Người Việt sợ nói về tình dục nhưng luôn tò mò, cuốn hút với ‘dâm thư’

Vanvn- Suốt 10 thế kỷ, Nho giáo dựng lên hàng loạt rào cản quanh chuyện tình dục ở Việt Nam. Phía sau những giới luật ấy, “dâm thư” vẫn tồn tại, phản ánh sự tò mò và bản năng con người.

Cuốn Văn hóa tính dục ở Việt Nam từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX

Thời Hậu Lê, nam nữ ngồi cạnh nhau vào ban đêm sẽ bị xử tội đồ. Đàn ông gặp người mẹ đang ẵm con mà đứng lại vuốt ve đứa con được xem là có ý thông gian, sẽ bị phạt đánh 100 trượng, lưu đày đi châu xa.

Triều Nguyễn cũng cấm phụ nữ bước vào các đền miếu, chùa chiền thắp hương vì xem đó là “khinh nhờn thần thánh”, “thương phong bại tục”. Nếu trái lệnh, chồng hoặc con trai người phụ nữ đó sẽ bị phạt đánh 40 roi, nếu người này không có chồng con thì phải tự chịu đòn. Sư sãi trong chùa để phụ nữ vào thắp hương cũng bị phạt tương tự.

Theo TS Phạm Văn Hưng viết trong cuốn Văn hóa tính dục ở Việt Nam từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX, ảnh hưởng của Nho giáo tới xã hội Việt Nam xưa đã hình thành quan niệm “phòng ngừa từ xa”, “nam nữ thụ thụ bất thân”, dẫn đến nhiều quy định khắt khe đối với phụ nữ và thái độ phòng ngừa nữ sắc trong xã hội.

Dù vậy, nhiều sản phẩm văn hóa như tranh vẽ, truyện liên quan đến tình dục vẫn xuất hiện trong văn học Việt Nam như biểu hiện của bản năng, sự tò mò nơi con người.

“Sản phẩm bất toàn” của xã hội nam quyền

Trên cơ sở nguyên lý “nam nữ thụ thụ bất thân”, các triều đại phong kiến Việt Nam đã cụ thể hóa thành những quy định ngăn ngừa va chạm xã hội giữa hai giới. Dưới triều Hậu Lê, các bộ luật như Quốc triều hình luật (luật Hồng Đức) hay Thiên Nam Dư Hạ tập đã bàn thảo và quy định rất chi tiết về vấn đề này.

Hồng Đức năm thứ 20 quy định: “Ban đêm, con trai con gái ngồi với nhau, dù chỉ trò chuyện, cũng xử tội đồ”; Hồng Đức thiện chính thư còn chép kỹ càng hơn về sự phòng xa: “Gặp gái đẹp mà mê đắm buông lời cợt nhã nhưng chưa cố ý thông dâm thì bị ghép vào tội chọc ghẹo”; “Vuốt ve đứa con, tỏ tình yêu mẹ nó là có ý thông gian thì xử đánh 100 trượng, lưu đầy đi châu xa”…

Bước sang triều Nguyễn, các biện pháp ngăn ngừa này không hề thuyên giảm mà còn có phần khắt khe hơn về mặt lý thuyết. Hoàng Việt luật lệ (luật Gia Long) năm 1813 quy định: “Nếu các nhà quan hoặc quân dân cho đàn bà con gái vào trong quán thần miếu đốt hương thì phạt đánh chồng hoặc con trai 40 roi” vì “đàn bà con gái vô cớ không được ra ngoài để tránh hiềm nghi vậy […] nếu đốt hương ở tự quán thần miếu không chỉ là khinh nhờn thần thánh mà còn làm thương phong bại tục”.

Văn hóa tính dục ở Việt Nam từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX nhận giải C Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII. Ảnh: Trần Hiền.

Sách gia huấn thời bấy giờ đưa ra một loạt những điều ngăn cấm khắt khe đối với người phụ nữ rằng khi ngồi chớ động chân, khi đi không được “đổ dẹo đổ nghiêng” và luôn phải tự giam mình sau những bức bình phong. Đây chính là biểu hiện của sự lan truyền phổ biến các giá trị Nho giáo vào sâu trong đời sống cộng đồng, biến người phụ nữ thành đối tượng chính của sự kiểm soát.

Theo TS Phạm Văn Hưng, giới hạn giữa nam và nữ trong luật lệ và gia huấn không chỉ có mục đích giữ gìn “phẩm hạnh” người con gái mà còn liên quan đến địa vị vị xem là “thấp kém” của người phụ nữ. Nguyên nhân là các vấn đề liên quan đến giải phẫu cơ thể, tâm sinh lý đặc thù của phụ nữ nhìn từ quan điểm nam quyền.

“Xét cho cùng, quan niệm ‘Nam nữ thụ thụ bất thân’, thái độ đối với nữ sắc về cơ bản lấy nam giới làm trung tâm, coi phụ nữ là rào cản trên con đường hành đạo, tu tập, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ của một xã hội nam quyền, và là nhìn từ chỗ đứng của nam giới”, TS Hưng nhận xét.

Theo ông, đây là “sản phẩm bất toàn” của một xã hội mà giới quý tộc nam giới có quyền “năm thê bảy thiếp” nhưng vẫn luôn rao giảng về lối sống “thanh tâm quả dục”. Việc thực hiện các giới luật này dường như không được tuân thủ nghiêm túc ngay từ những người đứng đầu bậc thang quyền lực.

Sự can thiệp của hệ thống pháp luật vào đời sống tính dục vốn là những quy ước được áp đặt từ trên xuống. Suốt nhiều thế kỷ, hệ thống này liên tục được bổ sung và hoàn thiện song song với sự vận động của kinh tế xã hội.

Tuy nhiên, những giới hạn mà luật pháp và gia huấn đặt ra không phải lúc nào cũng hợp tình hợp lý với bản chất con người. Chính từ những kẽ hở và sự kìm kẹp này, một dòng chảy văn hóa khác đã âm thầm nảy nở để phản ánh những khát khao bị che giấu.

“Dâm thư” như tiếng vang của một bản năng con người

“Bản năng tình dục là một ‘hành trang’ vắt vẻo trên vai con người suốt chiều dài lịch sử của nhân loại. Vì sự quan trọng cũng như sự ‘tế nhị’ của mình, bản năng tình dục in dấu ở khắp mọi nơi nhưng cũng bị che chắn, ngụy trang ở hầu hết nơi mà nó xuất đầu lộ diện”, TS Phạm Văn Hưng phân tích.

Trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại, những trang viết về đời sống tình dục thường bị coi là “dâm thư” nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh diện mạo tinh thần của người xưa. Những tác phẩm này đã vượt qua những chuẩn mực tính dục để phơi bày một thực tế khác của tâm hồn con người.

Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ được xem là đỉnh cao của những tác phẩm văn học về đề tài tính dục công khai. Trong đó, cặp nhân vật Nhị Khanh và Trình Trung Ngộ trong Chuyện cây gạo đã mang đến một góc nhìn táo bạo về sự hưởng lạc thân xác.

TS Phạm Văn Hưng cho rằng Truyền kỳ mạn lục là “đỉnh cao của văn học tình dục” Việt Nam thời trung đại. Ảnh: Nhã Nam, NXB Kim Đồng.

Nhị Khanh hiện lên là một giai nhân tuyệt sắc nhưng phóng khoáng, lấy thú vui ân ái làm mục đích sống. Nàng không ngần ngại kêu gọi: “Nay dám mong quân tử quạt hơi dương vào hang tối, thả khí nóng tới mầm khô, khiến cho tía rụng hồng rơi, được trộm bén xuân quang đôi chút, đời sống của thiếp như thế sẽ không phải phàn nàn gì nữa”.

Chuyện nghiệp oan của Đào Thị, Nguyễn Dữ miêu tả sự mê đắm say sưa về tình dục giữa Hàn Than và Vô Kỵ, nơi mà “cõi dục đã gần, máy thiền dễ chạm”. Trận mưa ân ái của họ khiến cho kinh kệ và chốn thanh tịnh của chùa chiền bị gạt sang một bên.

Đặc biệt, Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây còn đi xa hơn khi khắc họa chi tiết đời sống phòng the qua những lời văn đầy gợi hình như “tựa ngọc kề vàng, gối vừa vô đã khoát sóng đào nghiêng ngả”. Những miêu tả này cho thấy một sự thỏa mãn về mặt thể xác giữa các nhân vật.

Điều đáng chú ý là những trang “dâm thư” này thường đi kèm với những lời bình mang ý nghĩa “khuyến thiện trừng dâm” ở cuối truyện. Tuy nhiên, TS Phạm Văn Hưng cho rằng hàng rào pháp lý hay đạo đức đó dường như không ngăn nổi sự say sưa của độc giả đối với nội dung chính của tác phẩm tình dục. Những trang sách này vẫn sống một đời sống riêng, âm thầm chảy trong lòng xã hội bất chấp mọi lệnh cấm đoán hay ngăn cản từ các chính thể phong kiến.

Sức sống của dòng sách này cho thấy là nhu cầu thưởng thức văn học tình dục luôn hiện hữu, thậm chí còn lớn hơn cả những món ăn “tải đạo ngôn chí” đầy rẫy. Độc giả, mà đa phần là đàn ông, thường có thái độ lưỡng lự hoặc hai mặt khi vừa phê phán công khai vừa ngấm ngầm tìm đọc. Đó là thực tế của sáng tác và tiếp nhận văn học tình dục ở Việt Nam trung đại.

ĐỨC AN

Tạp Chí Tri Thức

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *