghệ thuật cụ thể, sống động, giàu xúc cảm, tâm trạng thể hiện qua giọng thơ đằm thắm, dung dị. Thế giới nghệ thuật ngồn ngộn trầm tích văn hóa Tày được nhìn qua đôi mắt nồng hậu. Thơ là tiếng nói của tâm trạng. Thế giới nghệ thuật của thơ Nông Quang Khiêm là thế giới của tâm trạng. Một tâm trạng với cái nhìn trong trẻo về con người và cuộc đời, nó được bắt nguồn từ gốc rễ văn hóa, trở thành mảnh hồn dân tộc Tày qua một giọng thơ đằm thắm, dịu dàng.

Thơ Nông Quang Khiêm có giọng điệu nhẹ nhàng, điềm tĩnh. Dù trong những đêm hội xòe, những buổi ném còn ngày hội xuân, thơ anh cũng không vội vàng. Hình như đấy là “cái tạng người” của tác giả. Giọng thơ Khiêm đôi lúc giống giọng của ông thầy Tào, thầy Pựt trong làng kể lại điển tích truyện cổ cho mọi người bên bếp lửa bập bùng trong những đêm đông giá lạnh. Cái giọng rủ rỉ ấy có cái duyên riêng của nó. Bài thơ Ký ức quê tiêu biểu cho giọng điệu ấy. Tình yêu quê hương xứ sở trong thơ Nông Quang Khiêm không ồn ào, mà là những kỷ niệm, những hình ảnh nhẹ nhàng nhưng thấm sâu. Bản nghèo luôn nằm trong sâu tâm thức của nhà thơ, đất cằn cỗi không giữ nổi hạt phù sa. Đất khô khát quặn mình thấm bao giọt mồ hôi để làm nên mùa màng. Mùa lại mùa, cơn gió hoang hoải thổi qua những đồi trống cằn cỗi:

Bản tôi nghèo

Hạt phù sa lại trôi về phía biển

Mẹ tôi hao gầy

Đất quặn mình khát giọt mồ hôi

Gió quê tôi cồn cào qua đồi trống

Đá tai mèo vắt sữa nuôi cây lúa cây ngô

Chỉ có sự lao động cần cù mới làm nên sự sống. Những câu thơ chất chứa yêu thương mà sao vẫn diệu vợi nỗi buồn. Những câu thơ thật hay, giàu sức gợi “Đá tai mèo vắt sữa nuôi cây lúa cây ngô” như một ám ảnh nghệ thuật. Nhưng quê hương còn có cả chiều sâu tâm linh trong lớp lớp trầm tích văn hóa “Chiều chăn trâu/ Gặp ông bà ngủ vùi trong đá”. Bài thơ đạt đến trình độ của diễn ngôn nghệ thuật mà trong đó có nỗi buồn, tình yêu cuộc sống, có sự tin tưởng vào tương lai, có tầng tỉnh thức của tâm linh. Những hình ảnh thơ gắn chặt với bản thể văn hóa Tày của Khiêm đã chắt ra những câu thơ đầy ám ảnh: “Cầm bát cơm/ Hiện lên màu của nắng…”. Trong thơ Nông Quang Khiêm có những hình ảnh thật gợi, giàu chất tạo hình. Diễn tả con đường dốc miền núi cheo leo đi lên nương thì: Đầu gối chạm tai… Nắng gập ghềnh khiến người đọc liên tưởng tới câu thơ bất hủ “Heo hút cồn mây súng ngửi trời” của Quang Dũng. Không gian bình yên của bản làng hiện lên qua câu thơ thật đẹp: “Trước nhà mây ngập lối/ Bò gặm mòn chiều sương”, hay “Chiều chăn trâu/ Gặp ông bà ngủ vùi trong đá”; “Có khi hàng lại ế/ Mẹ gánh về… heo may”…

Nói đến thơ là phải nói đến tình yêu. Nông Quang Khiêm ít viết về tình yêu và tình yêu trong thơ anh không mãnh liệt cháy đến kiệt cùng mà nó nhẹ nhàng nhưng sâu lắng. Tình yêu kiểu ấy được thể hiện qua giọng thơ đằm thắm là rất phù hợp. Gặp cô gái trong ngày hội xuân, nhân vật trữ tình chết lặng khi trái tinh rung lên những nhịp đập đầu tiên của tình yêu:

Neo lòng tôi tiếng hát cọi trong ngần

Tim tôi phập phồng hơi thở phía ngực em

Chôn chân đứng im

Vía tôi theo em đi hết!…

(Hội xuân)

Tình yêu trong thơ Khiêm thường là tình nhẹ nhàng, và chủ yếu là mối tình đơn phương. Gặp trong hội xuân đấy, yêu say đắm ấy, nhưng đó chỉ là tình ở phía chàng trai miền núi

Hội xuân…

Tôi bần thần

Em đã theo chồng

Vía tôi chưa quay lại…

Và cuối cùng là: Hội xuân/ Một mình tôi lẳng lặng/ Rót rượu uống say!… trong nỗi thất tình! Tình yêu trong thơ Khiêm không có yếu tố phồn thực hay sắc dục, mà thường nó được nhìn qua cái nhìn trong veo với những rung động đầu đời: Vạn người đi qua/ Một em nỗi nhớ…(Một).

Nhà thơ Phan Hoàng hội ngộ nhà thơ Nông Quang Khiêm ở Tây Bắc

Giọng điệu suy tư thể hiện qua cấu trúc thơ giàu nhạc điệu

Bên cạnh giọng điệu đằm thắm dung dị chở mảnh hồn Tày đi trong thi ca, Nông Quang Khiêm còn có giọng điệu thơ đầy suy tư thể hiện qua cấu trúc thơ giàu nhạc điệu. Thơ của Khiêm chủ yếu là thơ tự do. Đây là thể thơ giàu nhạc điệu nhất trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Trong thơ Nông Văn Khiêm luôn có sự biến đổi cả nhịp điệu lẫn số chữ trong thơ. Hầu như chỉ dùng tiếng thuần Việt. Lời thơ của Nông Quang Khiêm là lời nói đơn sơ, không trau chuốt nhưng dội sâu vào tâm hồn, nó thốt ra tự đáy của tâm hồn.

Đọc những bài thơ của Nông Quang Khiêm, những suy tư trong thơ thường chất chứa trong tâm trạng cụ thể gợi lên từ những ảnh cụ thể: Mái nhà sàn, mẹ cha đi nương gợi nỗi vất vả, tiếng chim Pò ơi, dáng gầy guộc của cây cỏ lau, chiếc gùi tảo tần lam lũ… Đó là cái lặng người khi suy nghĩ về ngôi nhà sàn thân thương, là mái ấm của biết bao thế hệ sinh ra, lớn lên của gia đình mình

Cầu thang trước bảy bậc như vía ông vía cha

Cầu thang sau chín bậc như vía mẹ vía bà

Đấy là vía của nhà

Nhắc con cháu đi xa biết nhớ. 

(Nhà sàn)

Đó là cái suy tư của nhưng tháng năm tuổi trẻ rời xa quê lập nghiệp, từ lời nói đến trang phục dường như không còn là nông dân, nhưng trong vô thức, bản chất nông dân vẫn đậm trong giấc mơ: “Con người nông dân/ ngỡ như mất hẳn/ Vậy mà toàn mơ/ theo cha đi cày…” và khi trắng tay trở về trong nỗi cô đơn xót xa

Con lớn rồi

    nhẵn trắng hai bàn tay

Về cúi mặt

    trước đường cày…

(Trông theo đường cày)

Quê hương trong thơ Nông Quang Khiêm thường là quê nghèo “Bản tôi nghèo” với những “thửa ruộng bạc màu”, đến tiếng chim cũng “gọi mùa giáp hạt” trong cái đói quay quắt ám ảnh cả kiếp người… gợi lên nỗi buồn se sắt, thơ Khiêm có giọng ưu tư gói trong thương nhớ.

Chất suy tư của thơ Nông Quang Khiêm không chỉ được nói bằng ngôn ngữ với những từ ngữ giàu sức gợi, lắng sâu mà còn được nói bằng những khoảng lặng. Nếu coi nhưng bài thơ của Khiêm là những bản nhạc, thì các bản nhạc ấy nhiều “dấu lặng”. Thơ nói nhiều bằng những khoảng trống nó gợi cho người đọc những nghĩ suy, ám ảnh. Việc sử dụng thủ pháp “dấu lặng” trong âm nhạc vào thơ khiến thơ Nông Quang Khiêm không cần nói nhiều mà ý tứ cứ nối dài trong lòng người đọc như những âm thanh không dứt: “Mẹ đi lên nương/ Lặn trong mây mờ/ Khói nương mẹ đốt/ Cay xè tuổi thơ”. Hay cái nỗi nhớ về cái bếp lửa nhà sàn ngày xưa như nhớ đến mảnh hồn làng “Giờ nồi điện, bếp ga, nhà cao mặt phố/ Chợt ngơ ngẩn nhớ bếp lửa nhà sàn”.

Bài thơ Nói với con là bài thơ tiêu biểu cho cách sử dụng “dấu lặng” trong thơ. Bài thơ không nhiều chữ, đơn sơ, trong trẻo, được nói bằng giọng điệu đằm thắm chất chứa suy tư. Bài thơ có cái nhìn nhân văn về cuộc đời. Con đường núi trơn trượt, ghập ghềnh là tượng trưng cho những khó khăn, chông gai trên đường đời. Đừng bao giờ quẩn quanh với với những ước mơ nhỏ mọn trước mắt hãy ngẩng đầu mơ những khát vọng lớn: “Đi hết núi cao/ Đến núi cao hơn/ Ngẩng đầu mà đi/ Phía trước chân trời mở.”. Dù là chân trời cũng có nhiều dông gió, nhưng hãy tin tưởng và ngẩng đầu mà bước, hãy gieo lòng tốt qua những bước chân qua. Nhưng luôn nhớ rằng hãy hướng về phía mặt trời mà bước. Mặt trời tượng trưng cho những gì tốt đẹp, ấm áp của cuộc đời này, là chân lý của chân trời xanh. Đọc những bài thơ như thế thật hay, ám ảnh và có dư ba.

Trong thơ Nông Quang Khiêm chất triết lý thường được đúc kết từ những sự vật hiện tượng của đời sống. Những triết lý nhẹ nhàng nhưng khá sâu lắng. Nhà thơ mượn cách nói của dân tộc mình để là nên chất triết lý của bài thơ. Như bài thơ Rễ người thể hiện triết lý: mỗi con người là một nhánh rễ vươn xa trong cuộc đời nhưng không bao giờ được quên nguồn cội: Đến đâu đến đâu/ Vẫn mình người núi/ Vẫn vươn nhánh rễ/ Từ gốc rễ người… sâu xa hơn đó là gốc rễ nhân bản của lòng tốt của sự vị tha của niềm khao khát những điều tốt đẹp. Có lúc, triết lý gói gọn trong một câu thơ ngắn: Hạnh phúc do ta tạo ra (Nói với con); “Trên bãi rác/ Có thứ không phải rác!…” (Trên bãi rác).

Từ kim cổ, đông tây, với nhiều cách nói, nhiều luận thuyết khác nhau về thơ ca, nhưng người ta đều thống nhất một điểm: Chất triết lý là một trong những phẩm chất của thi ca. Nếu thơ không có triết lý thì thơ thường thiếu cốt cách. Nhà thơ Chế lan Viên từng viết “Không tách riêng ra tư tưởng để nói triết học giữa đời – chúng ta lẩn vào thi ca trong chăn gối, dâng lên từ cảnh vật. Ẩn một chút gì tươi mát giữa cỏ cây, chúng ta ca lên những tiếng ca xanh…” (Vàng sao). Thơ Nông Quang Khiêm chất chứa nhiều tâm trạng nhưng tính triết lý chưa thực sự làm nên hồn cốt của thơ. Do đó thơ Nông Quang Khiêm là thơ có cá tính độc đáo, đã hình thành phong cách riêng nhưng chưa làm nên một phong cách thơ lớn. Nhiều bài thơ tính triết lý còn vụng, chưa chín (ví dụ bài thơ Bù nhìn). Trong nền thơ ca Lào Cai, các nhà thơ lớn đều là những nhà thơ có cá tính và thơ họ thường giàu chất triết lý như: Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn, Ngọc Bái, Mã A Lềnh…  Nông Quang Khiêm đã định hình một phong cách thơ, nhưng chưa đạt đến tầm vóc của một phong cách lớn, phải chăng vì tính triết lý trong thơ còn mờ nhạt chăng? Nhưng, nên nhớ rằng: Trong thơ, ngôn ngữ vừa là phương tiện vừa là mục đích vừa là thông tin mang tính thẩm mỹ nghệ thuật. Khác với triết học, ngôn ngữ thơ dù có chất chứa bao nhiêu triết lý mang tính triết học thì vẫn phải là thơ. Tức là nó chỉ gợi cho người đọc suy nghĩ mà không đi sâu vào giải thích lan man. Qua các triết lý của thơ, người ta nhận thấy tư tưởng của tác giả.

Dẫu vậy, như R. Jakobson từng nhận định: “Ngôn từ trong thơ là cứu cánh của chính nó”. Thơ Nông Quang Khiêm thường gợi mở suy nghĩ qua những hình ảnh giàu  bản sắc văn hóa dân tộc. Anh đã đóng góp vào văn học dân tộc thiểu số một giọng điệu độc đáo, gắn bó sâu nặng với “mảnh hồn Tày”. Sự lao động nghệ thuật gian khổ đã giúp anh định hình một phong cách thơ độc đáo, đầy bản sắc đang trưởng thành.

NGÔ QUYỀN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *