Thi giới Ngô Thanh Vân – Cõi thơ trôi dần về huyền mộng 

Vanvn- Ngô Thanh Vân một người con nương náu phố phường mà hồn cốt vẫn mát đượm hương quê. Chân thành. Mộc mạc. Lắng sâu. Một hồn thơ tình tự đời phận gái. Một hồn người khắc khoải ngãi keo sơn. Tiếng lòng giấu vào đêm. Hơi thở tràn qua đá lạnh. Hương thơm đọng trong sương sớm. Nét buồn vương trên tóc rối. Tất cả hóa thành cái hình hài sống động của con-người-thơ đó. Ngô nữ sĩ đến với thơ ca từ thuở “trái tim thanh tân của nàng thiếu nữ”[7].

Và thơ đáp lại bằng ý tình ngại ngần, duyên dáng. Bởi vậy, đến nay, giọng điệu trong thơ trữ tình (từ dùng của Nguyễn Đăng Điệp) ấy vẫn đoái hoài một niềm riêng khó tả. Một thi giới đa mang, sầu cảm. Tiếng vọng lưng chừng của ngàn trước ngàn sau. Khắc khoải treo vào tâm khảm. Bâng khuâng như mây nhẹ thinh không. Cái hồn thơ ấy dội vào ngút ngàn tâm can độc giả. Để vọng về bao nỗi điêu thương.

Nhà thơ Ngô Thanh Vân ở Gia Lai 

Vì thế đặc trưng thi giới ấy, hiện lên cái hiện thực đa chiều kích, và tầng tầng những ám thị từ tiềm thức xa xăm. Qua những thi phẩm dưới đây trong tập Vân không, “nghệ thuật bằng ngôn ngữ của cảm xúc nói cho chúng ta hay mình là gì” [3, tr.72].

1. Cái-tôi-hiện-sinh trong miền siêu thực giả lập

Chẳng phải trong huyễn tưởng và giấc mơ mới có thế giới đậm chất siêu thực, thơ Ngô Thanh Vân cho ta một cái nhìn mới đó. Hiện sinh đến “lòng ru lòng/ sao vẫn thấy tan hoang” đã chạm đến miền siêu thực của cảm trạng đớn đau đến vô cùng, vô cực kia. Ở đó, những ai chưa từng chiêm nghiệm hoặc chưa đủ tình thương yêu để cảm nghiệm thì sẽ không bao giờ hiểu được miền tâm tưởng của nữ thi nhân. Sao mà hiểu nổi: “con đường vắng/ ngõ về cũng vắng/ lòng ru lòng/ sao vẫn thấy tan hoang” (Thinh không nhẹ bẫng vầng mây), sao mà tưởng tượng nổi cái lỗi nhịp, bơ vơ, lạc lõng muôn phần: “Tôi đã vắng tôi chưa mà trống rỗng/ đèn vào đêm phố ngả sang ngày” (Tôi đã vắng tôi), sao mà bi thương đến nỗi khó hiểu thấu: “Cánh đồng tôi ngày chỏng chơ gốc rạ/ bốn bề gió thốc cồn cào” (Cánh đồng tôi), một hồn thơ vụn vỡ của cái tôi nguyên phiến: “Những đoản khúc rạc rời/ không nối kết/ giữa cộ xe lui tới vẫn cộ xe/ Tôi chạm phải một tôi/ ngồi khóc/ trước tôi xa của ngày hôm qua” (Tôi đã vắng tôi), hay “Trái tim tôi trở về/ chữ nghĩa cũng trở về/ cùng nhìn tôi./ Và khóc!” (Nước mắt Vu lan).

Cái-tôi-hiện-sinh ấy lắm khi lại vượt thoát khỏi mọi nghĩ suy, tri kiến logic thông thường của con người. Chính những ý niệm gợi lên đó đã mang đến một vẻ đẹp đến nao lòng trong thi giới Ngô Thanh Vân. Vẻ đẹp của cõi lòng khắc khoải, niềm thương. Vẻ đẹp của một cái tôi trữ tình hóa thành một “người khác”, “người – khách lạ” lạc vào một “cõi khác”. Một miền siêu-thực-từ-cảm-trạng, ở đó chỉ có những khoảng không rợn ngợp, ngút ngàn, ở đó chỉ có cái tôi đi tìm sự thấu cảm, sẻ chia trong vài ba tâm hồn thân thuộc lắm: “ôm mộng tưởng mơ chân trời rộng lớn/ chỉ gió mây lồng lộng bạt núi đồi/ mà mưa nắng trăng sao không bán được/ mong gì chữ nghĩa/ mấy ai mua” (Đời mấy bận), “những chân trời thăm thẳm/ mặc sức em vẫy vùng/ tháng sáu trời buồn thả vạn giọt ngâu/ nên ô thước mịt mờ/ ngân hà thành nỗi niềm cách trở” (Tháng sáu), “Ta lạc chốn nhân gian này. Vô nghĩa/ sáng trưa ngồi đếm bụi hồng trần/ may sao còn dăm lời tri kỉ/ nương nhau cho hết cuộc mưu sinh…” (Lạc giữa nhân gian), “em đo thời gian lên kẽ tay/ chỉ thấy vương vài sợi trắng/ làm sao gói hết thanh xuân/ vào một ngày trở nắng” (Xa xa hoa cỏ rất hiền),… Và, trong “cõi khác” ấy, dưới cái nhìn đầy chiêm cảm của nữ thi nhân thì thời gian dường như hóa thành một sinh thể, một người tri kỉ “đồng lõa” với những nỗi ưu tư, giằng xé trong tâm khảm của nhà thơ. Ở đó, thời gian cơ hồ không hiện diện rõ rệt hoặc bị bôi xóa không thương tiếc bởi cái tôi trữ tình giờ đây trở nên đáng thương, chơ vơ đến tuyệt vọng, thành kẻ dở hơi, đôi khi giả bộ, như một kẻ tâm thần, thành người say, hóa người điên do bị sang chấn tâm lí nặng nề: “Những câu hỏi cong vào đêm bạc/ mảnh trăng suông lạc giữa hiên người/ con đường vắng/ ngõ về cũng vắng/ lòng ru lòng/ sao vẫn thấy tan hoang// đêm khánh kiệt/ gió cũng thành keo kiệt/ chẳng nỡ thổi qua dẫu chỉ một làn/ phừng phực cháy chỉ từ tàn đóm vụn/ nước xa/ mà lửa lại gần bên” (Thinh không nhẹ bẫng vầng mây), “với tay hái những vì sao lạc/ ngón thon tím bầm buốt giá/ tôi làm bạn với đêm khuya lạnh/ trăng vỗ về như thể tình nhân” (Cánh đồng tôi), “Tôi đã đi trong những ngày cuối cùng của mùa hạ/ Như một kẻ tâm thần” (Bình yên di cư),…

Trong hồn thơ đầy lạc lõng, thời gian dường như lịm đi, lụi dần trước sự đau thương của tâm trạng con người. Khi đau thương vượt qua ngưỡng chịu đựng khả dĩ thì thế giới siêu thực của giấc mơ (đây thường là những giấc mơ giả lập/tưởng tượng) có khi là liều thuốc an thần, làm dịu vợi nỗi đau nhất thời cho những sang chấn tâm lí hoặc những xung năng hừng hực chực chờ bùng nổ kia. Ta có thể dễ dàng nhận ra thế giới thơ tràn ngập những giấc mơ, ảo ảnh, những mộng du giả lập kia trong các tác phẩm: Khúc du thường, Lời hẹn bên chiếc cầu ở Madison, Lời của phố, Những buổi sáng cuối tuần, Viết từ tầng 17, Gió gởi đến em không?, Sóng lòng, Ngày mai, Đóa đêm, Thoảng một hương đêm, Chỉ biết mình tha thiết một mình thôi, Vọng đêm, Đêm mãn khai, Vệt thiều quang,… Sự hiện diện của chúng cũng minh chứng cho cảm thức muốn chạy trốn thời gian và hiện thế để tìm kiếm một nơi an trú đầy hạnh ngộ hơn.

Thế mà, cái tôi trữ tình càng muốn lạc trôi vào những giấc mơ, cơn mộng du kia để kìm nén, vơi bớt nỗi niềm điêu thương thì hiện thực lại kéo cái tôi trữ tình kia trở về với cuộc sống thêm phần mãnh liệt và thống thiết hơn. Đó chính là đỉnh điểm bi kịch tinh thần của người phụ nữ đầy khát khao tình yêu và sự hiện tồn: “Tháng tư này ngồi tiếc một giấc mơ/ ảo ảnh mờ sương trên núi đồi bạt gió/ lừng khừng giữa bộn bề đi ở/ cảm xúc nửa vời/ câu chữ rụng rơi” (Nói gì với tháng Tư), hay “Cây lặng thầm ôm ấp những bão giông/ mặc kệ cô đơn phủ đầy năm tháng/ bỗng một chiều cây vặn mình trút lá/ trơ cành/ phơi giấc mộng không thành” (Cây ngô đồng), lại hay như: “vùi giấc mơ vào cơm áo/ marathon 24 tiếng/ngày/ có đêm mắt chưa kịp ngủ/ gà đã vang/ đồng hồ rộn ràng” (Rỗng), “Còn câu thơ cũ ơ thờ/ Trả cho đêm vắng rồi mơ giấc nồng/ Quá khuya có nụ sen hồng/ Rụng vào yên lặng một mênh mông sầu!” (Đóa đêm).

Trong cõi thơ đầy mâu thuẫn và chất vấn kia, cái tôi trữ tình đứng giữa giao điểm của những va đập, đối thoại, đan xen và lồng ghép giữa các mảng cấu trúc của không/thời gian, giữa ước mong và hiện thực, giữa cái tôi và cái ta, giữa những xung đột từ ý thức lẫn trong chiều sâu của vô thức. Hình ảnh thơ vì vậy cũng tạo ra những điểm “va đập chói lòa của từ ngữ” (Vaché), “ánh sáng của hình ảnh” (Breton) [8], những điểm gặp gỡ đầy thú vị trong thi ảnh: “ký ức ăn mòn mảng tường rêu vữa”, “ngoài ô cửa/ tia nắng đầu tiên rọi vào hố thẳm” (Đêm), “em lành yên như vạt cỏ sau đồi” (Những lời nói sau lưng), “Đêm sâu như mắt người mất ngủ”, “Tôi đã đi trong những ngày cuối cùng của mùa hạ/ Như một kẻ tâm thần/ Du mục trên nỗi đau mà đôi môi rực rỡ nụ cười” (Bình yên di cư), “Cây bắp trên nương cũng cong thành dấu hỏi” (Mây trắng),…

2. Một trái tim bình thản trước bão giông

Thuyết hiện sinh luôn đề cao thái độ và sự lựa chọn của từng cá nhân. Thứ định đoạt số phận và tạo ra bản ngã của mỗi người. Trong văn học, thái độ và sự lựa chọn ấy hiện diện ở các chiều kích của văn bản văn học. Chất trữ tình trong thơ Ngô Thanh Vân vẫn nương vào câu từ và vần điệu, không “đua đòi” theo những cấu tứ lạ. Thứ giai điệu làm ma mị người đọc bởi nó đưa ta vào trạng thái của “thinh không”, “nhẹ bẫng” qua hệ thống thanh bằng của những chữ cuối mỗi khổ thơ trong một thi phẩm. Một giai điệu nhẹ nhàng như điệu slow cất lên từ tâm hồn thi sĩ họ Ngô, và nó cũng gieo vào một nỗi niềm ngàn thâu trong cuộc sống hiện thế. Một cái tôi trữ tình hiện lên đầy vẻ thanh thản và chấp nhận với sự lựa chọn an yên. Hay nói cách khác, đó là sự thách thức mà ta phải vượt qua. Đó là quá trình chuyển hóa tâm hồn. Là kết quả của những xung đột, đối lập gay gắt trong nội giới nhà thơ. Thứ giai điệu chỉ có thể xuất hiện từ một hồn thơ giàu sự chiêm nghiệm và nhân văn. Chất nữ tính ấy vẹn nguyên trong từng câu thơ con chữ. Nhân vật trữ tình có khi liễu ngộ chân lí cuộc đời sau chặng dài trống vắng, đơn côi: “đi đến/ dăm ba lần hạnh ngộ/ bốn ngày đâu đó cả cuộc đời/ ràng buộc có khi là thòng lọng/ ung dung thanh thản giữa mây trời// lui một nhịp/ hình như mình đang tiến/ thênh thang dài rộng mỗi cung đường/ Vân không nhẹ bẫng vầng mây ấm/ dịu trôi đôi ước vọng tinh khôi.” (Thinh không nhẹ bẫng vầng mây). Có khi lại, kệ, cho qua những tháng ngày đen bạc, ngả nghiêng để chọn một lối cho riêng mình: “tháng sáu nhoẻn một nụ cười/ hây hây má thắm môi tươi tóc mềm/ mừng em nhẹ gót chân êm/ ngày em tỏa rạng những thềm cỏ hoa” (Ngày em), hay đi qua rồi “những bấp bênh lênh đênh sóng nước” để tìm về với “gót hài nhẹ bước thênh thang…” (Cánh đồng tôi). Thái độ và sự lựa chọn ấy còn hiện diện trùm khắp trong nhiều thi phẩm như: “Tôi hành khất giữa miền tĩnh lặng” (Tôi đã vắng tôi), “chỉ có đêm sâu nương náu vỗ về” (Lạc giữa nhân gian), “vuông sân nhỏ/ với bóng mình thầm thĩ” (Đời mấy bận), “em lặng thầm phả vào tháng sáu/ chút nhẹ nhàng/ chút bình thản/ chút an nhiên…” (Tháng sáu), “sau tháng ngày xám đục/ chỉ có những chồi non vừa nhú/ hát những lời bình yên/ xa xa, hoa cỏ rất hiền.” (Xa xa hoa cỏ rất hiền)…

3. Một thi giới trôi dần về huyền mộng

Hành trình sáng tạo của người nghệ sĩ thường gắn liền với hữu thức lẫn vô thức (xét ở bình diện nội dung hoặc thi pháp). Nói như C. G. Jung: “Mỗi tác phẩm văn học như một giấc mơ nhỏ của mỗi nhà văn” [2, tr.482]. Vì thế, dẫu nữ sĩ có vô tình hay hữu ý thì những vết tích tối cổ (từ dùng của S. Freud) [1, tr.85], vô thức tập thể, ảnh tượng mộng mơ cũng sẽ hiện diện trên trang thơ ấy qua những biểu tượng, những tình cảm thiêng liêng và điển hình (tình yêu nam nữ, tình mẫu tử, tình đồng loại), bản năng, những chiêm mộng, mơ tưởng, motif (ý tượng),… Cho nên, nhà thơ Ngô Thanh Vân đã xây nên một thi giới giàu hình ảnh liên tưởng, đầy chiều sâu thẩm mĩ, đem đến sự nồng nàn và day dứt, vừa chất chứa hiện thực vừa khoác lên vẻ huyền thoại. Trong Lạc giữa nhân gian, Lạc hiện lên với motif (ý tượng) mang đậm dáng dấp của tầng sâu vô thức, đó là cách nhìn nhận thế giới cổ sơ được tái sinh trong đời sống hiện đại. Cảm thức cái tôi lạc trôi giữa ba ngàn thế giới từ muôn kiếp trước, lặn hụp trong cuộc sống tựa phù du, vô thường kia. Chúng vốn được ghi lại từ nhiều kinh sách của một số tôn giáo trên thế giới. Đó chính là motif luân hồi thường bắt gặp trong các huyền tích, huyền sử: “Ta lạc giữa nhân gian từ kiếp trước/ nên long đong lận đận mãi đến giờ/ tìm một lối cho riêng mình đâu dễ/ giữa biển đời ai biết được nông sâu”, “Ta lạc chốn nhân gian này. Vô nghĩa/ sáng trưa ngồi đếm bụi hồng trần/ may sao còn dăm lời tri kỉ/ nương nhau cho hết cuộc mưu sinh…”, và “nghe hơi đất vỡ. Thẫn thờ/ thì ra lạc giữa lơ ngơ kiếp này…”. Hay, từ xa xưa, thiên nhiên được xem như là một người bạn chí tình, chí nghĩa. Gần thiên nhiên, ta trút bỏ mọi muộn phiền, u ẩn. Bên thiên nhiên, ta vơi bớt gánh nặng cuộc đời dâu bể. Trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn (Khổng Tử), nghĩa là: Người trí vui với sông nước, còn người nhân đức vui thích núi non. Motif đó được quay về hồn nhiên, mang tính bản năng, xúc động muôn phần trong Xa xa hoa cỏ rất hiền: “sợ những nụ cười ẩn dụ/ sau lần em vấp ngã dúi dùi/ ai cho em niềm tin/ rằng bầu trời sẽ trong xanh// sau tháng ngày xám đục/ chỉ có những chồi non vừa nhú/ hát những lời bình yên/ xa xa, hoa cỏ rất hiền.”. Những hình ảnh mơ mộng về nghệ thuật (G. Bachelard) cũng góp phần quan trọng trong việc giải mã bản thể văn chương ở tầng sâu vô thức. Những giá trị cơ bản mà một tác phẩm có thể mang lại: tính xúc cảm, chất huyễn tưởng, sự cứu chuộc khả thi (H. Marcuse). Đó là những giấc mơ hạnh ngộ luyến ái, tương phùng: “Trên những tầng mây/ chập chờn giấc mơ Ô Thước” (Trên những tầng mây), “thơm nồng cả giấc mơ yêu” (Khúc du thường), “Ánh nguyệt rằm mơ ước mộng lai sinh” (Lời của phố). Có khi lại là những giấc mơ về sự lạc lõng, vô định giữa ngàn năm triệu kiếp, hay trước cõi đời bất ổn, bất an: “giấc mơ cô độc” (Viết từ tầng 17), “cánh chim chiều rạc giữa thinh không/ thèm một tiếng gọi đàn/ giữa tứ bề rợn ngợp…” (Cô đơn trên đỉnh sương mờ), “còn em/ kẻ mộng du/ hành khất cuộc đời mình” (Sóng lòng), “từ vô lượng kiếp lạc nhau đến giờ…” (Nợ), “con cua con cá giữa đồng/ cũng ngoi ngóp gánh oi nồng chát chao/ nửa khuya bỗng giấc chiêm bao/ đầu trần chân đất nhảy ào xuống sông” (Lạc). Cảm thức phi nhân hóa trong cái tôi trữ tình. Nó hiện diện trở lại trong văn học nghệ thuật đương đại, và mang tính đặc trưng. Đây là kết quả của những phản ứng/vệ vô thức từ/do những xung năng ẩn tàng để giúp “giải phóng trong ta tất cả những sức mạnh cứu vớt vốn từ xưa đã giúp cho loài người tránh thoát được mọi tai họa và thậm chí nén chịu được qua cái đêm dài nhất” [9]. Cái tôi trữ tình kia trong thi giới Ngô Thanh Vân hóa thành muôn hình vạn trạng, là: đóa mây (Ngày em), cánh đồng (Cánh đồng tôi, Sót một mùa thương nhớ cũng rời đi), rong rêu (Tôi đã vắng tôi), hoa cỏ, thuyền (Lạc giữa nhân gian), loa kèn muốt trắng tinh khôi (Nói gì với tháng tư), ngọn cỏ (Rỗng 2), cánh chim (Cô đơn trên đỉnh sương mờ), lá (Má hồng 3), đám mây (Lời hát những đám mây), quỳnh (Lời quỳnh).

Có thể nói, đọc thơ Ngô Thanh Vân, chúng ta như bắt gặp những giao điểm tương ngộ giữa cái tôi trữ tình với người cảm nghiệm qua thi giới ấy, giữa ảo ảnh và hiện thực (từ dùng của Ch. Caudwell), thế giới bên trong và thế giới bên ngoài [3, tr.70]. Nó làm nên giá trị biểu cảm đặc sắc của một tác phẩm văn chương. Bởi nó được nói bằng: “một thứ ngôn ngữ duy nhất, đó là ngôn ngữ của chính cái thế giới bên trong, ngôn ngữ của sự cảm xúc và biểu cảm” [3, tr.71-72]. Nó “bao giờ cũng được đánh dấu bởi cường độ cảm xúc đặc biệt” [9]. Để rồi, chúng ta không khỏi ngỡ ngàng những tầng nghĩa toát lên từ các hình tượng/biểu tượng/motif đan cài, lồng ghép vào nhau để thành nên một bức tranh sống động về cuộc sống.

 ĐỖ VĂN MINH

—————————————–

Tài liệu tham khảo:

  1. Nhiều tác giả (2013), Sông Hương: nghiên cứu, lý luận và phê bình, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế.
  2. Nhiều tác giả (2024), Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Văn học miền Trung nửa sau thế kỷ XX, Nhà xuất bản Đại học Huế, Huế.
  3. Trương Đăng Dung (2018), Phản ánh nghệ thuật trong mỹ học của Lukács Gyorgy, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  4. Đỗ Văn Minh (2025), Diễn ngôn cùng tri âm (Tập nghiên cứu – phê bình), Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội.
  5. Ngô Thanh Vân (2025), Vân không (Tập thơ), Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội.
  6. Hồng Nhung (15/02/2025), Chủ nghĩa hiện sinh thời AI, https://vnexpress.net/chu-nghia-hien-sinh-thoi-ai-4847854.html
  7. Nguyễn Phú (15/01/2021), Ngô Thanh Vân: Đã dịu trầm buồn vui trong màu mắt, https://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/Ngo-Thanh-Van-Da-diu-tram-buon-vui-trong-mau-mat-i594526/
  8. Lê Thuỵ Tường Vi (03/02/2012), Tính chất bước ngoặt của chủ nghĩa siêu thực, http://www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/ly-luan-va-phe-binh-van-hoc/2866-tinh-cht-bc-ngot-ca-ch-ngha-sieu-thc.html
  9. Nguyễn Thị Thanh Xuân (22 /01/2009), Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam, http://www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/ly-luan-va-phe-binh-van-hoc/122-i-tim-c-mu-trong-vn-hc-vit-nam.html

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *