Qua cầu – Tản văn của Trương Văn Tuấn

Vanvn- Cây cầu bắt qua rạch là dạng cầu gỗ, ván lót lưa thưa dư sức lọt bàn chân, thậm chí cả thân người những đứa trẻ như tôi.

Nhà văn Trương Văn Tuấn (Vĩnh Long)

Cái háo hức được đi xa, hoặc tự ái vì bị ngăn cấm, thôi thúc tôi tìm cách tự đi, hoặc tự bò qua cầu.

Những năm 1990, cuối đường vào nhà tôi có cây cầu dừa bắt ngang con mương rộng chừng sáu mét. Cây cầu dừa đó có thể xem – tính theo kí ức của một người – là ranh giới không gian đầu đời mà tôi phải vượt qua.

Tôi khóc lóc muốn chạy theo mẹ để được đi chợ sáng, nhưng ra đến cầu dừa thì đành đứng bên này “đại dương” nhìn mẹ khuất dần bên kia. Mẹ đi chợ về, con chó mực còn thể chạy ra tận lộ lớn để vẫy đuôi, chứ tôi vẫn phải ở bên này mương nôn nao mong mẹ bước nhanh lên, nhanh lên. Lỡ có hàng xóm nào bước ra hỏi: chị hai đi chợ mua gì, mẹ tôi đứng lại phản hồi vài câu là tôi càng tức tối vì phải nhìn mẹ từ xa chứ chưa được níu cái giỏ nhựa trên tay mẹ xuống để lục lọi quà bánh.

Muốn đi chơi, tôi cũng phải chờ các anh lớn ra vận chuyển mình qua bên kia mương. Được cầm đèn dầu, cầm chén qua nhà hàng xóm xin lửa, xin mỡ heo về chiên cá cũng phải đợi ba ra dẫn qua cầu rồi dẫn trở về mới có thể suôn sẻ góp công vào buổi cơm chiều.

Cái háo hức được đi xa, hoặc tự ái vì bị ngăn cấm, thôi thúc tôi tìm cách tự đi, hoặc tự bò qua cầu. Tôi nhớ không ít lần mình ra đến giữa cầu thì sợ quắn quéo, tới nữa thì không dám mà quay đầu thì không được, cứ đứng líu ríu cứng đơ đó, khóc thét lên chờ người nhà ra giải cứu. Với người lớn khi ấy thì đúng là giải cứu thật: Để một đứa bé té xuống mương nước lớn hoặc úp mặt xuống sình thì quá nguy hiểm.

Còn với tôi, tôi sợ cái gọi là té nín thở. Không phải tự nhiên mà ông bà mình mô tả những đau đớn thể xác bằng cụm từ nín thở: đau muốn nín thở, đấm một cái nín thở, té cái nín thở luôn bây ơi… Cầu dừa đã tròn, vào mùa mưa thì lại càng trơn do dính bùn đất ướt – hồi ấy đại đa số còn đi chân trần chân đất, đường thì ướt sình, cứ thế mà họ mang theo rồi quệt lên bôi trơn cho các loại cầu dừa, cầu tre. Đứa con nít như tôi, trượt một phát sẽ nghe rõ tiếng “bụp”, đập bụng, đập ngực lên thân cầu. Ôi, thật sự là té nín thở! Không thể thở nổi. Phải chờ rất lâu mới hết đau, mới thở lại bình thường, ngỡ như đã dập hết ruột gan. À, và cả dập mật nữa! Dù tôi chưa biết mật người ra sao, tôi chỉ thấy người lớn làm gà, vịt thì ngắt cái mật nhỏ nhỏ, xanh đen vứt xuống ao cá kiểu rất chê, rất xa lánh.

Cả cái kiểu té ngồi chàng hảng trên cầu dừa nữa, đáng sợ vô cùng. Khi ấy người lớn chạy ra xách mình lên, lo lắng nhưng cũng cười hô hố. Người lớn xúm vô coi cái cần coi, rồi kêu ngửa cổ lên để vuốt vuốt cho cái gì đó chạy xuống. Lớn lên tôi mới hiểu: nếu chấn động quá thì tan nát chứ làm gì nó chạy lên cổ luôn như ông bà xưa hay nói. Cái kiểu té chàng hảng này cũng rất… nín thở và rất khỏ tả. Thời gian chờ đợi để bình tâm, bình tĩnh lại cũng phải gần mười phút: cơn đau kéo đến – cơn đau lên đỉnh điểm, trời đất tối sầm, không thở nổi – rồi cơn đau dịu dần.

Tôi không nhớ rõ đến mấy tuổi thì tôi hoàn toàn chiến thắng cây cầu dừa trước nhà. Tôi chỉ nhớ khi anh chị tôi có những chiếc xe đạp để đi học, thì ba tôi bắt những cây cầu đừa song đôi, lót gỗ lên trên, để vừa đi qua cầu vừa kè theo chiếc xe đạp bên hông, đặt bánh trước của xe lên cầu, coi như vừa rinh vừa dắt qua mương. Ủa? Sao từ đầu người lớn không làm vậy đi! Do tư duy đơn giản hay do hồi đó quy định nhà nghèo thì cái cầu cũng phải đơn chiếc theo? Rồi sau này nữa, khi hàng xóm đã chịu mở mương hướng khác để dẫn nước thì nhà tôi đã hàn cái mương trước nhà lại để thành đường đất mà không sợ ảnh hưởng đến ai. Chỗ hàn ngang đó chỉ rộng hơn một mét, nhưng có lối đi kiên cố tự dưng tôi thấy nhà mình giàu sang, phú quý lên hẳn.

Cũng còn một cây cầu đáng sợ nữa, đó là “cây cầu về nhà nội”. Nhà nội tôi ở An Định – Mỏ Cày xưa. Những lần về nội đúng khi nước lớn thì ghe máy đuôi tôm nhà tôi có thể chạy vào sâu bên trong rạch, kề ngay nhà nội. Những khi nước cạn, phải gửi ghe máy ở bến chợ, từ chợ đi qua một cây cầu gỗ, rồi đi theo con đường nhỏ dọc con rạch đã cạn nước gần một cây số thì tới nhà nội. Nói là nhà nội vậy thôi, chứ ông bà đã mất từ lâu, khi tôi chưa chào đời, giờ chỉ còn cô chú sống ở đấy để trông coi, cúng giỗ.

Cây cầu bắt qua rạch là dạng cầu gỗ, ván lót lưa thưa dư sức lọt bàn chân, thậm chí cả thân người những đứa trẻ như tôi. Cầu cố tình làm cong vút lên để ghe xuồng bên dưới qua được nên khi nhìn từ trên xuống càng thấy đáng sợ, bên dưới nước ròng chảy cuồn cuộn, đục ngầu, làm rung rinh cả những trụ gỗ. Ba mẹ tôi thì thích đi đường bộ này lắm để ghé vô chợ, mua thịt heo mang vào làm giỗ ông bà, mua món bánh ngon hồi xưa hay ăn mà giờ bên nhà tôi không có, và để chào hỏi những người quen cũ nữa. “Thằng này là hồi tản cư chị đỡ đẻ cho em nè… Này là chồng con ba, hồi đám cưới nó, đúng lúc chị bệnh, rêm mình quá không qua được á… Thằng này (tôi), là út, thứ tám”. Cũng có người, mẹ tôi xởi lởi chào xong khi quay đi thì chuyển sang hậm hực: “Con mẹ này hồi trước mê ba mày, chắc tới giờ còn thèm. Gặp tao không hỏi, chỉ hỏi ổng thôi”.

Riêng tôi thì sợ cái hướng đi này lắm: vì phải qua cầu. Tôi cũng từng uất ức nghĩ sao ông bà cố, ông bà nội, toàn mất vào mùa mưa. Giờ đứa trẻ sáu bảy tuổi qua cầu về quê mà cứ tưởng tượng ra đây là địa ngục: bên trên âm u, mưa lâm râm, ván trơn trượt, lởm chởm chỗ có chỗ không, bên dưới nước chảy cuồn cuộn, ngầu đục. Nhiều năm liền đều có chung cái cảnh: tôi khóc lóc hoặc run rẩy nhắm mắt, người lớn thì cõng hoặc bế, hoặc cầm vào nách rinh tôi qua cầu.

Những cây cầu bê – tông của hiện tại đã thay cho cầu dừa, cầu khỉ xưa của miền Tây

Nhưng lúc nhỏ cũng có một cây cầu làm tôi say mê. Đấy là khi tôi học tiểu học, dọc đường đi, chẳng biết là nhà ai nữa, nhưng trước nhà đấy có cây cần dẫn lối, như nhà tôi vậy. Mỗi chiều tan học đi ngang tôi hay thấy dưới chân cầu có bầy vịt màu trắng tinh nghịch vừa rỉa lông, vừa lội ngược dòng nước. Thơ mộng làm sao! Nhà ấy cũng có đứa con gái tầm tuổi tôi. Lúc ấy tôi chưa hiểu sự đời, chỉ đủ hiểu mình là trai cô bé ấy là gái, sau này làm đám cưới, sẽ nắm tay đi qua cầu đó, bên dưới có vịt lội, nước trong xanh chảy êm êm. Rồi ông thợ chụp hình chụp cho album ảnh cưới thiệt đẹp ai xem cũng trầm trồ. Mà nhà cô bé đó cũng đẹp, vách gỗ, sơn xanh – hồi ấy nhà như thế là giàu lắm – nên cây cầu tự nhiên cũng đẹp, cũng nên thơ theo.

Hồi những năm 2000, chúng ta xem ti vi chiếu cảnh khánh thành những cây cầu giây văng, cầu treo dây võng, được xem là hiện đại và dài nhất Việt Nam lúc bấy giờ, mà xúc động chung và ao ước tỉnh mình cũng có. Nay thì tỉnh nào cũng có những cây cầu hiện đại và độc đáo rồi nhỉ. Thậm chí những cây cầu còn song đôi, bộ tam, bộ tứ, trên cùng một khúc sông.

Giờ tôi ra đường, nhiều bạn trẻ đã gọi là chú, nên chuyện sợ cầu chỉ còn là kỉ niệm thôi. Đi vào vùng sâu, vào các khu vườn, đứng trước cầu dừa, cầu tre mảnh khảnh, cũ mục thì tôi tự biết dò dẫm trước xem bước lên có an toàn không. Khi có dịp qua những cây cầu hiện đại, dài rộng thì mình cứ tranh thủ nhìn ngắm cảnh đẹp của sông, của cả đôi bờ.

Thi thoảng thì tôi nhớ về bài học cũ, cầu lớn hay cầu nhỏ gì cũng thế, chắc qua được thì hẳn qua. Bờ bên này hay bờ bên kia cũng là bờ, đi qua hay đi lại đều có chuyện té dập mật, té nín thở. Chỉ là bên kia có gì, đáng hay không thôi.

TRƯƠNG VĂN TUẤN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *